LỜI CẢM ƠN!
Em xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới cô giáo Đặng Thị Nhuần đã tận tình
hướng dẫn, tạo điều kiện giúp đỡ em hoàn thành đề tài này.
Em xin chân thành cảm ơn ban giám hiệu trường Đại Học Tây Bắc,
phòng quản lý khoa học và quan hệ quốc tế, liên chi đoàn khoa Sử - Địa, bộ môn
Địa lý kinh tế - xã hội, thư viện trường Đại học Tây Bắc, ủy ban nhân dân huyện
Mộc Châu, ủy ban nhân dân xã Mường Sang, đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ chúng
em hoàn thành đề tài.
Đề tài của em chắc chắn còn nhiều thiếu sót, em rất mong nhận được sự chỉ đạo,
góp ý chân thành của các thầy giáo, cô giáo và các bạn để đề tài của em được hoàn
thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Sơn la, tháng 5 năm 2016
Sinh viên thực hiện
Lò Thị Hồng Duyên
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ............................................................................................................... 1
1. Lí do chọn đề tài .............................................................................................. 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề .............................................................................. 3
3. Mục đích nghiên cứu của đề tài ..................................................................... 6
4. Phạm vi, đối tượng nghiên cứu ...................................................................... 7
5. Nhiệm vụ nghiên cứu ...................................................................................... 7
6. Phương pháp nghiên cứu ................................................................................ 7
7. Cấu trúc của đề tài…………………………………………………..……....7
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀTHỰC TIỄN VỀ TRI THỨC BẢN ĐỊA
TRONG VIỆC SỬ DỤNG VÀ BẢO VỆ TÀI NGUYÊN RỪNG CỦA DÂN
TỘC THÁI ............................................................................................................ 9
1.1 Cơ sở lí luận .................................................................................................... 9
SANG, HUYỆN MỘC CHÂU, SƠN LA ......................................................... 60
3.1 Giải pháp phát huy và bảo tồn tri thức bản địa trong việc sử dụng và bảo vệ
tài nguyên rừng .................................................................................................... 60
3.2 Kiến nghị để sử dụng và bảo vệ tài nguyên rừng bền vững.......................... 65
Tiểu kết chương 3................................................................................................ 69
KẾT LUẬN ........................................................................................................ 70
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................ 71
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG, HÌNH
Bảng 1: Bảng so sánh tri thức bản địa và kiến thức khoa học ............................ 17
Bảng 2: Bảng so sánh tri thức bản địa và chi thức hàn lâm. ............................... 18
Bảng 3: Diện tích cây trồng qua các năm của xã Mường Sang. ......................... 29
Bảng 4: Bảng dân số các dân tộc xã Mường Sang .............................................. 31
Bảng 5: Bảng phân bố các dân tộc tại xã Mường Sang ...................................... 32
Bảng 6: Hiện trạng rừng xã Mường Sang phân theo trạng thái và lưu vực…….40
Bảng 7: Hiện trạng rừng xã Mường Sang phân theo 3 loại rừng ........................ 41
Bảng 8: Kinh nghiệm sử dụng một số cây gỗ, tre, nứa, bương, giang của đồng
bào dân tộc Thái xã Mường Sang ....................................................................... 43
Bảng 9: Kinh nghiệm sử dụng một số cây dược liệu trong rừng của đồng bào
dân tộc Thái tại xã Mường Sang ......................................................................... 44
Bảng 10: Một số kinh nghiệm trong sử dụng cây măng, rau, quả rừng của đồng
bào dân tộc Thái tại xã Mường Sang. ................................................................. 47
Bảng 11: So sánh việc sử dụng tài nguyên rừng trước kia và hiện nay ............. 52
Bảng 12 : So sánh việc bảo vệ rừng trước kia và hiện nay ................................. 55
Hình 1: Bản đồ hành chính huyện Mộc Châu. .................................................... 27
MỞ ĐẦU
việc sử dụng và bảo vệ tài nguyên rừng. Tuy nhiên, đặc trưng của kiến thức bản
địa là phạm vi sử dụng hẹp. Nó phù hợp với từng điều kiện của từng địa phương
nhất định, mỗi địa phương đều có tri thức bản địa riêng, ngay cả khi cùng một
dân tộc nhưng sống ở địa phương khác nhau cũng có tri thức bản địa khác nhau.
