Tiểu luận - Quản lý tài nguyên môi trường
TIỂU LUẬN
Đề tài " sử dụng và bảo vệ tài
nguyên thiên nhiên"
1
1 Tuy n ể t p báo cáo ậ H iộ th o khoa ả h c l n th 10 - Vi n KH KTTV &ọ ầ ứ ệ
Tiểu luận - Quản lý tài nguyên môi trường
MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ................................................................................3
NỘI DUNG....................................................................................5
I. Tài nguyên (resources)............................................................5
1.1. Khái niệm tài nguyên...........................................................5
1.2. Khái niệm tài nguyên thiên nhiên.......................................5
1.3. Phân loại tài nguyên.............................................................5
II. Tình hình sử dụng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên..........6
2.1. Sử dụng và bảo vệ tài nguyên sinh học............................6
2.1.1. Tài nguyên sinh học...........................................................6
2.1.2. Khai thác và bảo vệ tài nguyên sinh học.......................8
2.2. Sử dụng và bảo vệ tài nguyên rừng...................................8
2.2.1. Tài nguyên rừng..................................................................8
2.2.2. Sử dụng và bảo vệ tài nguyên rừng...............................13
2.3. Sử dụng và bảo vệ tài nguyên đất....................................16
2.3.1. Tài nguyên đất...................................................................16
2.3.2. Sử dụng và bảo vệ tài nguyên đất..................................16
2.4. Sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước................................18
2.4.1. Tài nguyên nước...............................................................18
2.4.2. Khai thác và sử dụng tài nguyên nước.........................19
2.4.3. Các hoạt động quản lý tài nguyên nước.......................21
2.5. Sử dụng và bảo vệ tài nguyên khoáng sản..............................23
2.5.1. Khái niệm về khoáng sản và phân loại..........................23
2.5.2. Các loại khoáng sản chính ở Việt Nam..........................24
Quan niệm trước đây cho rằng, môi trường là những yếu tố bao quanh
và tác động lên con ngừời (cá thể hay cộng đồng) và sinh vật, cách nhìn nhận
này làm cho người ta dễ ngộ nhận rằng mối quan hệ giữa con người và môi
trường là mối quan hệ một chiều: môi trường tác động tới con người và con
người là một trung tâm tiếp nhận những tác động đó. Thực ra, mỗi con người
lại là một tác nhân tác động tới các yếu tố chính trong môi trường mà nó đang
tồn tại.
Trong những năm gần đây, người ta có cái nhìn toàn diện hơn về mối
quan hệ giữa con người và môi trường. Con người sống trong môi trường
không phải chỉ để tồn tại như một sinh vật mà con người là một sinh vật đặc
biệt biết tư duy, nhận thức được môi trường và biết tác động ngược lại các
yếu tố môi trường để cùng tồn tại và phát triển. Con người sống trong môi
trường không phải chỉ như một như một sinh vật, một bộ phận sinh học trong
môi trường mà còn là một cá thể trong cộng đồng xã hội con người. Con
người ở đây vừa có ý nghĩa sinh học vừa có ý nghĩa xã hội học. Chính vì vậy,
những vấn đề môi trường không thể giải quyêt bằng các biện pháp lý - hoá -
sinh, kỹ thuật học, mà còn phải được xem xét và giải quyết dưới các góc độ
khác nhau như kinh tế học, pháp luật, địa lý, kinh tế - xã hội.
Để tồn tại và phát triển kinh tế - xã hội, con người khai thác tài nguyên
môi trường để phục vụ cuộc sống, các nguồn tài nguyên được khai thác và
sử dụng trên quy mô rộng trong tất cả các ngành nghề để tạo công ăn việc
làm. Những tác động của các hoạt động sản xuất và tiêu dùng, đặc biệt là tác
động của các ngành công nghiệp không nhỏ đối với môi trường. cùng với đà
tăng dân số mãnh liệt, tài nguyên môi trường bị khai thác triệt để, tuỳ tiện
đang trở nên cạn kiệt đến mức mức báo động làm thế cân bằng sinh thái bị vi
phạm nghiêm trọng trên diện rộng, trên toàn thế giới. Tài nguyên thiên nhiên
bị suy thoái ngày càng trầm trọng về số lượng và chất lượng, môi trường ô
nhiễm, dịch bệnh xảy ra trên quy mô lớn, chất lượng cuộc sống con người bị
đe doạ…
Công tác quản lí môi trường của nước ta còn nhiều bất cập, hạn chế .
tại trong tự nhiên mà con người có thể sử dụng để đáp ứng nhu cầu trong
cuộc sống.
