CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
ĐƠN YÊU CẦU
CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN CẤP THÀNH PHỐ
Kính gửi: Hội đồng sáng kiến thành phố Vĩnh Yên
(Cơ quan thường trực: Phòng Kinh tế thành phố Vĩnh Yên)
Tên tôi là: HÀ THỊ THÚY AN
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị: Trường Tiểu học Đống Đa – Vĩnh Yên – Vĩnh Phúc.
Điện thoại: 0979962273
Email: [email protected]
Tôi làm đơn này trân trọng đề nghị Hội đồng sáng kiến thành phố Vĩnh Yên
xem xét và công nhận sáng kiến cấp thành phố cho tôi như sau:
1. Tên sáng kiến: Phát triển năng lực giải các bài toán về tỉ số phần trăm
cho học sinh lớp 5.
2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Dạy học giải các bài toán tỉ số phần trăm cho
học sinh lớp 5.
3. Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử: 11/2015
4. Nội dung của sáng kiến:
4.1. Tạo hứng thú học tập cho học sinh.
4.2. Giúp học sinh nắm vững các dạng toán về tỉ số phần trăm và cách giải
của từng dạng tốn đó.
4.3. Dạy học phân hóa đối tượng học sinh.
4.4. Xây dựng hệ thống bài tập theo hướng phát triển năng lực giải toán cho
học sinh.
5. Điều kiện áp dụng của sáng kiến: Sáng kiến được áp dụng trong trường
Tiểu học với đầy đủ trang thiết bị phục vụ cho việc dạy và học mơn Tốn cho học
sinh.
6. Khả năng áp dụng: Áp dụng cho học sinh lớp 5.
7. Hiệu quả đạt được
phải làm thường xuyên.
Tỉ số phần trăm và giải toán về tỉ số phần là một nội dung quan trọng trong
chương trình mơn Tốn ở Tiểu học nói chung, ở mơn Tốn lớp 5 nói riêng. Các bài
toán về : tỉ số phần trăm, quan hệ tỉ lệ, tốn chuyển động đều, bài tốn có nội dung
hình học được sắp xếp trong mạch kiến thức giải tốn có lời văn.
Dạy – học về giải tốn có lời văn nói chung và giải Các bài tốn về tỉ số
phần trăm nói riêng khơng chỉ củng cố các kiến thức tốn học có liên quan mà
cịn giúp học sinh gắn học với hành, gắn nhà trường với thực tế cuộc sống lao
động sản xuất của xã hội. Qua việc học các bài toán về tỉ số phần trăm, học sinh có
hiểu biết thêm về thực tế như: tính tỉ số phần trăm các loại học sinh ( theo giới tính
hoặc xếp loại học lực,…) trong lớp, trong nhà trường; tính tiền vốn, tiền lãi khi
mua bán hàng hóa hay khi gửi tiết kiệm, tính sản phẩm làm được theo kế hoạch dự
định, tính giá tiền của một sản phẩm sau khi tăng giá, giảm giá,…Các bài toán về
tỉ số phần trăm rất đa dạng, khá phức tạp và khó tư duy trực quan. Chính vì vậy,
việc giải Các bài tốn về tỉ số phần trăm góp phần rất lớn trong việc phát triển
năng lực tư duy, rèn luyện trí thơng minh và óc sáng tạo cho học sinh.
Tuy nhiên dạng tốn này lại tương đối khó đối với học sinh Tiểu học bởi
tính phức tạp và biến hóa khơn lường của nó. Khi giải các bài tốn về tỉ số phần
trăm học sinh gặp rất nhiều khó khăn vì phải tư duy linh hoạt để phân tích tình
huống. Mặt khác, nhiều giáo viên cịn gặp nhiều khó khăn khi hướng dẫn học sinh
giải các bài toán ở dạng này. Do vậy, chất lượng dạy và học cũng như kết quả đạt
được chưa cao.
Xuất phát từ những lý do trên, với mong muốn góp phần nhỏ bé trong việc
nâng cao chất lượng dạy – học tốn ở Tiểu học nói chung và nâng cao chất lượng
dạy – học giải Các bài toán về tỉ số phần trăm nói riêng, tơi đã chọn nghiên cứu
và thực hiện đề tài: “ Phát triển năng lực giải các bài toán về tỉ số phần trăm cho
học sinh lớp 5”.