Chính vì vậy để phát huy tối đa vai trò của tri thức bản địa ta cần phải nghiên
cứu và chọn lọc một cách kĩ lưỡng sao cho phù hợp với sự phát triển của từng
địa bàn.
Sơn La là một tỉnh nằm ở phía Tây Bắc của Việt Nam, nơi đây có 12 dân
tộc anh em cùng sinh sống, trong đó dân tộc Thái chiếm dân số rất đông. Là
một tỉnh có diện tích đồi núi chiếm chủ yếu chính vì vậy Sơn La có diện tích
rừng lớn cùng với đó là nguồn gen động thực vật phong phú. Tuy nhiên trong
những năm gần đây do nhu cầu của nền kinh tế cùng với đó là tập quán du canh
du cư của đồng bào các dân tộc thiểu số ở miền núi đã làm cho tài nguyên rừng
ở đây có sự suy giảm đáng kể.
Mộc châu là một huyện vùng cao thuộc tỉnh Sơn La có rất nhiều dân tộc
anh em cùng sinh sống(Kinh, Thái, H’Mông, Dao, Xinh Mun,….). Trong đó,
dân tộc Thái chiếm đến 33,55% dân số toàn huyện.
Mường Sang là một xã thuộc huyện Mộc Châu, nơi đây là địa bàn cư trú
của đồng bào dân tộc Thái thuộc nhóm Thái Trắng là chủ yếu. Sinh sống ở một
thung lũng bao quanh xã bốn bên đều là rừng núi chính vì vậy tài nguyên rừng
đối với dân tộc Thái ở đây rất quan trọng, từ thời xưa họ đã biết khai thác tài
nguyên rừng để phục vụ cho đời sống của họ. Rừng là nơi cung cấp gỗ để làm
nhà, là nơi để họ tìm kiếm thức ăn như hái măng và rau rừng, cung cấp thuốc và
nhiều dược liệu quý để chữa bệnh,…. Trong quá trình đó người dân ở đây đã có
rất nhiều những kinh nghiệm để khai thác và sử dụng tài nguyên rừng một cách
hiệu quả. Do đó việc tìm hiểu những kinh nghiệm trong việc sử dụng và bảo vệ
tài nguyên rừng ở đây là cần thiết. Nó góp phần gìn giữ, phát huy giá trị của tri
thức bản địa tại đây sao cho phù hợp với đời sống và việc khai thác bền vững
nguồn tài nguyên rừng của đồng bào dân tộc Thái tại xã Mường Sang nói riêng,
hóa, xã hội kinh tế của họ đã và đang sống cuộc sống hài hòa với môi trường
xung quanh.
3
Thứ hai, do sự xuất hiện của khái niệm bền vững. Phát triển bền vững được
thay thế hoàn toàn cho phát triển truyền thống, khi nó nhấn mạnh đến khả năng
đáp ứng được nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng đến tương lai.
Khái niệm “Kiến thức bản địa” được sử dụng rộng rãi vào đầu những năm
90 của thế kỉ XX. Năm 1987 Uỷ ban thế giới về môi trường và phát triển cùng
với tuyên ngôn về một “Tương lai chung của chúng ta” ra cảnh báo về sự suy
thoái của môi trường do nghèo đói kể cả khi không có sự hiện diện của các
ngành công nghiệp trên toàn thế giới. Dần dần các chuyên gia phát triển, những
người hoạt động trong lĩnh vực môi trường các tổ chức phi chính phủ nhận ra
rằng những tri thức truyền thống, thế giới quan và văn hóa các dân tộc bản địa
ẩn chứa mối quan hệ hài hòa thân thiện với môi trường xung quanh. Các dân
tộc bản địa được xem như là nhà sinh thái học tự sự với những hiểu biết sâu sắc
về môi trường, những quan niệm, niềm tin, và cả cách họ bảo vệ tài nguyên
thiên nhiên.
