(Sáng kiến kinh nghiệm) một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy và học môn tự nhiên xã hội lớp 3 - Pdf 86

MỤC LỤC
A. MỞ ĐẦU.........................................................................................................1
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI.......................................................................................1

1. Vai trị và vị trí của mơn Tự nhiên xã hội ở tiểu học.....................................1
2. Vai trị và vị trí của Phương pháp trị chơi.....................................................1
3. Vai trị, vị trí của CNTT...................................................................................2
II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU................................................................................2
III. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU.............................................................................2
IV. PHẠM VI NGHIÊN CỨU..................................................................................3
V. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.........................................................................3
B. NỘI DUNG......................................................................................................4
I. VỊ TRÍ VÀ TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC ỨNG DỤNG CNTT VÀ PHƯƠNG PHÁP
TRÒ CHƠI TRONG TIẾT TỰ NHIÊN - XÃ HỘI Ở LỚP 3.........................................4

1. Cơ sở lý luận..................................................................................................4
2. Cơ sở thực tiễn...............................................................................................5
2.1. Thuận lợi.....................................................................................................5
2.2. Khó khăn....................................................................................................5
II. THỰC TRẠNG..................................................................................................................5
III. MỘT SỐ BIỆN PHÁP ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN CŨNG NHƯ
ÁP DỤNG PHƯƠNG PHÁP TRÒ CHƠI TRONG TIẾT TỰ NHIÊN - XÃ HỘI LỚP 3....6

Biện pháp 1. Nghiên cứu bố cục, nội dung SGK cũng như SGV môn
Tự nhiên - xã hội Lớp 3.............................................................................6
Biện pháp 2. Ứng dụng CNTT một cách hiệu quả trong tiết Tự nhiên
- xã hội lớp 3..............................................................................................7
Biện pháp 3. Ứng dụng CNTT một cách hợp lý, hiệu quả thông qua giáo
án điện tử vào tiết dạy Tự nhiên - Xã hội lớp 3.......................................10
Biện pháp 4. Ứng dụng phương pháp trị chơi một cách có hiệu quả
trong tiết Tự nhiên - Xã hội Lớp 3...........................................................14

đình và cộng đồng. Đặc biệt mơn Tự nhiên - xã hội còn giúp trẻ biết yêu thiên
nhiên, gia đình, trường học và quê hương.
Trong xu thế đổi mới của nền giáo dục nước nhà. Giáo dục Tiểu học đang
tạo ra những chuyển dịch định hướng có giá trị. Cùng với 5 môn học khác, Tự
nhiên - Xã hội là một mơn học có nhiều sự đổi mới. Nó là tích hợp của 2 mơn
học cũ Sức khoẻ và Tự nhiên xã hội.
Môn Tự nhiên - Xã hội ở bậc Tiểu học được chia thành 2 giai đoạn. Giai
đoạn 1 từ lớp 1 đến lớp 3, giai đoạn 2 từ lớp 4 đến lớp 5 - nó có một vai trị cực
kì quan trọng đó là: Tìm hiểu khám phá thế giới Tự nhiên - Xã hội xung quanh
chúng ta và cách chăm sóc sức khoẻ cho mình, cho cộng đồng.
Mỗi mơn học có một sắc thái riêng. Môn Tự nhiên - Xã hội cũng vậy. Tuy
bản chất là cung cấp những kiến thức Tự nhiên - Xã hội có xung quanh chúng ta
song trong sách giáo khoa lớp 3 khơng đưa ra kiến thức đóng khung có sẵn mà là
một hệ thống các hình ảnh bên cạnh các lệnh yêu cầu học sinh thực hiện. Học
sinh muốn chiếm lĩnh tri thức không thể khác là thực hiện tốt các lệnh trong sách
giáo khoa. Vậy một giờ học Tự nhiên - Xã hội ở lớp 3 được tiến hành ra sao?
2. Vai trị và vị trí của Phương pháp trò chơi
Đối với học sinh lớp 3, ở lứa tuổi này các em còn mang đậm bản sắc hồn
nhiên, sự chú ý chưa cao. Bên cạnh hoạt động học là chủ đạo thì nhu cầu chơi,
giao tiếp với bạn bè vẫn tồn tại, cần được thoả mãn. Nếu người giáo viên biết
1/20


