Phơng pháp rèn kĩ năng làm văn tả cảnh cho học sinh lớp 6
1-Phần Mở đầu
1.1. Lớ do chn ti:
Văn miêu tả đà đợc dạy ở bậc Tiểu học (líp 4, líp 5) råi nhng chđ
u lµ ë møc độ đơn giản. Và thực sự mà nói thì các em đà quá
quen với việc thực hành viết văn dạng văn bản mẫu và tái tạo văn bản tơng tự mẫu ở cấp Tiểu học. Cho nên việc sáng tạo một văn bản nghệ
thuật đối với các em học sinh lớp 6 là việc làm vô cùng khó khăn và
thậm chí không có hứng thú. Hơn nữa, sự say mê đọc t liệu văn học
của các em học sinh (thời nay) quả là ít ỏi, hầu nh là không có bởi
những thông tin hiện đại: hoạt hình, truyện tranh, đặc biệt là
những dịch vụ In-tơ-nét tràn lan cuốn hút lòng trẻ. Điều đó đơng
nhiên làm nghèo nàn vốn ngôn từ nghệ thuật quý giá của văn học trong
mỗi học sinh. Là một giáo viên dạy học bộ môn Ngữ văn, qua quá trình
giảng dạy, tôi nhận thấy rằng: việc nắm một số thao tác cơ bản, cần
thiết cho việc viết văn miêu tả nh: quan sát, tởng tợng, so sánh, nhận
xét, cũng nh kĩ năng diễn đạt của một bộ phận học sinh còn yếu.
Vì thế, thiết nghĩ quá trình rèn kỹ năng làm văn miêu tả cho học sinh
lớp 6 là một việc làm thiết thực nên làm và làm một cách cặn kẽ để có
hiệu qủa tốt nhất.
Mặt khác, môn Văn từ lâu là một môn học khiến nhiều học sinh
ngại học, ngại viết. Do vậy đối với giáo viên giảng dạy bộ môn Ngữ văn,
ngoài việc cung cấp nội dung bài dạy theo hớng dẫn của sách giáo
khoa, sách giáo viên và chuẩn kiến thức, kĩ năng chúng tôi còn phải
rất quan tâm đến phơng pháp rèn kỹ năng hành văn cho học sinh.
Đặc biệt là đối tợng học sinh lớp 6. Việc rèn kỹ năng làm văn tả cảnh trớc hết rất thiết thực cho phần làm văn trong chơng trình Ngữ văn 6 1
Phơng pháp rèn kĩ năng làm văn tả cảnh cho học sinh lớp 6
học kỳ II, bởi vì để làm đợc một bài văn miêu tả đúng và hay không
phải là điều đơn giản. Bên cạnh đó, việc rèn kỹ năng làm văn tả
chia sẻ và trao đổi.
2. néi dung
2.1. Thực trạng của vấn đề cần nghiên cứu:
Vấn đề đổi mới phương pháp dạy học mơn Ngữ văn 6 nói chung, phân mơn Tập làm
văn nói riêng đã dược quan tâm rất nhiều. Với sự chỉ đạo của các cấp quản lí chun
mơn, về cơ bản, đại đa số giáo viên đã nắm được phương pháp, vận dụng linh hoạt sáng
tạo theo tình hình cụ thế của địa phương và theo đối tượng học sinh. Tuy nhiên, thực tế
vẫn còn nhiều giáo viên thực hiện chưa đúng chức năng, chưa tích cực nghiên cứu, tìm ra
các phương pháp giảng dạy đạt hiệu quả cao, dẫn đến chất lượng học tập của học sinh
chưa được nâng lên, trong đó chất lượng bài viết văn tự sự rất đáng quan tâm. Kết quả
các bài kiểm tra, chất lượng bài làm của học sinh giỏi cũng chưa thật xuất sắc.
Đi sâu vào tìm hiểu thực trạng, chúng ta có thể thấy những hạn chế trong bài làm của
học sinh một phần là do bản thân các em, một phần do giáo viên chưa có những phương
pháp giảng dạy phù hợp.
2.1.1. Về phía giáo viên:
3
Phơng pháp rèn kĩ năng làm văn tả cảnh cho häc sinh líp 6
- Do cha cã nhiỊu kinh nghiƯm trong công tác nên trong quá trình
giảng dạy cha đa ra các biện pháp tối u để rèn kĩ năng viết văn cho
học sinh, nhất là với những em yếu kém.