Công ước 169 của tổ chức Lao động thế giới định nghĩa về người dân và
bộ tộc bản địa là “những người có các điều kiện xã hội, văn hóa và kinh tế phân
biệt họ với các bộ phận khác của cộng đồng quốc gia và địa vị của họ được quy
định toàn bộ hoặc một phần bởi phong tục hay truyền thống, hoặc bởi những
luật lệ đặc biệt hay quy định riêng của họ.”
Hiện nay, trên thế giới có khoảng 124 nước hoạt động trong mọi lĩnh vực
nghiên cứu tri thức bản địa nhằm tăng tính hiệu quả trong quá trình phát triển
nông thôn và quản lý tài nguyên thiên nhiên. Ngoài ra, ở nhiều nơi trên thế giới
tri thức bản địa đang được nghiên cứu hỗ trợ cho các nghiên cứu khoa học, làm
tăng nguồn cơ sở tư liệu về môi trường, được sử dụng như một công cụ lựa trọn
của đồng bào dân tộc trong nông nghiệp và quản lí tài nguyên thiên nhiên ở
Việt Nam” do chung tâm nghiên cứu phát triển Canada tài trợ (1997- 1999). Kết
quả đã được xuất bản thành ấn phẩm do Nhà xuất bản Nông nghiệp in ấn viết
về những tri thức bản địa của đồng bào các dân tộc vùng cao trong quản lý tài
nguyên thiên nhiên.
Trong tác phẩm “văn hóa và lịch sử của người Thái tại Việt Nam” của
Cầm Trọng (1998 )đã đề cập đến một số quy ước về quản lý, bảo vệ rừng, rẫy.
Cuốn người Thái ở Tây Bắc Việt Nam của tác giả Cầm Trọng (1978) là một
trong những công trình công phu, nghiêm túc và bao quát nhiều lĩnh vực của tộc
5
người Thái như: lịch sử tộc người Thái ở Tây Bắc, các loại hình kinh tế, ruộng
đất, xã hội bản mường, về tôn giáo, nghệ thuật, văn học,… qua đó cho người
đọc hiểu biết thêm về những luật tục văn hóa trong đời sống của đồng bào dân
tộc Thái.
Cuốn những hiểu biết về người Thái ở Việt Nam của Cầm Trọng (2005) là
sự tổng hợp những công trình nghiên cứu về người Thái của tác giả trong cuộc
đời nghiên cứu khoa học của ông. Nó được tổng hợp tất cả các công trình
nghiên cứu về tộc người Thái trong cuộc đời nghiên cứu của ông, về lịch sử
hình thành, đời sống, văn hóa, cùng các nghi lễ,…. của tộc người Thái.
Trong báo cáo: “điều tra nghiên cứu kiến thức bản địa về quản lý, phát
triển tài nguyên rừng của một số cộng đồng thôn bản miền núi phía Bắc Việt
Nam” đã đề cập đến những quy ước luật tục, kinh nghiệm của đồng bào dân tộc
thiểu số miền núi phía Bắc trong quản lí phát triển, khai thác tài nguyên rừng do
tác giả Đỗ Đình Sâm và cộng sự năm (2002).
Ngoài ra, các nghiên cứu kiến thức bản địa trước đây về một số vấn đề liên
quan tới quản lý, phát triển tài nguyên rừng đã được đề cập:
- Luật tục quy định bảo vệ nương rẫy, tài nguyên rừng của đồng bào
Thái, H’mông, Tày, Nùng.
rừng và về dân tộc Thái tại xã Mường Sang, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La.