1.3. Phân loại tài nguyên
Người ta phân loại tài nguyên như sau:
Theo quan hệ với con người: Tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên xã hội.
Theo phương thức và khả năng tái tạo: Tài nguyên tái tạo, tài nguyên
không tái tạo.
Theo bản chất tự nhiên: Tài nguyên nước, tài nguyên đất, tài nguyên
rừng, tài nguyên biển, tài nguyên khoáng sản, tài nguyên năng lượng, tài
nguyên khí hậu cảnh quan, di sản văn hoá kiến trúc, tri thức khoa học và
thông tin.
Tài nguyên thiên nhiên được chia thành hai loại: tài nguyên tái tạo và tài
nguyên không tái tạo.
Tài nguyên tái tạo (nước ngọt, đất, sinh vật v.v...) là tài nguyên có thể tự
duy trì hoặc tự bổ sung một cách liên tục khi được quản lý một cách hợp lý.
Tuy nhiên, nếu sử dụng không hợp lý, tài nguyên tái tạo có thể bị suy thoái
không thể tái tạo được. Ví dụ: tài nguyên nước có thể bị ô nhiễm, tài nguyên
đất có thể bị mặn hoá, bạc màu, xói mòn v.v...
Tài nguyên không tái tạo: là loại tài nguyên tồn tại hữu hạn, sẽ mất đi
hoặc biến đổi sau quá trình sử dụng. Ví dụ như tài nguyên khoáng sản của
6
6 Tuy n ể t p báo cáo ậ H iộ th o khoa ả h c l n th 10 - Vi n KH KTTV &ọ ầ ứ ệ
Tiểu luận - Quản lý tài nguyên môi trường
một mỏ có thể cạn kiệt sau khi khai thác. Tài nguyên gen di truyền có thể mất
đi cùng với sự tiêu diệt của các loài sinh vật quý hiếm.
Tài nguyên con người (tài nguyên xã hội) là một dạng tài nguyên tái tạo
đặc biệt, thể hiện bởi sức lao động chân tay và trí óc, khả năng tổ chức và
chế độ xã hội, tập quán, tín ngưỡng của các cộng đồng người.
Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật đang làm thay đổi giá trị
của nhiều loại tài nguyên. Nhiều tài nguyên cạn kiệt trở nên quý hiếm; nhiều
7
7 Tuy n ể t p báo cáo ậ H iộ th o khoa ả h c l n th 10 - Vi n KH KTTV &ọ ầ ứ ệ
Tiểu luận - Quản lý tài nguyên môi trường
gồm khoảng 10.084 loài thực vật bậc cao có mạch, khoảng 800 loài rêu và
600 loài nấm, trong đó có tới 2.300 loài đã được nhân dân sử dụng làm lương
thực, thực phẩm, dược phẩm, làm thức ăn gia súc, lấy gỗ, tinh dầu, các
nguyên vật liệu khác hay làm củi đun.
Hệ thực vật Việt Nam có độ đặc hữu
cao. Phần lớn số loài đặc hữu này (10%)
tập trung ở bốn khu vực chính: khu vực núi
cao Hoàng Liên Sơn ở phía Bắc, khu vực
núi cao Ngọc Linh ở miền Trung, cao
nguyên Lâm Viên ở phía Nam và khu vực
rừng mưa ở Bắc Trung Bộ.
Tình trạng hiện nay của một số loài
gỗ quí như Gõ đỏ, Gụ mật, nhiều loài cây
làm thuốc như Hoàng Liên chân gà, Ba
kích,...
8
8 Tuy n ể t p báo cáo ậ H iộ th o khoa ả h c l n th 10 - Vi n KH KTTV &ọ ầ ứ ệ
Hình 2.1. Sao la
Pseudoryx nghetinhensis
Thậm chí có nhiều loài đã trở nên rất hiếm hay
có nguy cơ tuyệt chủng như Hoàng đàn, Cẩm lai, Pơ mu,...
Khu hệ động vật cũng hết sức
phong phú. Hiện đã thống kê được
275 loài và phân loài thú, 828 loài
chim, 180 loài bò sát, 80 loài ếch
nhái, khoảng 500 loài cá nước ngọt
và 2.000 loài cá biển và hàng vạn loài
- Sự khai thác quá mức
- Tình trạng ô nhiễm môi trường nước, nhất là vùng cửa sông, ven
biển.