- Do sĩ số lớp đông nên rất khó cho giáo viên trong việc theo sát,
kèm cặp từng học sinh trong một tiết dạy. Bên cạnh đó, một số giáo
viên cha thùc sù t©m hut víi nghỊ.
2.1.2. Về phía giáo viờn:
- Với địa bàn tơng đối khó khăn, học sinh chủ yếu là con em nông
Cơ thĨ qua điều tra thực tế học sinh ở các lớp 6,7 các năm trớc, tôi
nhận thấy ý thức học tập bộ môn Ngữ văn còn cha cao và kết quả cụ
thể qua khảo sát chất lợng về kĩ năng làm văn miêu tả nh sau:
Giỏi, Khá: 24,6%; Trung bình: 45%; Yếu: 28,3%; Kém: 2,1%
Qua số liệu trên, tôi nhận thấy r»ng, tØ lƯ häc sinh u kÐm vÉn
cßn nhiỊu, kÜ năng viết văn miêu tả của các em đang còn nhiều hạn
chế. Từ thực tế đó, là ngời trực tiếp giảng dạy bộ môn Ngữ văn, tôi đÃ
cố gắng để tìm ra phơng pháp nhằm nâng cao chất lợng bộ môn
Ngữ văn nói chung cũng nh kĩ năng làm văn tả cảnh cho học sinh lớp 6
nói riêng.
2.2. Cỏc gii pháp để giúp học sinh rèn kĩ năng làm văn t cnh
Qua tìm hiểu thực trạng dạy học môn Ngữ văn ở 6 trờng THCS
nói chung và trờng THSC Hồng Thủy nới riêng, bản thân đà thực hiện
các giải pháp để rèn kĩ năng tả cảnh cho học sinh lớp 6 nh sau:
5
Phơng pháp rèn kĩ năng làm văn tả cảnh cho học sinh lớp 6
2.2.1. Trớc hết, giáo viên cần giúp học sinh biết cách xác
định đúng yêu cầu của đề bài để xây dựng hớng làm bài.
Đề tài, chủ đề của bài văn quyết định cách quan sát, tìm ý,
sắp xếp ý và cách diễn đạt của bài văn. Nếu không nắm vững yêu
cầu của đề ra thì bài văn sẽ đi chệch hớng và không đạt yêu cầu.
Nhiều học sinh làm văn lạc đề, xa đề là vì vậy. Bởi thế, công việc
đầu tiên cần làm là luyện tập cho học sinh tìm hiểu đề để xác
định đúng yêu cầu đề ra.
Các yêu cầu của đề đều nằm trong toàn bộ lời văn của đề ra.
Vì thế việc đầu tiên là tìm những từ ngữ thể hiện yêu cầu của đề
bằng cách trả lời các câu hỏi : Tả cái gì ? ( xác định đối tợng miêu
thế nào?
- Bao quát không gian cảnh đợc coi là một thao tác sơ khoáng của
bức tranh cảnh, rất quan trọng trong việc định hình tâm thế cũng
nh nh·n thÕ cho ngêi thëng thøc bøc tranh c¶nh b»ng ngôn từ. Vậy học
sinh cần phải nắm đợc cách viết phần bao quát không gian cảnh nh
thế nào ? Thực tế tôi thấy học sinh thờng viết một cách cộc lốc, cụt
lủn, có khi chỉ viết đợc một, hai câu cho phần tả bao quát. Nên dù
không phải lĩnh vực tự nhiên, nhng tôi đà đa ra theo ý nh một công
thức dễ nhớ cho học sinh:
+ Để tả bao quát cảnh, trớc hết phải có câu xác định vị trí miêu
tả khái quát. Thờng là một vị trí cao hơn, xa cảnh trung tâm để có
thể chụp đợc toàn cảnh miêu tả vào nhÃn quan của ngời quan sát một
cách tơng đối trọn vẹn.
+ Sau câu văn giúp ngời đọc biết đợc vị trí của ngời quan sát là
những lời văn nhận xét, đánh giá khái quát đầy nghệ thuật về cảnh
chung đó.