- Trên cơ sở nghiên cứu khái niệm về kiến thức bản địa và vai trò của kiến
thức bản địa trong sử dụng và bảo vệ tài nguyên rừng, đề tài làm rõ hệ thống
kiến thức bản địa về cách sử dụng và bảo vệ hợp lí nguồn tài nguyên rừng.
- Tìm hiểu những yếu tố làm thay đổi những kiến thức bản địa và đánh giá
những mặt tích cực của những kinh nghiệm dân gian trong việc sử dụng và bảo
vệ tài nguyên rừng của dân tộc Thái tại xã Mường Sang, huyện Mộc Châu, tỉnh
Sơn La. Từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy tính tích cực
của kiến thức bản địa trong sử dụng và bảo vệ tài nguyên rừng
6. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thống kê và nghiên cứu tài liệu thư tịch: được tôi chú
trọng nhằm kế thừa các kết quả đã đạt được của các học giả đi trước và các tài
liệu thứ cấp ở địa phương nhằm phục vụ cho đề tài nghiên cứu. Nghiên cứu các
tài liệu đã được công bố về hệ thống tri thức bản địa, văn hóa của đồng bào dân
tộc Thái.
7
- Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu:
+ Thu thập tài liệu từ sách thư viện, Internet, …..
+ Thu thập các số liệu thống kê ở các phòng tài nguyên, kiểm lâm xã
+ Thu thập và chọn lọc tài liệu từ nguồn địa chí Mộc Châu
- Phương pháp thực địa: Phương pháp này thu thập các thông tin cho
phiếu điều tra, đồng thời kiểm chứng, đánh giá được những yếu tố thực tế và lý
thuyết đã có.
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Đây là kĩ năng quan trọng giúp em thu thập
các thông tin chính của đề tài. Với đề tài này chọn các đối tượng phỏng vấn sâu
chủ yếu là những người dân như trưởng bản, già làng, những người có kinh
nghiệm, kiến thức trong việc sử dụng và bảo về tài nguyên rừng ví dụ như
những người làm nghề hái thuốc, thợ săn,…. bên cạnh đó em cũng phỏng vấn
đối tượng tiêu dùng”.
Tài nguyên thiên nhiên trên hành tinh của chúng ta thật đa dạng và phong
phú, trên đất nổi, trong lòng đất, đáy đại dương, trong các lớp thủy quyển, khí
quyển…. Từ khi xuất hiện trên trái đất, con người trở thành một thực thể chí
tuệ, từng bước khai thác tài nguyên thiên nhiên làm tư liệu sản xuất, tư liệu sinh
hoạt cùng với sự tiến bộ của trình độ phát triển của xã hội loài người.
Khái niệm tài nguyên thiên nhiên được mở rộng cả về không gian và thời
gian, theo chiều rộng và chiều sâu. Tài nguyên thiên nhiên có thuộc tính kép, có
thể phân biệt được dựa theo các dạng vật chất, đó là các vật thể và các lực của
tự nhiên mà nguồn gốc phát sinh các thuộc tính và nguồn gốc của chúng được
quy định bởi các quy luật tự nhiên. Các tài nguyên thiên nhiên cũng có thể phân
theo giá trị sử dụng mà điều này lại bị quy định bởi mức độ nghiên cứu độ
nghiên cứu, khả năng kỹ thuật, tính hợp lý về mặt kinh tế và về mặt xã hội.
Nguồn tài nguyên thiên nhiên của Việt Nam, xét về tiềm năng là đa dạng
và có mặt phong phú. Khí hậu nội chí tuyến ẩm đã cung cấp một nguồn bức xạ
dồi dào và một lượng nước khá lớn. Đồng thời lịch sử địa chất kiến tạo và sự đa
dạng của tự nhiên tạo nên các chủng loại tài nguyên thiên nhiên, khoáng sản và
cơ cấu tài nguyên sinh vật tương đối phong phú trên đất liền, trong lòng đất,
thềm lục địa và biển Đông.[9]
9
1.1.1.2 Phân loại tài nguyên thiên nhiên
Có nhiều cách phân loại tài nguyên thiên nhiên, dưới đây là ba cách phân
loại tài nguyên thiên nhiên khá phổ biến:
- Cách thứ nhất: Phân loại tài nguyên thiên nhiên theo thuộc tính tự nhiên
của chúng, bao gồm các nguồn tài nguyên đất, tài nguyên nước, tài nguyên
khoáng sản, tài nguyên sinh vật, tài nguyên khí hậu, .…
- Cách thứ hai: Phân loại theo mục đích sử dụng, bao gồm nhóm tài
thịnh vượng và sự phát triển bền vững của loài người.