Các biện pháp bảo vệ tài nguyên sinh học
Hình 2.2. Tê giác
Rhinoceros sondaicus annamiticus
B ng 2.2ả S a d ng th nh ph n lo i v s suy gi m s l ng lo i th c v t, ngự đ ạ à ầ à à ự ả ố ượ à ự ậ độ
v tậ
+ Ban hành “Sách đỏ Việt Nam, Quy định khai thác và bảo vệ tài
nguyên sinh học, sử dụng và bảo vệ tài nguyên đất hợp lý
Bảo vệ đa dạng sinh vật:
+ Xây dựng và mở rộng hệ thống vườn quốc gia và các khu bảo tồn
thiên nhiên. Năm 1986 cả nước có 87 khu với 7 vườn quốc gia. Đến năm
2007 cả nước có 30 vườn quốc gia, 65 khu dự trữ thiên nhiên và bảo tồn loài
- sinh cảnh, 6 khu được UNECO công nhận là khu dự trữ sinh quyển của thế
giới. Ban hành "Sách đỏ Việt Nam": Để bảo vệ nguồn gen động - thực vật quí
hiếm khỏi nguy cơ tuyệt chủng, đã có 360 loài thực vật và 350 loài động vật
thuộc loại quí hiếm được đưa vào "Sách đỏ Việt Nam". Trong "Sách đỏ Việt
Nam" cũng đã qui định danh sách 38 loài cá nước ngọt và 37 loài cá biển, 59
loài động vật không xương sống cần được bảo vệ.
+ Để đảm bảo sử dụng lâu dài các nguồn lợi sinh vật, Nhà nước đã ban
hành các qui định trong khai thác: Cấm khai thác gỗ quí, khai thác gỗ trong
rừng cấm, rừng non, gây cháy rừng; Cấm săn bắn động vật trái phép; Cấm
dùng chất nổ đánh bắt cá và các dụng cụ đánh bắt cá con, cá bột; Cấm gây
độc hại cho môi trường nước
2.2. Sử dụng và bảo vệ tài nguyên rừng
2.2.1. Tài nguyên rừng
Rừng là thành phần quan trọng nhất của sinh quyển và có ý nghĩa lớn
trong việc phát triển KT-XH…
Theo quan điểm học thuyết sinh thái học, rừng được xem là HST điển
số thế giới sống trong các quốc gia đó hầu hết là ở Braxil và Liên Xô cũ. Trái
lại ¾ dân số thế giới sống trong các quốc gia có diện tích rừng trên đầu người
nhỏ hơn 0,5 ha, phần lớn ở các quốc gia có dân số đông như ở Châu Á và
Châu Âu (Nguồn FRA 2000).
Hiện nay rừng nhiệt đới chỉ còn khoảng 50% diện tích so với trước
đây . Đất rừng giảm tới 38%, từ 115 xuống còn 71 triệu ha. Rừng ở Châu Phi
giảm 23%, từ 901 triệu ha xuống còn 690 triệu ha trong khoảng thời gian từ
1950 đến 1983.
Theo FRA 2000 (Forest Resources Assessment 2000) có khoảng 178
triệu ha rừng trồng chiếm 5% diện tích rừng thế giới. Châu Á chiếm tỷ lệ lớn
nhất với 62% rừng trồng thế giới. 10 quốc gia chiếm tỷ lệ lớn nhất về rừng
trồng thế giới là Trung Quốc, Ấn Độ, Liên Bang Nga, Mỹ, Nhật Bản, Indonesia,
Brazil, Thái Lan, Ukraina và Cộng Hoà Iran (chiếm khoảng 80%). Các quốc
gia còn lại chiếm khoảng 20%.
2.2.1.2. Tài nguyên rừng ở Việt Nam
Nằm trong vùng thuộc khu hệ rừng mưa nhiệt đới, rừng nước ta nổi
tiếng về tài nguyên gỗ, nhất là đặc sản có giá trị. Tuy nhiên, Việt Nam cũng có
tình trạng chung như những nước đang phát triển khác, diện tích rừng bị thu
hẹp nhanh chóng. Theo bản đồ rừng của Maurand vào năm 1945 thì nước ta
có 14,352 triệu ha rừng, chiếm tỷ lệ 43,8% so với diện tích tự nhiên.
Theo số liệu điều tra của viện qui hoạch rừng thì đến năm 1975 còn 9,5
triệu ha rừng, chiếm 29,1% diện tích tự nhiên, đến năm 1981 còn 7,4 triệu,
chiếm 24%, đến năm 1989 có 9,3 triệu, trong đó có những rừng mới trồng.