2. Tên sáng kiến: Phát triển năng lực giải các bài toán về tỉ số phần trăm cho
nhiều năm công tác và thực tế giảng dạy mơn Tốn lớp 5, tơi nhận thấy việc dạy và
học Các bài tốn về tỉ số phần trăm cịn gặp rất nhiều khó khăn. Cụ thể:
*Về phía học sinh:
Với đặc điểm tâm sinh lý của học sinh Tiểu học thì tính tư duy trừu tượng
chưa cao, mới chỉ ở trong giai đoạn hình thành và phát triển, khả năng khái qt
hóa, trừu tượng hóa của học sinh cịn hạn chế. Do vậy việc tiếp nhận tri thức của
các em trong quá trình học tập chủ yếu vẫn đang thiên về tính cụ thể, bắt chước,
làm theo, học tập theo mẫu. Trong khi đó, các bài tốn về tỉ số phần trăm lại là loại
tốn khó, có nhiều vấn đề trừu tượng nên trong qua trình học dạng tốn này các em
gặp khơng ít những khó khăn và mắc phải những sai lầm rất đáng tiếc. Cụ thể:
Học sinh chưa phân biệt được sự khác nhau cơ bản giữa tỉ số và tỉ số phần
trăm; trong quá trình thực hiện phép tính cịn hay ngộ nhận.
Việc vận dụng các kiến thức cơ bản vào thực hành còn gặp nhiều hạn chế, các
em hay bắt chước các bài thầy giáo hướng dẫn mẫu để thực hiện yêu cầu của bài
sau nên dẫn đến nhiều sai lầm cơ bản.
Chẳng hạn, khi thực hiện phép tính tìm tỉ số phần trăm của hai số, học sinh còn lẫn
lộn giữa đại lượng đem ra so sánh và đại lượng chọn làm đơn vị so sánh (đơn vị
gốc, hay đơn vị chuẩn) dẫn đến kết quả tìm ra là sai.
VD: Tìm tỉ số phần trăm của 2 số 24 và 32.
Phép tính sai là 32 : 24 (24 là đơn vị so sánh, 32 là đối tượng đem ra so
sánh).
- Phép tính đúng là 24 : 32 (32 là đơn vị so sánh, 24 là đối tượng đem ra so sánh).
Rất nhiều học sinh chưa hiểu được bản chất của tỉ số phần trăm, dẫn đến
việc lựa chọn phép tính, ghi tỉ số phần trăm bừa bãi, sai ý nghĩa toán học.
VD: Một trường tiểu học có 600 học sinh. Trong đó số học sinh nữ chiếm
52%. Tính số học sinh nữ?
- Cách giải sai:
1% số học sinh toàn trường là: 600 : 100% = 6 (HS)
Số học sinh nữ là : 6 x 52% =312 (HS)
- Cách giải đúng:
Khi giải các bài tốn về tỉ số phần trăm do khơng hiểu về quan hệ giữa các
đại lượng trong bài toán nên các em hay mắc những sai lầm.
Khi giải một số bài tốn phần trăm về tính tiền lãi, tiền vốn học sinh ngộ nhận
và cho rằng tiền lãi và tiền vốn có quan hệ tỉ lệ với nhau, dẫn đến giải sai bài tốn.
*Về phía giáo viên:
Trong giảng dạy, một số giáo viên còn lúng túng hoặc chưa coi trọng việc
phân loại kiến thức. Do đó việc tiếp thu của học sinh khơng được hình thành một
cách hệ thống nên các em rất mau qn.
Có thầy cơ chưa thật triệt để trong việc đổi mới phương pháp dạy học, học
sinh chưa thực sự được tự mình tìm đến kiến thức, chủ yếu cung cấp kiến thức một
cách áp đặt, khơng phát huy được tính tích cực, chủ động của học sinh.
Khi dạy dạng bài toán nhằm phát triển năng lực cho học sinh, đôi khi giáo
viên chưa tuân thủ nguyên tắc từ bài dễ đến bài khó, từ bài đơn giản đến bài phức
tạp nên học sinh tiếp thu bài khơng được hệ thống. Trong q trình đánh giá bài
làm của học sinh, nhiều khi đòi hỏi quá cao, dẫn đến tình trạng chỉ có một số ít học
sinh thực hiện được.
Sau mỗi dạng bài hay một hệ thống các bài tập cùng loại, giáo viên chưa coi
trọng việc khái quát chung cách giải cho mỗi dạng để khắc sâu kiến thức cho học
sinh.
Khi hướng dẫn học sinh giải các bài toán phức tạp, giáo viên chưa chú trọng
đến việc giúp học sinh biến đổi các bài tốn đó về các bài toán dạng cơ bản đã
được học.