Năm 1992, Hội nghị về môi trường và phát triển của Liên hiệp quốc tại
Rio de Janeiro đã quy tụ các nguyên thủ quốc gia và các chuyên gia môi trường
của tất cả các nước trên thế giới. Hội nghị đã đánh giá tình trạng môi trường
toàn cầu và đề ra các hành động cho thời gian tới. Hội nghị đã soạn thảo và
thông qua các công ước về vấn đề môi trường toàn cầu, trong đó Công ước đa
dạng sinh học đã được thông qua với ba mục tiêu chính: (1) Bảo tồn đa dạng
sinh học - sự đa dạng của các gen, các loài và các hệ sinh thái; (2) Sử dụng bền
vững của thành phần của đa dạng sinh học; (3) Chia sẻ một cách công bằng và
thỏa đáng các lợi ích của việc sử dụng các tài nguyên di chuyền/ nguồn gen.
Để thực hiện các mục tiêu trên, công ước yêu cầu các bên tham gia phải
cam kết thực hiện công việc sau: thành lập khu bảo tồn thiên nhiên, phục hồi
các hệ sinh thái suy thoái, bảo vệ bằng pháp luật các loài có nguy cơ bị tiêu diệt,
hạn chế và quản lý các hoạt động có nguy hại đến đa dạng sinh học, xây dựng
và thực hiện các chiến lược và kế hoạch hành động quốc gia về bảo tồn và sử
dụng bền vững tài nguyên sinh học…
Các chuyên gia về đa dạng sinh học khuyến cáo rằng chúng ta phải bảo vệ
đa dạng sinh học bởi vì: “Bảo vệ đa dạng sinh học đòi hỏi một sự thay đổi từ
quan điểm của việc bảo vệ - bảo vệ thiên nhiên khỏi các tác động của sự phát
triển - tới nỗ lực tìm kiếm tài nguyên sinh học để đáp ứng nhu cầu của con
người, trong khi vẫn đảm bảo được tính bền vững lâu dài của trái đất”. [9]
1.1.1.4 Vai trò của nguồn tài nguyên thiên nhiên
Tài nguyên thiên nhiên là một yếu tố quan trọng của môi trường đối với
hoạt động kinh tế. Dường như, khi loài người bắt đầu được hình thành thì sự
tiến hóa của giới tự nhiên đã chuẩn bị sẵn sàng những nguồn tài nguyên cần
thiết để xã hội loài người sinh thành, phát triển. Loài người bước vào đời sống
11
kinh tế của mình bằng lao động sản xuất ra của cải vật chất; sự phát triển của
nước có nền kinh tế phát triển, các ngành khai khoáng và luyện kim phát triển
rất mạnh; ở những nước kém phát triển do thiếu vốn và kỹ thuật nên tài nguyên
khoáng sản của họ thường do các nước phát triển khai thác và sử dụng.
Tài nguyên rừng có tầm quan trọng đặc biệt đối với đời sống con người.
Rừng không chỉ cung cấp của cải cho nền kinh tế mà còn có vai trò chủ chốt
trong việc bảo tồn đa dạng sinh học và cân bằng sinh thái. Rừng là nguồn cung
cấp gỗ, nhiều loại lâm sản và các sản phẩm từ gỗ. Số liệu thống kê từ nhiều
nguồn tài liệu cho thấy trung bình trên thế giới có 45% lượng gỗ khai thác được
con người sử dụng làm chất đốt, 35% dùng cho xây dựng và trang trí, 12% sử
dụng làm bột giấy và số còn lại sử dụng cho nhiều nhu cầu khác của con người.