Bảng 2.4 Diện tích rừng so với diện tích đất tự nhiên ở Việt Nam
STT Khu vực Diện tích đất tự
nhiên (1000 ha)
Diện tích rừng
(1000 ha)
Tỷ lệ % diện tích
rừng/đất tự nhiên
sinh trưởng chậm.
Trên sườn dốc, nơi có tầng đất sâu hơn hoặc có nước tương đối thuận
lợi hơn, nhất là ở vùng đất đỏ bazalt và ven sông suối thường xuất hiện rừng
khộp giàu có, thành phần loài phong phú, cây mọc dầy thành nhiều tầng xanh
tươi, cho nhiều gỗ cứng, gỗ quí với kích thước lớn như : Giáng hương, Trắc,
Cẩm lai, Gụ, Mun... và nhiều loài gỗ Sao, Dầu.
Rừng khộp là nơi tập trung của nhiều loài thú nổi tiếng vùng Châu Á
như: Hươu, Nai, Voi, Khỉ, Vượn... trong đó có các loài thú quí hiếm của thế
giới như Bò xám Cuprey, Tê Giác.
Rừng khộp nghèo để tạo thành đồng cỏ chăn nuôi. Đất rừng khộp giàu
để phát triển cây công nghiệp, cây lương thực và cây ăn trái... Ở rừng này,
người ta thường áp dụng lối canh tác nông lâm kết hợp.
*. Rừng lá kim
Ở các vùng cao trên 1000 m ở phía Nam thích hợp với các loài thực vật
lá kim (Tùng, Bách, Thông 2 lá, Thông 3 lá) đã tạo nên những cánh rừng bạt
ngàn trên cao nguyên Lâm Đồng. Tùy theo độ cao và chế độ ẩm cụ thể mà
rừng thông có thể xen lẫn với cây lá rộng của rừng Khộp hoặc của rừng
thường xanh Á nhiệt đới.
Rừng thông ở đây cung cấp gỗ xây dựng, gỗ gia dụng, làm bột giấy.
Nhựa thông dùng để chế biến colofan, dầu thông, nhiều loại hóa chất khác
nhau là những mặt hàng xuất khẩu có giá trị cao. Ở dưới tán rừng thông hoặc
xen kẻ với cây công nghiệp, cây thuốc, cây ăn trái hoặc các đồng cỏ chăn
nuôi.
Ở các vùng cao trên 1500 m thuộc dãy núi Hoàng Liên Sơn cũng có
rừng lá kim, nhưng khu vực nhỏ hơn, thường gặp là thông, Pơmu là loại quí.
*. Rừng thường xanh lá rộng Á nhiệt đới
Thường gặp ở các vùng núi cao trên 800 m ở phía Bắc, phần lớn gồm
các cây hiện diện thuộc họ Dẻ (Fagaceae), họ Long Não (Lauraceae), họ
Thạch Nam (Ericaceae)... và các cây Tre, Nứa (họ Poaceae). thực vật phụ
sinh phát triển mạnh, thường là Phong lan (Orchidaceae), ráng đuôi phụng,
mặn của cả nước. Nhưng trong thời gian chiến tranh từ năm 1962 đến
1971, chất độc hóa học của Mỹ đã hủy diệt nhiều khu rừng rộng lớn ở Cà
Mau và huyện Cần Giờ (TP.HCM)...
Sau chiến tranh, Bộ Lâm
Nghiệp đã cố gắng phục hồi, có kế
hoạch chỉ đạo trồng lại rừng ngập
mặn, nhưng do nhiều cơ quan và
nhân dân lại phá rừng làm đầm nuôi
tôm nên diện tích rừng ngập mặn bị
thu hẹp nhanh chóng.
Theo GS. Phan Nguyên
Hồng thì rừng ngập mặn ở Việt
Nam có khoảng hơn 50 loài
cây, phân bố không giống nhau
ở các khu vực ven biển. Có 4
khu vực chủ yếu như sau :
- Khu vực ven biển Đông
Bắc từ Móng Cái (Quảng Ninh)
đến Đồ Sơn (Hải Phòng).
Rừng ngập mặn phát triển nhờ các đảo che chắn ở phía ngoài. Các loài cây
chủ yếu là : đước, vẹt, vẹt dìa, sú mấm. Do có mùa Đông lạnh nên cây chỉ
cao từ 1,5 m đến 7 m.
