HIỆN TRẠNG KHAI THÁC, SỬ DỤNG VÀ BẢO VỆ TÀI NGUYÊN RỪNG NGẬP MẶN PHÙ LONG32 - Pdf 53

Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
MỞ ĐẦU
Hiện nay, nhân loại đang phải đối mặt với 4 vấn đề lớn: Bảo vệ hoà
bình, bùng nổ dân số, ô nhiễm môi trường và nghèo đói. Trong đó, vấn đề ô
nhiễm môi trường là vấn đề cấp bách được cả thế giới quan tâm. Các nhà
khoa học cho biết trong vòng 100 năm trở lại đây, Trái Đất đã nóng lên
khoảng 0,5
o
C và có xu hướng tăng lên từ 1,5 đến 4,5
o
C so với hiện nay. Đó
là dự đoán của hơn 1500 nhà khoa học có uy tín trên thế giới do Liên Hợp
Quốc mời cộng tác. Trái Đất nóng lên sẽ mang lại những tác động bất lợi:
Mực nước biển dâng do băng tan, thời tiết bị đảo lộn, thiên tai ngày càng
tăng, tần số bão ngày càng lớn. Một số khu vực bị ngập lụt thường xuyên,
một số khu vực lại bị hạn hán, quá trình sa mạc hoá ngày càng lan rộng.
Việt Nam tuy chưa phải là nước công nghiệp, nhưng xu thế đóng góp khí
nhà kính gần đây có xu hướng tăng lên. Đó chính là hệ quả của phát triển
kinh tế, tăng nhanh dân số, khai thác cạn kiệt các nguồn tài nguyên, đặc
biệt là tài nguyên rừng và đất rừng. Do vậy một trong những biện pháp hữu
hiệu làm giảm thiểu khí nhà kính, điều hoà khí hậu cho Trái Đất là trồng và
bảo vệ rừng. Việt Nam có 3260 km bờ biển do vậy việc trồng rừng ven
biển có ý nghĩa vô cùng quan trọng.
1. Lý do chọn đề tài
Hệ sinh thái rừng ngập mặn có vai trò to lớn đối với môi trường và
cuộc sống cộng đồng. Đây là hệ sinh thái có năng suất sinh học cao, vừa
đem lại những lợi ích kinh tế to lớn, vừa phòng chống thiên tai cho cộng
đồng ven biển và đặc biệt có giá trị làm sạch môi trường, cân bằng sinh
thái., tuy nhiên, do dân số tăng nhanh, sự phát triển kinh tế mạnh mẽ trong
thời kỳ mở cửa cùng với việc quản lý lỏng lẻo hoặc chưa quan tâm bảo vệ
đúng mức của một số địa phương nên hệ sinh thái rừng ngập mặn đã và

Chuyên đề sẽ gồm có 4 chương. Cụ thể:
- Chương I. Giá trị kinh tế và đánh giá giá trị kinh tế của rừng ngập mặn
- Chương II. Hiện trạng khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên rừng
ngập mặn Phù Long
- Chương III. Lượng giá giá trị kinh tế rừng ngập mặn Phù Long
- Chương IV. Kiến nghị và đề xuất
Lượng giá kinh tế hệ sinh thái là một lĩnh vực không đơn giản. Nó đòi
hỏi người thực hiện phải có kiến thức của cả hai lĩnh vực: kinh tế học và
sinh học. Vì vậy để hoàn thành được chuyên đề này, tôi đã phải cần đến sự
giúp đỡ của rất nhiều người. Tôi xin chân thành cảm ơn giảng viên hướng
dẫn: TS. Lê Thu Hoa, TS. Trần Đình Lân và các cán bộ nghiên cứu khoa
học của Viện Tài nguyên và Môi trường Biển - Hải Phòng, những người đã
nhiệt tình hướng dẫn tôi trong suốt thời gian vừa qua.
Tôi xin cam đoan tất cả những nội dung trong chuyên đề là do tôi thực
hiện, không sao chép của bất kỳ luận văn hay chuyên đê khác.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
CHƯƠNG I:
GIÁ TRỊ KINH TẾ VÀ ĐÁNH GIÁ GIÁ TRỊ KINH TẾ
CỦA RỪNG NGẬP MẶN
1.1. Rừng ngập mặn
Theo tiêu chí của Tổ chức Nông Nghiệp và Lương thực của Liên hợp
quốc (FAO,1998) thì một quần hợp thực vật được gọi là rừng khi có tối
thiểu 10% cây cối che phủ không phải là cây trồng nông nghiệp, đảm bảo
cho sự tồn tại của các loài động, thực vật và duy trì điều kiện đất đai phù
hợp. Tuy nhiên, trên thực tế, việc xác định và phân chia các loại rừng còn
tùy thuộc vào các điều chí kích cỡ cây, tầng tán, các yếu tố địa lý sinh
vật…
Như vậy, rừng ngập mặn được hình thành bởi các cây ngập mặn nếu
diện tích che phủ đạt trên 10%. Loại rừng này bao gồm các loài cây ngập