Rừng là môi trường sống của nhiều loài động vật, đồng thời rừng là kho thực
phẩm, dược liệu vô giá cho con người. Rừng còn là yếu tố quan trọng để đảm
bảo sự cân bằng sinh thái của tự nhiên như: cân bằng thành phần khí quyển ;
cân bằng nhiệt ẩm, điều hòa khí hậu; bảo vệ và điều hòa nguồn nước; bảo vệ
đất; chống xói mòn; chắn bụi, cát, giữ vệ sinh môi trường
Tuy nhiên, trong những thập kỷ gần đây, sự bùng nổ dân số cùng với kết
quả của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đã làm cho nguồn tài nguyên rừng
ngày càng bị giảm sút và môi trường bị tác động hết sức mạnh mẽ. Quy mô ô
nhiễm môi trường, cạn kiệt tài nguyên không chỉ hạn chế ở từng khu vực, từng
quốc gia mà trở thành vấn đề toàn cầu. Nhiều số liệu đưa ra để cảnh báo nhân
loại rằng: nguồn tài nguyên rừng bị tài phá mạnh mẽ, nguồn tài nguyên đất bị
suy thoái nặng nề, tài nguyên động vật bị giết hại tàn bạo, môi trường nước và
không khí bị ô nhiễm nặng, tài nguyên khoáng sản đã kiệt quệ đến mức báo
động (quặng nhôm chỉ đủ cho loài người được 570 năm, các quặng sắt, kẽm chì
chỉ còn tương ứng 250, 19, 23 năm)
Cùng với sự phát triển của dân số và tiến bộ khoa học kĩ thuật thì nhu cầu
của con người về vật chất và năng lượng cũng tăng mạnh. Những nguồn tài
nguyên này không phải là vô hạn, và những quan niệm ngây thơ, lạc quan về
Song song với thuật ngữ tri thức bản địa có thuật ngữ “tri thức chính
thống” (formal knowledge) dùng để chỉ những hệ thống kiến thức phát triển
phần lớn dựa trên nền tảng hệ thống giáo dục phương Tây, đó là những kiến
thức chuẩn vì nó được xác nhận trong những văn kiện, những nguyên tắc, luật
14
lệ, những quy định và cơ sở hạ tầng kỹ thuật. Trong khi đó tri thức bản địa được
truyền miệng từ thế hệ này qua thế hệ khác rất hiếm khi được chép lại cẩn thận.
Như vậy đặc trưng cơ bản nhất của tri thức bản địa là tính đặc hữu, nó là
hệ thống tri thức của các dân tộc bản địa hay của cộng đồng tại một khu vực cụ
thể, được tồn tại và phát triển trong những hoàn cảnh nhất định ở vùng địa lý
nhất định (R. Chambers, M.Warren,1992).
Xác định về thời gian và không gian thì tri thức bản địa là hệ thống tri thức
tồn tại và phát triển trong những hoàn cảnh nhất định ở vùng địa lý xác định với
sự đóng góp của các thành viên trong cộng đồng (G.Louise, 1993). Như vậy ở
đây có ba yếu tố góp phần hình thành nên tri thức bản địa đó là: (1) môi trường
địa lý xác định, (2) trong thời điểm không gian nhất định và (3) là của một cộng
đồng tại một khu vực cụ thể đóng góp nên. Hay nói một cách khác, tri thức bản
địa hình thành trong điều kiện không gian thời gian nhất định với sự đóng góp
của một cộng đồng tại khu vực cụ thể. Tri thức bản địa luôn được kế thừa và
phát triển, bản chất của nó là một phức hệ những kinh nghiệm được truyền từ
đời này qua đời khác, nó được hình thành trong thế ứng xử giữa hoạt động của
con người với môi trường tự nhiên để kiếm sống và nó chỉ tồn tại trong môi
trường cụ thể (Nguyễn Duy Thiệu, 1996).