* Khảo sát kết quả học tập của học sinh lớp 5A5, 5A trước khi thực hiện
SKKN.
Để biết được kiến thức cũng như hứng thú học tập giải các bài toán về tỉ số
phần trăm của học sinh lớp 5 đồng thời giúp mình tìm ra được những điểm yếu
của học sinh cần bồi dưỡng, tôi luôn thực hiện một bài khảo sát để đánh giá mức
độ của học sinh. Sau đây là kết quả khảo sát mà tôi thực hiện:
%
SL
%
18
12
40%
40%
7
6
15,6%
20%
Dưới 5
SL
%
5
3
11,1%
10%
Dựa trên kết quả điều tra ở trên, tơi ln trăn trở, tìm tịi các biện pháp hiệu
quả để giúp học sinh có được hứng thú hơn nữa trong việc học giải các bài toán về
trăm của hai số a và b.
Trên cơ sở đó giáo viên khắc sâu cho học sinh cách giải dạng toán này như
sau:
* Cách giải:
Bước 1: Lập tỉ số a : b
Bước 2: Tìm thương của hai số a và b dưới dạng số thập phân ( phần thập
phân không quá 4 chữ số)
Bước 3: Nhân nhẩm thương vừa tìm được với 100 rồi viết thêm kí hiệu vào
bên phải kết quả vừa nhẩm được.
Sau khi học sinh thực hiện xong bước 3 giáo viên nên giúp học sinh nắm
chắc ý nghĩa của tỉ số phần trăm.
Để học sinh dễ nhớ giáo viên có thể đưa ra dưới dạng công thức như sau:
a : b = 0,cdeg = cd,eg %
( trong đó 0,cdeg là thương của hai số a và b)
Giáo viên cần giúp HS nắm vững ý nghĩa của tỉ số phần trăm trong công thức
trên: Tỉ số phần trăm của hai số a và b là cd,eg % có nghĩa là nếu coi số b là 100
phần bằng nhau thì số a là cd,eg phần như thế.
Lưu ý: Khi tìm tỉ số, tỉ số phần trăm của hai số học sinh thường lúng túng không
biết nên đặt số nào là số bị chia ( tử số), số nào là số chia ( mẫu số). Để giúp học
sinh tơi hướng dẫn học sinh như sau: Khi tìm tỉ số hay tỉ số phần trăm của hai số,
số nào câu hỏi nêu trước thì lấy số đó làm số bị chia ( tử số hay số a), số nào câu
hỏi nêu sau thì lấy số đó làm số chia (mẫu số hay số b).
+) Dạng 2: Tìm một số phần trăm của một số
Ở dạng 2 của bài toán về tỉ số phần trăm tôi hướng dẫn học sinh thực hiện
theo các bước như sau:
Bước 1: Giáo viên đưa ra bài toán cụ thể và hướng dẫn học sinh giải bải tốn
đó.(Ở bước này giáo viên cần giúp học sinh hiểu ý nghĩa của tỉ số phần trăm có
trong bài tốn từ đó học sinh dựa vào kiến thức đã học của bài toán rút về đơn vị
để giải bài toán này).
Bước 2: Hướng dẫn học sinh nêu được nhận xét về cách tìm một số phần trăm
Các bài tốn về tỉ số phần trăm mang tính trừu tượng và tương đối khó đối
với học sinh lớp 5 nên để phát triển năng lực giải toán tỉ số phần trăm cho học sinh
thì việc dạy học phân hóa đối tượng học sinh chiếm một vai trị vơ cùng quan
trọng. Chúng ta đều biết trong một lớp học nhận thức của các em là khơng đồng
đều. Chính vì vậy để thu hút các em vào bài học giáo viên cần nắm chắc khả năng
nhận thức của từng học sinh trong lớp để đưa ra những nhiệm vụ học tập phù hợp
với các em. Việc làm này sẽ tránh được việc dạy quá tải đối với những học sinh
tiếp thu chậm và không gây nhàm chán đối với những em nhận thức nhanh hơn.
Ví dụ: Trong cùng một bài tốn: Trong dịp tết trường em dự định trồng 800 cây
lấy gỗ, nhưng trường đã trồng được 1200 cây. Hỏi trường đó thực hiện được bao
nhiêu phần trăm và vượt mức bao nhiêu phần trăm?
Đối với học sinh đại trà giáo viên giữ nguyên yêu cầu của đề bài.