lọc và hấp thụ một số chất ô nhiễm độc hại trong đất và nước. Bùn trầm
tích rừng ngập mặn là nơi tích tụ các chất hữu cơ phân hủy tạo điều kiện
cho các loài vi sinh vật hoạt động với năng suất 0,2 – 10g C/m
3
/ngày. Rừng
ngập mặn là nơi che chở nuôi dưỡng con non các loài thủy, hải sản, là vườn
ươm cho sự sống của biển.
1.2. Khái niệm “Tổng giá trị kinh tế” (TEV)
Trong kinh tế thị trường, có rất nhiều loại hàng hoá được trao đổi buôn
bán trên thị trường. Chúng có một mức giá nhất định và việc xác định giá
trị của chúng là đơn giản. Tuy nhiên khi xem xét hàng hoá công cộng
(những hàng hoá không xác định được giá trên thị trường và thuộc sở hữu
chung) thì việc xác định giá trị của chúng dưới dạng tiền tệ sẽ gặp nhiều
khó khăn. Một trong số đó phải kể đến hàng hoá môi trường. Đây là một
dạng hàng hoá mà người ta mới đưa vào nghiên cứu trong kinh tế học môi
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
trường. Và để xem xét được giá trị của loại hàng hoá này một cách đầy đủ
thì chúng ta phải nhìn nhận trên góc độ tổng giá trị kinh tế (TEV).
Vậy tổng giá trị kinh tế (TEV): là tổng giá trị quy thành tiền của các
giá trị hợp phần của hệ sinh thái, được tính toán theo sơ đồ sau:
Trong đó: UV: Giá trị sử dụng
NUV: Giá trị phi sử dụng
DUV: Giá trị sử dụng trực tiếp
IDUV: Giá trị sử dụng gián tiếp
OV: Giá trị lựa chọn
EXV: Giá trị tồn tại
BV: Giá trị tuỳ thuộc
QOV: Giá trị lựa chọn 1 phần
- Giá trị sử dụng (UV): được hiểu là những giá trị được con người sử