phối hợp nhịp nhàng giữa nhiệm vụ của hoạt động học với sự thoả mãn nhu cầu
chơi, giao tiếp của các em "học mà chơi, chơi mà học" thì chúng sẽ hăng hái say
mê học tập và tất yếu kết quả của việc dạy học cũng đạt tới điểm đỉnh. Đây cũng
là đặc thù của phương pháp dạy học đặc biệt: Phương pháp trò chơi.
Dạy học bằng phương pháp trò chơi là đưa học sinh đến với các hoạt động
vui chơi giải trí nhưng có nội dung gắn liền với bài học. Trị chơi trong học tập
có tác dụng giúp học sinh thay đổi động hình, chống mệt mỏi. Tăng cường khả

Những biện pháp nhằm nâng cao chất lượng học môn Tự nhiên xã hội lớp 3
cho học sinh.
2/20


IV. PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Các tiết dạy Tự nhiên xã hội cho học sinh lớp 3 trường Tiểu học.
V. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1- Phương pháp nghiên cứu: Đọc tài liệu, sách giáo khoa, sách tham khảo.
Đọc các tài liệu: - Thế giới trong ta.
- Tập san Giáo dục và Thời đại.
- Trò chơi trong Tự nhiên - Xã hội lớp 3.
- Tâm lí tuổi học sinh Tiểu học.
- Sách giáo viên và sách Tự nhiên - Xã hội lớp 3….
2. Phương pháp điều tra thực nghiệm.
3. Phương pháp đối chiếu so sánh.
4. Phương pháp chỉ đạo.
5. Phương pháp rút kinh nghiệm.
6. Phương pháp quan sát: Thông qua dự giờ, thăm lớp.
7. Phương pháp đàm thoại: trao đổi với giáo viên đứng lớp khối 3 về
những khó khăn, thuận lợi, tham khảo sáng kiến, kinh nghiệm của đồng nghiệp.

3/20


B. NỘI DUNG
I. VỊ TRÍ VÀ TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC ỨNG DỤNG CNTT VÀ PHƯƠNG
PHÁP TRÒ CHƠI TRONG TIẾT TỰ NHIÊN - XÃ HỘI Ở LỚP 3

Trong q trình chỉ đạo giáo viên vận dụng phương pháp trò chơi vào dạy
môn Tự nhiên - Xã hội tôi nhận thấy đây là phương pháp đặc biệt quan trọng bởi
nó phù hợp với tâm lí của học sinh. Nó là con đường giúp các em đến với tri
thức ngắn nhất. Vì "chơi mà học - học mà chơi" là một hoạt động mang tính tự
nguyện khơng gị ép tạo cho các em được sống là chính mình được tìm tịi, được
khám phá... Và đây chính là một nét mới - một nét độc đáo trong quá trình dạy
học của mỗi giáo viên.
4/20


2. Cơ sở thực tiễn
2.1. Thuận lợi:
+ Về kiến thức: Môn Tự nhiên - xã hội ở lớp 3 là sự tiếp nối có chủ đích
của kiến thức lớp 1, 2 theo vòng tròn đồng tâm nên các mạch kiến thức đều
không phải là điều quá mới mẻ đối với trẻ.
+ Về kĩ năng: Học sinh đã bước đầu có những kĩ năng cần thiết như quan
sát vật mẫu, biết cách sưu tầm vật mẫu..., đã được học ở các lớp trước. Cũng
như có kĩ năng học nhóm, thảo luận, nêu vấn đề, trình bày ý kiến...
+ Về đồ dùng dạy học: Các bài của môn Tự nhiên - xã hội lớp 3 phần tự nhiên
tương đối gần gũi với cuộc sống nên các hình ảnh, đoạn video... minh họa dễ kiếm
và phong phú.
+ Thông tin trên mạng vô cùng phong phú và đa dạng.
+ Hệ thống máy móc phục vụ cho việc giảng dạy được trang bị đầy đủ.
2.2. Khó khăn:
Tuy vậy đối chiếu với thực tế vẫn cịn tồn tại một số khó khăn sau:
Hiện nay, hầu hết các giáo viên sử dụng đồ dùng dạy học chỉ để minh hoạ
cho kiến thức đã học mà chưa thấy hết được tầm quan trọng của việc sử dụng đồ
dùng dạy học trong khai thác kiến thức mới. Vì thế giáo viên chủ yếu thường
dùng tranh, ảnh có sẵn trong sách giáo khoa.
Thực tế cho thấy việc sử dụng ứng dụng CNTT trong phân mơn Tự nhiên - xã hội