Cũng không quên lu ý với học sinh rằng: Lời văn nhận xét, đánh giá
khái quát đầy nghệ thuật là những lời văn sử dụng linh hoạt c¸c biƯn
7
Phơng pháp rèn kĩ năng làm văn tả cảnh cho học sinh lớp 6
pháp tu từ sao cho cảnh tả nổi lên sống động, tự nhiên, hồn hậu, trong
sáng... sát hợp với yêu cầu của đề mà phần (a) đà xác định và mang
tính biểu cảm của ngời quan sát cảnh.
Ví dụ: Tả cảnh quê hơng em vào một buổi sáng mùa thu:
Đứng trên đầu đê, ngắm nhìn toàn cảnh làng quê, tôi nh đang
đắm mình trong sắc thu vàng của chốn quê hơng thanh bình, trù
phú.
Hay một ví dụ khác về cảnh quê hơng vào sáng mùa xuân :
đang quăn mình leo lên bờ dậu để ra quả vắt mình sang thu; tiếp
đó là hình ảnh hàng cây ăn quả với những hơng vị màu sắc của
thu: Thơm lựng chuối tiêu trứng cuốc đốm vàng, những trái na mở
mắt nhìn nắng thu, cây hồng trái chín nh những chấm son trên nền
trời thu...
Với cách làm nh trên tôi đà cho học sinh luyện tập tìm đặc điểm
cho nhiều cảnh khác nhau với những thời gian, không gian đa dạng.
Các em đợc luyện tập dới hình thức: thi nhau tìm đặc điểm, giáo
viên hệ thống và giúp các em chọn lựa những đặc điểm tiêu biểu
nhất trong mỗi cảnh. Nh thế sẽ tạo đợc hứng thú của học sinh với cảnh
sẽ tả.
2.2. 3. Rèn kỹ năng diễn đạt cho học sinh trong văn miêu tả
cảnh.
Tìm đợc đặc điểm tiêu biểu của cảnh sẽ tả đà là một bớc quan
trọng song cha phải là đà tả cảnh. Miêu tả cảnh là dựng lại đợc cảnh
một cách sống động, chân thực và có tính nghệ thuật. Vậy những
đặc điểm vừa tìm đợc ở trên sẽ đợc diễn đạt nh thế nào? Đó là một
điều giáo viên chúng tôi rất quan t©m.
9
Phơng pháp rèn kĩ năng làm văn tả cảnh cho häc sinh líp 6
Thùc tÕ lµ qua viƯc chÊm bµi văn miêu tả của học sinh, tôi thấy
một điều đáng buồn là vốn ngôn từ của các em rất nghèo nàn, diễn
đạt lủng củng, thờng xảy ra hiện tợng bí tõ, dïng tõ sai nghÜa , lỈp tõ,
lỈp ý... Nh vậy, để bài làm văn của học sinh diễn đạt trong sáng có
sức hấp dẫn tôi nghĩ rằng không có cách nào khác ngoài việc trau dồi
ngôn từ nghệ thuật cho mỗi học sinh. Để học sinh tự giác làm điều
này là một việc làm rất khó, mà nên để học sinh tự làm sau khi giáo
viên đà tạo đợc trong lòng học sinh sự yêu thích ngôn từ nghệ thuật,
Ví dụ : Hình ảnh cây đa -> Cây đa sum suê, um tùm nh chiếc ô
khổng lồ, hứng lấy nắng ma bảo vệ cho cái giếng làng thân quen,
thấp thoáng sau tán lá đa là mái đình cổ kính quê em ...
- Hình ảnh không gian đồng cỏ -> Dọc theo cánh đồng là đồi cỏ
may cứng nhọn trải bạt ngàn nh một tấm thảm bạc phếch nắng ma.
Những bông cỏ may rung rinh nhẹ nhàng trong gió chiều thu mát rợi
nh đang biểu diễn một điệu múa mềm mại nhịp nhàng. Mấy chú
chim sẻ tha thẩn trong vùng cỏ may rộng tìm kiếm sâu bọ và đâu
đây tiếng cuốc vọng vào tha thớt rồi tắt hẳn trong không gian đồng
quê mùa thu .