thức của người đánh giá về nó nhưng lại không có chỗ đứng trên thị trường
(không có giá thị trường). Đây chính là vấn đề phức tạp nhất trong kinh tế
học môi trường mà người ta cho rằng cần phải có những cách đánh giá tích
cực để phục vụ cho việc hoạch định chính sách. Hiện nay các nhà kinh tế
học môi trường đã đưa ra quan điểm cho rằng có ba giá trị cơ bản thuộc
nhóm này. Đó là: Giá trị tồn tại (EXV), giá trị tuỳ thuộc (BV), giá trị lựa
chọn một phần (QOV).
+ Giá trị tồn tại (EXV): Đây là giá trị nằm trong bản thân của sự vật mà
con người cho rằng nó không thể mất đi. Nó phải được duy trì vì ý
nghĩa kinh tế, chính trị, xã hội của nó.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
+ Giá trị tuỳ thuộc (BV): Đây là giá trị phụ thuộc vào khả năng đáp ứng
dịch vụ sinh thái hoặc dịch vụ môi trường và nằm trong tầm nhận thức
của con người về vấn đề đó.
Ví dụ khi đánh giá hệ thống cây xanh trên đường phố. Có nhiều quan
điểm nhìn nhận đối với cây cổ thụ.
•Thứ nhất: Đối với các nhà sản xuất đồ gỗ thì họ sẽ đánh giá là số cây
đó cho bao nhiêu sản lượng gỗ.
•Thứ hai: Đối với các nhà sinh thái thì họ sẽ cho đây là loài cây quý
hiếm, cần được bảo vệ hoặc sử dụng một cách hợp lý.
•Thứ ba: Đối với các nhà đô thị thì cho đó là cảnh quan.
•Thứ tư: Đối với các nhà lịch sử thì các cây này sẽ phản ánh một mốc
lịch sử nào đó.
+ Giá trị lựa chọn một phần (QOV): Đây thực chất là giá trị tồn tại
nhưng ranh giới không rõ ràng do đó thường khiến con người khó đưa
ra quyết định.
Thông qua ba giá trị vừa nêu thuộc nhóm giá trị phi sử dụng cho
phép chúng ta khẳng định một điều: Trong thực tế những giá trị phi sử
dụng của hàng hoá chất lượng môi trường luôn tồn tại nhưng vấn đề nhận

Ví dụ: Theo ghi nhận của Lê Đình Thuỷ trong đề tài “Tài nguyên
chim ở Vườn quốc gia Xuân Thuỷ” thì trong khu rừng ngập mặn này cấu
trúc thành phần loài của hệ chim ở đây mang tính đa dạng sinh học cao: có
136 loài chiếm 16,4% tổng số loài chim Việt Nam (828 loài); 31 họ chiếm
38,27% tổng số chim Việt Nam (81 họ) và 14 bộ chiếm 73,68% tổng số bộ
chim Việt Nam (19 bộ). Khu dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn Cần Giờ với
hệ chim có khoảng 130 loài thuộc 47 họ, 17 bộ. Trong đó có 51 loài chim
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
nước và 79 loài không phải chim nước sống trong nhiều sinh cảnh khác
nhau (Lê Đức Tuấn, 1999).
Ngoài ra một số khu rừng ngập mặn còn tồn tại rất nhiều loài động
vật quý hiếm trong sách đỏ như: Tắc kè (gekko gekko), kỳ đà nước
(varanus salvator), trăn đất (python molurus), trăn gấm (python reticulatus),
rắn cạp nong (bungarus fasciatus), rắn hổ mang (naja naja)…
Qua đó hàng năm những khu vực này đã thu hút được đông đảo
khách du lịch trong và ngoài nước, tăng thu nhập cho người dân địa
phương.
Những giá trị sử dụng trực tiếp trên hàng năm đã giúp người dân
sống ở nơi có rừng có được nguồn thu nhập đáng kể, cải thiện cuộc sống
của họ.
- Giá trị sử dụng gián tiếp (IDUV)
+ Hạn chế xói lở bờ biển và sông, nước dâng, ngăn cản bão sóng biển để
bảo vệ hoạt động sản xuất và đời sống của con người phía trong khu
rừng ngập mặn.
Cụ thể ta có thể thấy được tác dụng của rừng ngập mặn đối với thiên
tai ở một số nước. Trong những năm gần đây, sự biến đổi khí hậu do các
hoạt động phá rừng, gây ô nhiễm của con người kết hợp với những biến đổi
của vỏ trái đất đã gây ra những thảm hoạ khủng khiếp như bão tố, lũ lụt,
núi lở và gần đây nhất là động đất và sóng thần. Nhiều thông tin, tư liệu