Đối với học sinh nhận thức chậm hơn giáo viên có thể giảm mức độ khó của yêu
cầu bài tập như:
Trong dịp tết trường em dự định trồng 800 cây lấy gỗ, nhưng trường đã
trồng được 1200 cây.
a. Tính tỉ số phần trăm số cây nhà trường đã trồng được và số cây nhà
trường dự định trồng.
b. Nhà trường trồng được số cây nhiều hơn so với dự định bao nhiêu phần
trăm?
Còn đối với học sinh nhận thức nhanh hơn giáo viên có thể nâng mức độ
khó của bài toán như:
Trong dịp tết trường em dự định trồng 800 cây lấy gỗ, nhưng thực tế trường
đã trồng được nhiều hơn so với dự định 400cây. Hỏi trường em đã vượt mức bao
nhiêu phần trăm?
Ngoài ra, dạy học phân hóa đối tượng học sinh sẽ giúp cho giáo viên tiết
kiệm được thời gian, phát huy tối đa khả năng tự học, chủ động chiếm lĩnh tri thức
của học sinh. Điều này phù hợp với việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng
bài tâp khó hơn để phát triển tư duy nói chung và năng lực giải toán về tỉ số phần
trăm nói riêng. Các bài tập được đưa ra theo hệ thống từ dễ đến khó phù hợp với
đặc điểm nhận thức của học sinh lớp 5.
Ví dụ: Khi dạy xong cách giải của dạng 1: Tìm tỉ số phần trăm của hai số,
giáo viên đưa ra bài tập:
Bài 1: Tìm tỉ số phần trăm của:
a.4 và 5
b. 5 và 8
c. 30 và 5
Ở bài tập này học sinh chỉ cần áp dụng cơng thức và thực hành
tính để được kết quả:
a. 4 : 5 = 0,8 = 80% ;
= 62,5% ;
b. 5 : 8 = 0,625
c. 30 : 5 = 6 = 600%
Tiếp theo giáo viên đưa ra bài tập dưới dạng bài tốn có lời văn
để rèn kỹ năng phân tích đề bài cho học sinh.
Bài 2: Trong vườn có 12 cây cam và 28 cây chanh. Tìm tỉ số phần
trăm của số cây cam so với số cây trong vườn?
Đối với bài toán này giáo viên yêu cầu học sinh tóm tắt bài
tốn, xác định cái đã cho và u cầu cần tìm của đề bài từ đó suy
luận ngược để giải bài toán. Chẳng hạn: + Bài tốn cho gì? Bài tốn u
cầu tìm gì? + Để tìm tỉ số phần trăm của số cây cam so với số cây trong vườn ta
52 500 – 42 000 = 10 500( đồng)
Số phần trăm tiền lãi của người đó là:
10 500 : 42000 = 0,25 = 25%
Sau khi học sinh đã nắm được ba dạng cơ bản của bài toán về tỉ số phần
trăm, giáo viên cần giúp học sinh phân biệt được sự khác nhau giữa dạng 2 và
dạng 3 để tránh nhầm lẫn khi vận dụng . Sau đó giáo viên tổ chức cho học sinh
luyện tập các bài toán tổng hợp cả ba dạng để củng cố cách giải, rèn kĩ năng và
phân biệt sự khác nhau của ba dạng bài đó bằng cách thay đổi dữ kiện của bài tốn
trên để có bài tốn mới.
Bài 4: Một người bỏ ra 42000 đồng tiền vốn để mua rau. Sau khi bán hết số rau,
người đó được lãi 25% giá vốn. Hỏi:
a. Người ấy được lãi bao nhiêu tiền?
b. Người ấy bán rau được bao nhiêu tiền?
c. Người ấy được lãi bao nhiêu phần trăm so với giá bán?
Giải:
Cách 1:
a. Người ấy được lãi số tiền là:
42000 : 100 x 25 = 10 500( đồng)
b. Người ấy bán rau được số tiền là:
42000 + 10 500 = 52 500( đồng)
c. Tiền lãi so với tiền bán thì chiếm số phần trăm là:
10 500 : 52 500 = 0,2 = 20%
Đáp số: a. 10 500 đồng; b. 52 500 đồng; c. 20%
Cách 2: Nếu coi tiền vốn là 100% thì tiền lãi là 25% tiền bán là:
100% + 25% = 125%
Người ấy bán rau được số tiền là:
42 000 : 100 x125 = 52 500( đồng)
Người ấy được lãi số tiền là:
52 500 - 42000 = 10 500( đồng)
Hoặc: 42 000 : 100 x 25 = 10 500( đồng)
Đáp số: a. 42000 đồng; b.10 500 đồng
………………
Giáo viên có thể tiếp tục thay đổi dữ kiện của bài toán trên để được nhiểu bài
toán khác. Với sự thay đổi dữ kiện của bài toán như trên học sinh sẽ được khắc sâu
về ý nghĩa của tỉ số phần trăm và cách giải từng dạng toán về tỉ số phần trăm.