Tiếng chim ngoài bÃi -> Ngoài đê, ven ruộng ngô cánh bÃi xanh um
một màu lá mớt của ngô xen đỗ, xen cà. Lại có tiếng chim khác nó bay
vút lên cao thả vào không trung nghe mát lành. Nó khoan thai, dìu
dặt nh ngón tay thon thả búng vào dây đàn thập lục, nẩy ra tiếng
đồng, tiếng thép lúc đầu vang to sau nhỏ dần nhỏ dần rồi tắt lịm
Trong miêu tả ngời ta thờng hay so sánh. Vì thế, ở giai đoạn luyện
kỹ năng diễn đạt nh thế này, tôi đặc biệt chú ý đến phép so sánh
trong các câu văn. Có thể coi so sánh hay để tạo những nốt luyến
cho những bản nhạc ngôn từ, những nét đậm của bức tranh ngôn
ngữ. Tôi ®· híng cho häc sinh lun tËp c¸ch dïng nhiỊu tõ so s¸nh
11
Phơng pháp rèn kĩ năng làm văn tả cảnh cho học sinh lớp 6
khác nhau sao cho thật đa dạng phong phú gợi cảm, tạo ấn tợng cho ngời đọc.
Ví dụ :
- Dòng sông quê em dới đêm trăng mềm mại nh một áng tóc trữ
tình .
- Không gian quê hơng y nh một chiếc chuông lớn vô cùng treo suốt
mùa thu .
trời sâu thẳm. Mái chèo khuấy
động, lăn rung rinh cả những cây tóc tiên dới đáy. Trên mặt sông
điểm xuyết những lá trúc vàng bé tẻo teo nh những chiếc thuyền tí
hon dập dềnh trên sóng nớc bao la. Cá nớc bơi từng đàn đen trĩu,
nhô lên hụp xuống nh những ngời bơi ếch. Những con sóng lăn tăn
nh những con rắn vẩy vàng, vẩy bạc đang nô đùa. Sóng vỗ nhẹ hai
bên bờ lóc bóc nghe thật vui tai. Trời chiều, trên sông có những con
thuyền hối hả cập bến, chất đầy cau tơi xoài thơm từ các miền đất
lạ mang về. Tiếng ngời lao xao trong tiếng hạ buồm cót két bên bờ
sông quê ...
Trong quá trình miêu tả cụ thể, giáo viên lu ý cho học sinh trình
tự miêu tả cho phù hợp với vị trí quan sát kết hợp lời văn so sánh, lời văn
nhận xét, đánh giá và sự liên tởng tởng tợng phong phú, ý câu trớc với
câu sau lôgic với nhau tạo độ kết về mặt nghĩa, những câu đoạn
cuối thờng là những câu có ý nghĩa sâu sắc, làm đậm nét cho bức
tranh thiên nhiên nên giáo viên hớng cho học sinh biết dành những lời
văn trội hơn vào cuối đoạn
Cứ theo cách hớng dẫn nh trên, giáo viên cho học sinh luyện viết
thành nhiều đoạn cho nhiều cảnh .
2.2.5. Luyện lời văn chuyển cảnh , liên kết đoạn trong văn
tả cảnh
Lời văn chuyển cảnh không nhiều nhng có tác dụng rất lớn trong
việc liên kết , liên hoàn mạch văn, nó đánh giá trình độ khÐo lÐo cña
13
Phơng pháp rèn kĩ năng làm văn tả cảnh cho học sinh lớp 6
cây bút miêu tả cảnh. Giáo viên cần mách nhỏ cho các em học
vải ven sông chín đỏ, cho cái chua bay đi, miền ngọt còn lại. Hẹn
một bến sông quê từng thuyền trái ngọt ra vào
Phơng pháp này giáo viên cho học sinh tập viết kết hợp với học tập
t liệu để có nhiều cách chuyển cuốn hút ngời đọc .
2.2.6. Giáo viên hớng cho học sinh luyện cách mở bài và kết
bài.
Trong bài tập làm văn phần mở bài là phần gây ấn tợng đầu tiên
cho ngời đọc. Các em có thể vào bài bằng một câu hay một đoạn nhng cần phải bám sát vào nội dung, yêu cầu đà đợc xác định. Giáo viên
đa ra một số cách mở bài để học sinh luyện theo :
- Cách mở bài hay thờng là gián tiếp: Có thể giới thiệu cảnh bằng
lời mời gọi du khách để giới thiệu cảnh và bộc lộ cảm xóc cđa ngêi
viÕt mét c¸ch kh¸i qu¸t. Cã thĨ dÉn dắt từ lời thơ, bài hát về cảnh sẽ
tả để giới thiệu cảnh. Hoặc có thể bộc lộ cảm xúc hồi tởng về cảnh
để mà giới thiệu. Ví dụ với đề bài : HÃy tả lại một đêm trăng sáng
vằng vặc. Các em có thể vào bài một cách tự nhiên : Gần mời giờ
đêm, đang ngồi học bài trong nhà, tôi chợt nghe ai đó kêu lên : Chà,
trăng sáng quá! Sáng vằng vặc! Tôi liền đứng dậy, đẩy cửa bớc ra
sân. Đúng là trăng sáng đầy trời, đầy sân.