khảo sát của IUCN (2005) tại những vùng bị tác động của sóng thần vừa
qua cho thấy những vùng ven biển có rừng ngập mặn, có các vành đai cây
phòng hộ (phi lao) và các thảm thực vật trồng khác (dừa, cọ) thì thiệt hại về
người và tài sản ít hơn rất nhiều so với những nơi mà các hệ sinh thái ven
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
biển bị suy thoái, hoặc chuyển đổi đất sang mục đích sử dụng khác như
nuôi tôm, khu du lịch.
Theo nhà môi trường học Suzana Mohkeri (2005), ở miền Nam bang
Kedak (Malaysia) bị sóng thần tàn phá, các cộng đồng sống phía sau những
khu vực rừng ngập mặn ở Matang được bảo vệ nguyên vẹn, hoàn toàn
không bị ảnh hưởng trong lúc những vùng gần đó bị thiệt hại nặng nề.
Rừng ngập mặn còn bảo vệ các vỉa san hô ở ngoài khơi. Hệ thống rễ chằng
chịt của chúng đã giữ bùn và các chất thải rắn khác từ nội địa đổ ra biển.
Ngày 11/2/2005, các cơ quan bảo vệ môi trường quốc tế đã kêu gọi
chính phủ những nước bị sóng thần cấp nhiều hơn nữa nguồn kinh phí và
nhân lực để bảo vệ rừng ngập mặn. Họ nói rừng ngập mặn là vành đai xanh
bảo vệ hàng ngàn nhân mạng và các cộng đồng ven biển khỏi các con sóng
khổng lồ.
Sau trận động đất và sóng thần cuối năm 2004, đã có nhiều hội nghị
quốc tế đánh giá thiệt hại do sóng thần gây ra, tác dụng của các hệ sinh thái
rừng ngập mặn trong việc giảm nhẹ thiên tai.
Ở Việt Nam, từ đầu thế kỷ trước, nhân dân ở các vùng ven biển phía
Bắc đã biết trồng trọt một số loài cây ngập mặn như trang (Kandelia
obovata) và bần chua (Sonneratia caseolaris) để bảo vệ đê biển và vùng cửa
sông. Mặc dù thời kỳ đó đê chưa được bê tông hoá và xây kè đá như bây
giờ nhưng nhiều đê không bị vỡ khi có bão vừa (cấp 6-8). Đó là nhờ các
vành đai rộng rừng ngập mặn chắn sóng, thảm cỏ và dây leo dày đặc trên
mái đê bảo vệ cho đê không bị xói lở.
Một số địa phương thực hiện nghiêm túc chương trình trồng rừng

hơn. Điển hình là việc hình thành 2 hòn đảo nhỏ ở cửa sông Ông Trang.
Đảo Cồn Trong hình thành năm 1960, có diện tích là 122 ha. Ban đầu chỉ
có mắm trắng, là cây tiên phong đến định cư, tạo môi trường thuận lợi cho
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
các loài khác phát tán vào trong đảo. Theo kết quả điều tra của Trung tâm
nghiên cứu rừng ngập mặn Minh Hải đã có 22 loài cây ngập mặn sinh sống,
động vật đáy cũng phong phú. Đảo Cồn Ngoài hình thành muộn hơn,
khoảng những năm 1980, có diện tích là 149ha. Đến nay thảm thực vật
ngoài 2 loài tiên phong là mắm trắng và bần trắng đã phủ kín đảo còn có
một số loài như đước, vẹt tách.
Trong những năm qua, rừng ngập mặn đã hạn chế xâm nhập mặn của
nước biển. Quá trình xâm nhập mặn diễn ra chậm và phạm vi hẹp vì khi
triều cao, nước đã lan toả vào trong những khu rừng ngập mặn rộng lớn; hệ
thống rễ dày đặc cùng với thân cây đã làm giảm tốc độ dòng triều, tán cây
hạn chế tốc độ gió.
+ Cung cấp thức ăn, nơi sinh đẻ, nuôi dưỡng con non và là vườn ươm
cho các loài thuỷ sản ven biển, nơi ở cho các loài chim di cư: Có thể nói, hệ
sinh thái rừng ngập mặn cung cấp cả thức ăn và nơi ở, nơi che chở và nuôi
dưỡng cho các loài sinh vật trong vòng đời của chúng. Chẳng hạn như một
số loài tôm sú, tôm he, cua bùn, rùa biển…vào vùng rừng ngập mặn đẻ
trứng, con non của chúng bơi dần ra biển đến giai đoạn thành thục, sinh sản
chúng lại quay về rừng ngập mặn. Một số loài chim di cư như cò mỏ thìa
vào giai đoạn từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau di cư từ phương Bắc đến
vùng rừng ngập năm của sông Hồng kiếm ăn rồi lại bay xuống phía Nam.
+ Hấp thụ CO
2
và cung cấp khí O
2
, điều hoà khí hậu: Cũng giống như