Định nghĩa tri thức bản địa theo quan điểm tri thức kỹ thuật bản địa là Hệ
thống tri thức bản địa là bao gồm tổ hợp tri thức, kỹ năng, công nghệ hiện tồn
tại và phát triển trong một phạm vi nhất định mang tính đặc hữu của một dân
tộc, cộng đồng địa phương trong vùng địa lý nhất định. Hệ thống tri thức bản
phạm vi một số người hiểu biết; lại có những tri thức chuyên nghiệp - chuyên
biệt, chỉ có ở một số ít người mang tính đặc thù …[6]
Tri thức bản địa được hình thành trực tiếp từ lao động của mọi người dân trong
cộng đồng được hoàn thiện củng cố dần và truyền lại cho thế hệ sau bằng truyền
khẩu, bằng các bài hát, ngôn ngữ, luật tục, (G.Broding và M.Schonberger,
2000) ...Để phân tích các đặc trưng của tri thức bản địa, các nhà khoa học thay
vì giảng giải các kiến thức khoa học cho người dân hiểu mà ngược lại họ ngồi
lắng nghe những kinh nghiệm của người dân như một học trò thực thụ. Kiến
thức bản địa bắt đầu được nhìn nhận một cách nghiêm túc trong sự so sánh với
các kiến thức khoa học.
16
Bảng 1: Bảng so sánh tri thức bản địa và kiến thức khoa học. [10]
Các lĩnh
vực
Kiến thức bản địa
Kiến thức khoa học
tri thức
-
-
Chỉ tính tới thế tục;
đồng hành; Bao gồm cả siêu
hành văn hoá.
Mức độ
chân lý
-
Được coi là chân lí.
-
-
Chủ quan.
nhất đến chân lí.
-
Chân lí được thấy trong tự
- Chân lí được tìm thấy từ
nhiên và trong niềm tin.
-
Được coi là tiếp cận gần
sự lí giải của con người.
giá trị về duy lý)
các vùng xa, khác
- Yếu trong việc sử dụng
kiến thức địa phương.
Cách dạy
và học
- Lĩnh hội mất nhiều thời gian
- Lĩnh hội nhanh (kiến
(kiến thức chậm).
thức nhanh).
- Học thông qua cách sống, trải
- Học thông qua giáo dục
17
nghiệm và làm
chính thức.
- Dạy thông qua ví dụ, làm
Tiếp cận tổng thể hay hệ thống
Tiếp cận đơn lẻ bộ phận
Kiểu suy nghĩa trực giác
Lý luận phân tích và quy nạp
Chủ yếu định tính
Chủ yếu định lượng
Dữ liệu do người lao động làm ra (có
Dữ liệu thu thập bởi các nhà chuyên
tính đại chúng)
môn (có tính cá biệt)
Dữ liệu dùng ngôn từ bản địa (địa
Dùng ngôn ngữ đương đại
phương)
Môi trường như một bộ phận của
Quản lý môi trường có tổ chức, có thứ
những mối quan hệ xã hội - thần linh
- Tính tiếp biến và tích hợp, luôn vận động thích ứng với hoàn cảnh môi
trường là đặc tính quan trọng của tri thức bản địa. Chính đặc tính này khiến cho
tri thức bản địa luôn tồn tại và phát triển trong mọi hoàn cảnh.
- Tính đồng quy cũng là một đặc tính của tri thức bản địa, hầu hết đó là sự
đồng quy về kỹ thuật bản địa, do đó đôi khi rất khó xác định một kỹ thuật hoặc
một phương pháp là bản địa; nó được nhập từ bên ngoài, hay đó là một sự kết
hợp giữa các yếu tố địa phương và kiến thức được đưa đến địa phương đó.