Dù là cách mở bài nào giáo viên cũng lu ý cho học sinh đủ ý cần
nêu trong mở bài
Kết bài không những đủ ý chốt của bài viết mà nên tạo đợc độ
lắng trong tâm hồn ngời đọc. Ví dụ: Chiều thu quê hơng ơi! Hồn tôi
nh hoá thành tiếng sáo trúc nâng trên môi chú bé mục đồng và hình
nh thu đang dạo lên khúc nhạc đồng quê, những tiếng lao xao rất
nhẹ, rất êm. Chiều nay quả là một buổi chiều sâu lắng dìu dị, nó
sẽ in đậm mÃi trong ký ức tuổi thơ tôi. Tuy nhiên, ®iỊu nµy phơ thc
15
Phơng pháp rèn kĩ năng làm văn tả cảnh cho học sinh lớp 6
11.
4
12 34.3 14 40
4
Yếu
Kém
SL
% SL %
14,
5
0 0
3
Còn đây là kết quả của lớp không áp dụng phơng pháp trên :
Lớp
6C
Sĩ
Giỏi
Khá
TB
Yếu
Kém
SL
% SL %
số SL % SL % SL %
36
3 8.3 8 22.2 17 47. 8
năng cũng nh bài viết của các em. Mặt khác, giáo viên cũng phải kiên
trì su tầm, chọn lọc t liệu có giá trị để cung cấp cho các em, đồng
thời tìm cách hớng các em cách vận dụng sáng tạo những t liệu để
biến thành cách diễn đạt riêng của bản thân mỗi học sinh.
17
Phơng pháp rèn kĩ năng làm văn tả cảnh cho häc sinh líp 6
* VỊ phÝa häc sinh:
- Ph¶i nhiƯt tình, tự giác trau dồi vốn từ, ngôn từ nghệ thuật bằng
cả trái tim.
- Phải quan sát tinh tế những cảnh vật thiên nhiên thờng nhật,
phải tởng tợng phong phú và cần phải nhập tâm vào cảnh vật để có
đợc những cảm xúc chân thực với cảnh vật thiên nhiên khi miêu tả .
Để bồi dỡng tình yêu văn cho học sinh nói chung, làm giàu vốn
ngôn ngữ miêu tả cho các em học sinh khối 6 nói riêng chúng tôi còn
có những mong muốn :
- Trớc hết giáo viên Ngữ văn trong cùng khối phải su tầm t liệu miêu
tả thành những cuốn t liệu quí để lu giữ trong tủ sách nhà trờng.
Nhà trờng cũng cung cấp thêm những tài liệu về văn miêu tả cho học
sinh THCS để làm giàu cho tủ sách Học sinh cũng tự giác su tầm
những đoạn văn, bài văn miêu tả có giá trị để làm t liệu cho mình.
Với đề tài này, tôi nghĩ rằng có thể áp dụng cho học sinh của khối
6 đại trà ở các trờng trong toàn quốc. Song giáo viên cũng có thể vận
dụng đợc kinh nghiệm này ở góc độ hẹp hơn, sơ lợc hơn cho đối tợng là học sinh lớp 6 có học lực yếu, nhất là vào những buổi phụ đạo.
Tuỳ cơ øng biÕn, cịng cßn cã thĨ sư dơng kinh nghiƯm này một cách
tỉ mỉ, kiên trì cho đối tợng là những học sinh ngại học văn, viết văn,
cha có tình cảm với thể loại văn tả cảnh.
3.2. Kin ngh, xuất:
- Tổ chức trao đổi kinh nghiệm về phương pháp dạy học bộ mơn Ngữ văn để các giáo
2
4
1.3. Điểm mới của đề tài
2
5
2. Phần nội dung
3
6
2.1. Thực trạng của vấn đề mà sáng kiến cần nghiên cứu
3
7
2.2. Các giải pháp thực hiện
5
8
3. Phần kết luận