- Giá trị lựa chọn (OV)
+ Giá trị nguồn gen quý: Những thông tin di truyền nằm trong tổ hợp
gen các loài cây ngập mặn có những giá trị đặc biệt. Đó là các tổ hợp
gen đã được chọn lọc trong quá trình thích nghi và đấu tranh sinh tồn
hàng triệu năm. Qua nhiều thế hệ chúng mới có được các cơ chế tiết
muối và thải muối thừa qua tuyến tiết muối trên lá của cây mắm, cơ chế
tích luỹ muối trong lá già để sau này rụng xuống ở cây bần, cây giá và
cơ chế cản muối ở cây đước, vẹt…Những cơ chế này đã giúp cho các
loài cây ngập mặn sinh trưởng và phát triển rất tốt trong nước biển mặn
mà không một cây trồng nào trong nông nghiệp có thể sống được.
Rừng ngập mặn còn có những loài cây quí hiếm như cây cóc hồng, còn
rất ít cá thể thuộc danh mục các loài quí hiếm trong sách đỏ của nước ta.
Cò mỏ thìa và các loài chim di cư ở vùng rừng ngập mặn cửa sông
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Hồng lại có giá trị toàn cầu bởi vì nó là tài sản đa quốc gia. Đặc biệt, các
chủng vi sinh vật rừng ngập mặn còn mang những thông tin di truyền
tồn tại cho đến ngày nay qua đấu tranh sinh tồn hàng triệu năm. Đó là
những nguồn gen quí cho việc cải thiện các giống vật nuôi và cây trồng,
thuốc chữa bệnh trong tương lai. Việc bảo tồn các loài quí hiếm chính là
bảo tồn đa dạng sinh học, duy trì chức năng các hệ sinh thái với sự ổn
định và sức bền trong không gian, thời gian.
Ví dụ: Khi xem xét một khu rừng ngập mặn, ngoài những giá trị sử
dụng trực tiếp và giá trị sử dụng gián tiếp mà chúng ta đã có thì trong hệ
thống sinh thái này còn có một loài cho giá trị cây thuốc dựa vào Tanin
hay chất tiết ra của nó. Đó chính là giá trị lựa chọn riêng của hệ sinh
thái mang lại mà ở hệ sinh thái khác không có.
Ngoài ra rừng ngập mặn còn nhiều giá trị lựa chọn khác.
- Giá trị tồn tại (EXV)
+ Cung cấp phương tiện và thông tin cho nghiên cứu, giáo dục, đào tạo,