Giáo viên tiếp tục nâng mức độ khó của bài tập:
Bài 7: Một thư viện có 6 000 quyển sách. Cứ sau mỗi năm số sách thư viện lại
tăng thêm 20% ( so với năm trước). Hỏi sau hai năm thư viện có tất cả bao nhiêu
quyển sách?
* Các bước giải: + Tìm số sách thư viện tăng năm thứ nhất + Tìm tổng số sách có
sau năm thứ nhất + Tìm số sách thư viện tăng năm thứ hai + Tìm tổng số sách có
sau năm thứ hai.
Bài giải:
Năm thứ nhất thư viện tăng số sách là:
6 000 : 100 x 20 = 1 200 (quyển)
Sau năm thứ nhất số sách thư viện có là:
6 000 + 1 200 = 7 200 (quyển)
Năm thứ hai thư viện tăng số sách là:
72 000 : 100 x 20 = 1 440 (quyển)
Sau hai năm số sách thư viện có tất cả là:
72 000 + 1 440 = 8 640 (quyển)
Đáp số: 8 640 quyển
GV gợi ý HS giải theo cách 2:
Tỉ số phần trăm của số sách năm sau so với năm trước là:
100% + 20% = 120%
Sau năm thứ nhất thư viện có số sách là:
6 000 : 100 x 120 = 7 200 (quyển)
Khi thực hiện phép nhân và phép chia hai tỉ số phần trăm học sinh phải biết
cách đổi các tỉ số phần trăm đó ra phân số sau đó thực hiện phép nhân, chia các
phân số.
Bài 9: Giá hàng tháng Chạp tăng 10% so với tháng 11, nhưng giá hàng tháng
Giêng lại giảm 10% so với tháng Chạp. Hỏi giá hàng tháng Giêng tăng hay giảm
mấy phần trăm?
*Phân tích: Giá hàng trong bài tốn này được tính qua 3 thời điểm: Tháng 11 –
tháng Chạp – tháng Giêng. Trong đó giá hàng tháng Chạp tăng 10% so với tháng
11 ; giá hàng tháng Giêng giảm 10% so với tháng Chạp. Ở bài toán này giáo viên
khắc sâu cho học sinh hiểu ý nghĩa của từng tỉ số phần trăm trong bài để giải bài
toán.
Bài giải
Nếu coi giá hàng tháng 11 là 100% thì giá hàng tháng Chạp là:
100% + 10% = 110%( Giá hàng tháng 11)
Nếu coi giá hàng tháng Chạp là 100% thì giá hàng tháng Giêng là:
100% - 10%= 90%( giá hàng tháng Chạp)
Vậy giá hàng tháng Giêng so với tháng 11 là:
110% x 90% = 99%( giá hàng tháng 11)
Vì 100%> 99% nên giá hàng tháng Giêng giảm hơn tháng 11 và giảm hơn là:
100% - 99% = 1%
Đáp số: Tháng Giêng giảm 1%.
Bài 10: Một cánh đồng vụ này diện tích được mở rộng thêm 20%
so với diện tích vụ trước nhưng do thời tiết nên năng suất lúa của
vụ này bị giảm đi 20% so với vụ trước. Hỏi số thóc thu được của
vụ này tăng hay giảm bao nhiêu phần trăm so với vụ trước?
* Phân tích:Muốn biết số thóc thu được của vụ này tăng hay giảm
bao nhiêu phần trăm so với vụ trước ta phải đi tìm xem số thóc
thu được của vụ này chiếm bao nhiêu phần trăm so với vụ trước.
diện tích mảnh đất ban đầu là 100% thì:
Chiều dài mới của mảnh đất là:
100% + 10% = 110%(chiều dài ban đầu)
Chiều rộng mới của mảnh đất là:
100% + 10% = 1 10% (chiều rộng ban đầu)
Diện tích mảnh đất mới sẽ là:
110% x 110% =121%( diện tích ban đầu)
Như vậy, diện tích của mảnh đất tăng thêm số phần trăm là so với diện tích mảnh
đất ban đầu là:
121% - 100% = 21%
Đáp số: 21%
Bài 12: Cho một hình chữ nhật. Nếu tăng chiều rộng của hình chữ nhật đó thêm
6,4 cm, đồng thời giảm chiều dài của nó đi 15% thì diện tích của hình chữ nhật
tăng thêm 2%. Tính chiều rộng hình chữ nhật ban đầu?