Tri thức bản địa được hình thành trong hoạt động sống, thường xuyên được
kiểm nghiệm qua quá trình sử dụng, luôn có sự chọn lọc trong quá trình vận
động của cuộc sống để ngày càng thích nghi với môi trường của các cộng đồng
người. Nhìn chung tri thức bản địa có một số đặc điểm sau:
1- Đặc thù cho mỗi khu vực, mỗi cộng đồng nhất định.
2- Dựa trên những kinh nghiệm được tích lũy, kế thừa từ đời này qua đời
khác qua những kênh thông tin thầm lặng.
3- Có quá trình nghiệm sinh (vận động thử nghiệm, tích luỹ và hoàn thiện
theo thời gian trong hoạt động sống của con người). Phù hợp với môi trường,
văn hóa từng vùng, từng cộng đồng, tộc người.
4- Vận động và thay đổi phù hợp với những điều kiện mới, cơ cấu xã hội mới.
5- Tri thức bản địa được giữ trong ký ức và trong hoạt động sản xuất của
người dân và được trao lại cho thế hệ sau bằng phương pháp giáo dục truyền
19
nghề dân gian.
Tri thức bản địa được chia sẻ và truyền bá thông qua ngôn ngữ nói, bằng
các ví dụ cụ thể và thông qua luật tục, tập quán, văn hoá của cộng đồng. Các
hình thức giao tiếp và tổ chức của cộng đồng có ý nghĩa sống còn đối với các
quá trình ra quyết định ở cấp độ địa phương; có ý nghĩa sống còn đối với việc
bảo tồn, phát triển và phổ biến các tri thức bản địa (Hà Hữu Nga,2009). [6]
1.1.3 Mối quan hệ giữa tài nguyên thiên nhiên và tri thức bản địa
kéo được nhiều người dân tham gia, vì người dân biết phải làm gì và làm như
thế nào, đó chính là cơ sở của sự thành công.
Kiến thức bản địa là cơ sở của sự hiểu biết về các lĩnh vực nông nghiệp,
lâm nghiệp, quản lý tài nguyên. Loại kiến thức này có ý nghĩa vô cùng quan
trọng đối với các nhà khoa học, các nhà lập kế hoạch. Nó có thể được xem xét
và so sánh với hệ thống kiến thức quốc tế, từ đó xác định được những khía cạnh
bổ ích của hệ thống, cũng như khía cạnh có thể cải tiến thông qua các kỹ thuật,
công nghệ trên cơ sở khoa học hiện đại.
Trong điều kiện khoa học kĩ thuật hiện đại, kiến thức bản địa vẫn đang
được các nhà khoa học quan tâm và nghiên cứu rất nhiều. Chúng ta có thể tìm
thấy ở kiến thức bản địa một nguồn trí tuệ to lớn và cũng chính nhờ kho kiến
thức này mà nhiều giải pháp công nghệ mới ra đời. Điều này có ý nghĩa quan
trọng đối với nước ta, một đất nước đang trong quá trình phát triển và hội nhập
kinh tế quốc tế.[9]
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Một số vấn đề chung về tri thức bản địa của các dân tộc miền núi
phía Bắc
Miền núi phía Bắc là mảnh đất hội tụ các nền văn hóa của hơn 30 dân
tộc cư trú, mỗi một dân tộc mang một nét văn hóa độc đáo riêng. Sự đa dạng về
điều kiện tự nhiên đã giúp họ có khả năng thích ứng cao, sáng tạo trong cách
thức sản xuất; từ đó, có những ứng xử phù hợp với tự nhiên và trong đời sống
văn hóa cộng đồng.
Khu vực miền núi phía Bắc đặc có vị trí chiến lược quan trọng, nơi cư
trú lâu đời của các dân tộc ít người như Thái, H’Mông, Tày, Nùng, Dao, Hà
Nhì…Cũng giống như cộng đồng các dân tộc Việt Nam, trải qua hàng nghìn
năm lịch sử thích nghi và gắn bó với các điều kiện tự nhiên của từng địa
21