các chất gây ô nhiễm tác động tới chất lượng môi trường
+ Bước 1: Xác định lượng ô nhiễm thải ra môi trường theo 1 tần suất
nhất định.
+ Bước 2: ứng với mỗi lượng ô nhiễm trên 1 đơn vị thời gian thì mức độ
đáp ứng của môi trường như thế nào.
+ Bước 3: Đánh giá giá trị tiền tệ của thiệt hại.
+ Bước 4: Tính toán kết quả thiệt hại trong mối quan hệ: f(thiệt hại) =
f(q,t,p…)
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
- Ưu điểm
+ Dễ được xã hội thừa nhận từ những người hoạch định chính sách và
người dân bình thường.
+ Trong nhiều trường hợp khi xác lập chúng ta có thể dùng giá thị
trường để dự đoán. Khi đó mức độ tin cậy sẽ cao và dễ được thừa nhận.
+ Việc tính toán xây dựng mô hình và những người thực hiện sẽ không
có gì khó khăn.
- Hạn chế
+ Khi sử dụng phương pháp này phải có phương tiện kỹ thuật để đo
lường xem mức độ ô nhiễm thải ra ở nồng độ nào, mức độ thải ra là bao
nhiêu…
+ Những người thực hiện phương pháp này đòi hỏi kiến thức tương đối
toàn diện: không chỉ am hiểu về khoa học môi trường mà còn am hiểu
về kỹ thuật, quy định, tiêu chuẩn, luật pháp…
+ Trong nhiều trường hợp, để xác lập mức thiệt hại do nồng độ ô nhiễm
gây ra theo giá thị trường là không dễ dàng mà thậm chí không có giá
thị trường. Vì vậy độ tin cậy của kết quả đưa ra có thể khó có tính
thuyết phục. Ngoài ra hàng hoá công cộng cũng tác động đến kết quả
tính toán khi sử dụng phương pháp này.
Phương pháp chi phí cơ hội

1.4.2.2. Phương pháp đánh giá có sử dụng đường cầu
Đây là phương pháp dựa trên cơ sở những nghiên cứu và nền tảng
của kinh tế học vận dụng vào đánh giá giá trị của hàng hoá môi trường
trong việc xây dựng mô hình của hàm cầu. Mô hình này là cơ sở để chúng
ta tính toán lợi ích và giá trị phúc lợi của tiêu dùng. Do đó các phương pháp
trong nhóm này phải xây dựng cho được hàm cầu hay hàm lợi ích. Nghĩa là
người ta phải xây dựng cho được giá trị lợi ích của môi trường mang lại.
Đó là cơ sở xem xét, đánh giá, hoạch định chính sách về mặt kinh tế như
thế nào là phù hợp với giá trị của chất lượng môi trường.
Cụ thể trong nhóm này có các phương pháp sau:
Phương pháp chi phí du lịch
- Khái niệm: Đây là phương pháp người ta dựa trên cơ sở thực tiễn là
những nơi, địa điểm có chất lượng môi trường tốt, thường là những nơi
thu hút được nhiều khách du lịch. Vì vậy thông qua lượng khách du lịch
này để xem xét, đánh giá, nghiên cứu trong mối quan hệ giữa chi phí
cho 1 chuyến đi với số lần tham quan vị trí đó, làm cơ sở cho việc xây
dựng hàm cầu về du lịch. Như vậy chất lượng môi trường được đánh giá
thông qua nhu cầu về giải trí bằng với nhu cầu đáp ứng của khu vực tự
nhiên cần đánh giá.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
- Nội dung tiến hành
Trước hết phải xác định cho được các yếu tố liên quan đến chi phí du
lịch. Trong đó phải chuẩn bị 1 bản câu hỏi để điều tra phỏng vấn với 1
lượng khách du lịch mà chúng ta cần điều tra.
Hàm mục tiêu chúng ta cần xây dựng đó là số lần tham quan (V
i
) và chi phí
cho 1 lần tham quan (C
i