* Phân tích: Muốn tìm được chiều rộng hình chữ nhật ban đầu ta phải đi tìm xem
chiều rộng sau khi tăng thêm 6,4cm so với chiều rộng ban đầu chiếm bao nhiêu
phần trăm. Từ cách tính: Chiều rộng bằng diện tích chia cho chiều dài. Ta có cách
giải sau:
Bài giải:
Coi chiều rộng của hình chữ nhật ban đầu là 100% , chiều dài của hình chữ nhật
ban đầu là 100% , diện tích của hình chữ nhật ban đầu là 100% thì:
Chiều dài của hình chữ nhật sau khi giảm chiếm số phần trăm là:
100% - 15% = 85% (chiều dài ban đầu)
Diện tích hình chữ nhật khi đó là:
100% + 2% =102%(diện tích ban đầu)
Chiều rộng hình chữ nhật sau khi tăng 6,4 cm chiếm số phần trăm là: 102% : 85%
= 120% (chiều rộng ban đầu)
Như vậy, 6,4cm chiếm số phần trăm là:
đó mới chuyển sang loại bài toán khác.
Sau khi hoc xong phần các bài toán về tỉ số phần trăm tôi cho học sinh làm
bài kiểm tra để nhận thơng tin ngược từ phía học sinh. Trên cơ sở kết quả học tập
của học sinh tôi sẽ điều chỉnh phương pháp dạy của minh để năm học tiếp theo sẽ
đạt được kết quả cao hơn.
7.2. Khả năng áp dụng của sáng kiến
Sau đây là kết quả học tập của học sinh trong tháng 2 năm học 2015- 2016
so với kết quả tháng 11 mà tôi đã tổng hợp được:
Kết quả
Số HS
Lớp
dự khảo
sát
5A5
5A1
45
30
9- 10
7- 8
5-6
SL
SL
%
0
0
0%
0%
So sánh giữa hai kết quả khảo sát đầu năm học và kết quả khảo sát cuối năm
học sau khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm ta có thể nhận thấy kết quả cụ thể mà
học sinh đạt được như sau:
Kết quả
Thời gian
Số HS dự
9 - 10
7–8
5-6
khảo sát
Dưới 5
Trước khi
áp dụng
SKKN
30
14(46,7%)
12(40%)
4(13,3%)
0(0%)
Sau khi áp
dụng
SKKN
Qua quá trình thực tế giảng dạy, khi áp dụng SKKN vào các tiết học tôi thấy
có hiệu quả rõ rệt. Bài học có sức lơi cuốn, hấp dẫn học sinh học tập nhiều hơn,
gây nên sự hứng thú học tập ở mỗi học sinh, học sinh tập trung vào bài học hơn.
Giúp cho việc truyền đạt kiến thức của giáo viên có hiệu quả nhiều so với trước.
Việc tiếp thu bài của học sinh có tiến bộ rõ rệt. Lúc bắt đầu học có rất nhiều em
cịn sợ học giải các bài tốn về tỉ số phần trăm, khơng thích học đến nay chất
lượng học đã tăng khá đồng đều. Đa số các em đã thích học dạng tốn này, ở các
tiết học có phần sôi nổi hơn, lượng học sinh tham gia phát biểu xây dựng bài khá
nhiều, góp phần làm cho giờ học sinh động. Chất lượng học tập của học sinh dần
được nâng cao.
8. Các thông tin cần được bảo mật (nếu có): Khơng
9. Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến
Để sáng kiến có thể thực hiện một cách hiệu quả, những điều kiện cần thiết
cần có là:
Cần có sự quan tâm chỉ đạo sát sao của Ban giám hiệu trong nhà trường.
Địa chỉ
Phạm vi/lĩnh
vực áp dụng
sáng kiến
Trường tiểu học Đống
Đa – Vĩnh Yên – Vĩnh
Phúc
Trường tiểu học Đồng
Tâm – Vĩnh Yên –
Vĩnh Phúc
Cả lớp
Cả lớp
Đống Đa, ngày 25 tháng 2 năm
2016
Người viết sáng kiến
Hà Thị Thúy An