- Khu vực ven biển đồng bằng Bắc Bộ từ Đồ Sơn đến Cửa Lạch
Trường (Thanh Hóa). Tuy có các bãi bồi rộng, giàu phù sa, nhưng ở đây bãi
biển trống trãi, không có các đảo che chắn gió nên chỉ có một ít rừng ngập
Hình 2.3. R ng Sác R ng ng p m n C n gi–ừ ứ ậ ặ ầ ờ
Hình 2.4. Cháy r ngừ
Hình 2.5. Ch t phá r ngặ ừ
mặn trong các cửa sông, với các loài ưa nước lợ như: bần, vẹt dìa, sú, ô rô...
Bần có kích thước khá lớn, cao từ 8 m đến 12 m, đường kính từ 15 đến 25
bình quân mỗi năm 149 nghìn ha; giai đoạn 1996-2000 trồng 1.096 nghìn ha, mỗi năm
trồng 219 nghìn ha .
Biểu 2.5 Diện tích rừng trồng tập trung 1990-2000
Năm
Diện tích
(1000 ha)
Chỉ số phát triển
(Năm trước 100%)
1990 100,3 120,5
1991 123,9 123,5
1992 122,8 99,1
1993 128,2 104,4
1994 158,1 123,3
1995 209,6 132,6
1996 202,9 96,8
1997 221,8 109,3
1998 208,6 94,0
1999 230,1 110,3
2000 232,3 101,0
Nguồn số liệu: Tình hình kinh tế - xã hội Việt Nam 1991-2000
Giá trị sản xuất lâm nghiệp từ năm 1991-2000 tăng bình quân mỗi năm 1,2%.
Tuy tăng chậm hơn so với các hoạt động kinh tế khác nhưng cơ cấu giá trị sản lượng
ngành lâm nghiệp những năm qua đã biến đổi theo chiều hướng tích cực. Giá trị sản
xuất do hoạt động trồng rừng, khoanh nuôi, tái sinh và bảo vệ rừng ngày càng lớn. Giá
trị lâm sản khai thác từ rừng trồng cũng đã tăng dần trong một số năm gần đây.
Trong khoảng 10 năm (1990-2000) sản lượng gỗ khai thác nước ta đạt 29,6
triệu m3, bình quân mỗi năm khai thác 2,68 triệu m
3
. Do chủ trương đóng cửa rừng đã
hạn chế được tình trạng chặt phá rừng nên sản lượng củi khai thác những năm gần đây
nhiên, dưới chính sách này, sự phát triển nuôi tôm trong những khu vực rừng
ngập mặn là một trong những chiến lược phát triển quốc gia. Chính vì vậy mà
thủy canh được xem như một trong những mối đe dọa quan trọng của rừng
ngập mặn Việt Nam.
Để đảm bảo vai trò của rừng đối với bảo vệ môi trường, theo qui hoạch
phải nâng độ che phủ rừng lên 45 - 50%, vùng núi dốc phải đạt 70 - 80%.
Luật bảo vệ và phát triển rừng đã được qui định về nguyên tắc quản lí, sử
dụng và phát triển đối với 3 loại rừng: rừng phòng hộ, đặc dụng và rừng sản
xuất:
+ Đối với rừng phòng hộ: có kế hoạch, biện pháp bảo vệ, nuôi dưỡng
rừng hiện có, trồng rừng trên đất trổng, đồi núi trọc.
+ Đối với rừng đặc dụng: bảo vệ cảnh quan, đa dang sinh học của các
vườn quốc gia và các khu bảo tồn thiên nhiên.
+ Đối với rừng sản xuất: đảm bảo duy trì và phát triển diện tích và chất
lượng rừng, duy trì và phát triển hoàn cảnh rừng, độ phì và chất lượng đất
rừng. Triển khai Luật bảo vệ - phát triển rừng. Nhà nước đã tiến hành giao
quyền sử dụng đất và bảo vệ rừng cho người dân. Nhiệm vụ trước mắt là qui
hoạch và trồng 5,0 triệu ha rừng đến năm 2010, nhằm đáp ứng yêu cầu nâng
độ che phủ rừng lên 43% và phục hồi lại sự cân bằng môi trường sinh thái
2.3. Sử dụng và bảo vệ tài nguyên đất
2.3.1. Tài nguyên đất
Là toàn bộ lớp vỏ trái đất cùng bề mặt phủ ngoại của nó, mà ở đó động
vật, thực vật và vi sinh vật và cả con người có thể sinh sống được.