< 0
Giả định rằng hàm f là hàm tuyến tính theo chi phí. Trong quá trình
xây dựng chúng ta cố định vai trò của các biến khác (X
i
) và coi chi phí đi
lại là T
i
, vé vào cửa là P thì chúng ta có thể xây dựng được hàm V
i
dưới
dạng:
V
i
= α + βC
i

i

= α + β(T
i
+P) + ε
i
Trong đó:
- α, β là các hệ số chặn được xác định thông qua hồi quy đối với các yếu tố
ràng buộc trên cơ sở của phiếu điều tra.
- ε
i
là yếu tố ngẫu nhiên (sai số ngẫu nhiên) và giả định tuân theo phân phối
chuẩn độc lập với kỳ vọng bằng 0
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368

của người khách du
lịch mà chúng ta đang xét tới không phải là chi phí của 1 điểm duy nhất.
Đó là sự kết hợp của nhiều điểm. Vì vậy người làm đánh giá phải bóc
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
tách, loại trừ để xác định chi phí chính của điểm cần điều tra là bao
nhiêu.
+ Các cảnh quan thay thế: Thực tế khi điều tra có thể xảy ra 2 khả năng:
Điểm nghiên cứu là điểm được khách ưa thích nhất. Họ đến đó để
hưởng thụ hàng hoá chất lượng môi trường. Trong trường hợp này vấn
đề cần xem xét là V
i
có gì thay đổi không.
Người đến thăm quan chỉ có 1 sự lựa chọn. Khi đó cần phải có thêm
phỏng vấn đối với khách du lịch giữa giá trị mà chúng ta cần xem xét
với khả năng thay thế của vị trí khác.
+ Trong thực tế cũng xảy ra quyết định “mua nhà”. Bản thân khách du
lịch thấy chất lượng môi trường tốt thay vì đến thăm quan nhiều lần thì
họ mua luôn nhà ở nơi đó để thường xuyên lui tới.
Trong trường hợp này phải loại trừ những khách du lịch kiểu này,
đưa ra khỏi mô hình V
i
và đưa vào chi phí cố định, từ đó có thể xây dựng 1
giá trị độc lập trong tổng giá trị mà chúng ta cần tính toán.
+ Nếu gặp phải những khách du lịch không tốn chi phí nhưng họ vẫn
đánh giá cao về hàng hoá chất lượng môi trường nơi đây thì phải dùng
phương pháp khác để đánh giá và phải loại trừ đối tượng này ra.
- Ưu điểm
Đây là phương pháp dễ chấp nhận về lý thuyết và thực tiễn
- Hạn chế

Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
+ Trong trường hợp nếu sử dụng giá nhà đất để thay thế thì thị trường
bất động sản cũng như việc bóc tách là có nhiều phức tạp. Trong cấu
thành của giá hàng hoá thông thường đó có nhiều yếu tố khác nhau, môi
trường chỉ là 1 yếu tố.
Phương pháp đánh giá ngẫu nhiên (CVM)
- Khái niệm: Đây là phương pháp được sử dụng để đánh giá hàng hoá
chất lượng môi trường không dựa trên phương pháp thuộc về giá thị
trường và nó mang tính đặc thù của đánh giá hàng hoá môi trường trong
nhóm phi sử dụng.
- Nguyên tắc
Phương pháp đánh giá trực tiếp bằng các cuộc phỏng vấn từ người
hưởng lợi chất lượng môi trường thông qua WTP hoặc WTA.
- Nội dung tiến hành
+ Bước 1: Xây dựng các công cụ để tiến hành điều tra như bảng hỏi,
hình ảnh, giải thích bằng từ ngữ…để tìm ra nên sử dụng WTP hay WTA
đối với cá nhân sẽ chịu tác động bởi các công cụ này. Công việc này
được phân thành 3 nhóm:
Thiết kế kịch bản giả thuyết
Quyết định nên hỏi WTP hay WTA
Tạo ra kịch bản chi trả hay đền bù
+ Bước 2: Sử dụng công cụ điều tra với 1 mẫu.
+ Bước 3: Phân tích các câu trả lời từ kết quả của cuộc điều tra.
+ Bước 4: Tính tổng WTP hay WTA.
+ Bước 5: Phân tích độ nhạy.
- Chú ý
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status