và bất cập.
Học sinh cũng học tập ở nhiều mức độ khác nhau. Tuy nhiên các em đều
ham thích một giờ học với nhiều âm thanh, hình ảnh minh hoạ, được làm chủ
những kiến thức của bài học.
III. MỘT SỐ BIỆN PHÁP ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
CŨNG NHƯ ÁP DỤNG PHƯƠNG PHÁP TRÒ CHƠI TRONG TIẾT TỰ
NHIÊN - XÃ HỘI LỚP 3

Biện pháp 1. Nghiên cứu bố cục, nội dung SGK cũng như SGV môn Tự
nhiên - xã hội Lớp 3.
1. Sách giáo khoa môn Tự nhiên - xã hội lớp 3
1.1. Cấu trúc nội dung:
Sách giáo khoa (SGK) Tự nhiên - xã hội 3 có 3 chủ đề gồm 70 bài ứng với
70 tiết của 35 tuần học. Trong đó có 63 bài mới và 7 bài ơn tập, được phân phối
như sau:
- Con người và sức khoẻ: 16 bài mới và 2 bài ôn tập, kiểm tra.
- Xã hội: 18 bài mới và 3 bài ôn tập, kiểm tra.
- Tự nhiên: 29 bài mới và 2 bài ôn tập, kiểm tra.
Cũng như các sách Tự nhiên - xã hội 1 và 2, nội dung kiến thức trong toàn
bộ sách Tự nhiên - xã hội 3 được phát triển theo nguyên tắc từ gần đến xa, dẫn
dắt học sinh mở rộng vốn hiểu biết từ bản thân đến gia đình, trường học; từ cuộc
sống xã hội xung quanh, những cây cối, con vật thường gặp đến thiên nhiên
rộng lớn, Mặt trời, Trái đất và Mặt trăng.
Nội dung mỗi chủ đề đều được tích hợp giáo dục sức khoẻ một cách hợp lí; đi
từ sức khoẻ cá nhân trong chủ đề Con người và sức khoẻ đến sức khoẻ cộng đồng
trong chủ đề Xã hội và sức khoẻ liên quan đến mơi trường trong chủ đề Tự nhiên.
1.2. Cách trình bày:
a) Cách trình bày chung của cuốn sách:
Có sự kết hợp chặt chẽ và cân đối giữa tỉ lệ kênh chữ và kênh hình trong
tồn cuộn sách.

Tiến trình mỗi bài học được sắp xếp theo một hệ thống hợp lí:
- Tên bài thường nêu lên vấn đề cần giải quyết.
- Các hoạt động đê tìm tịi, phát hiện ra tri thức mới thường kèm theo thứ tự:
Khám phá→ Nhận biết → Vận dụng
2. Sách giáo viên môn Tự nhiên - xã hội lớp 3
- Sách giáo viên môn Tự nhiên - xã hội lớp 3 được cấu trúc thành 2 phần:
+ Phần một: Hướng dẫn chung
+ Phần hai: Hướng dẫn cụ thể
Biện pháp 2. Ứng dụng CNTT một cách hiệu quả trong tiết Tự nhiên xã hội lớp 3.
Những yêu cầu khi Ứng dụng CNTT vào dạy học ở Tiểu học
7/20


Có thể tiến hành theo các hướng:
1. Truy cập và lấy thơng tin trên mạng Internet
2. Sử dụng máy tính với hệ thống truyền thông đa phương tiện (Multimedia)
3. Sử dụng các phần mềm dạy học
4. Sử dụng các phần mềm công cụ thông dụng trên máy
5. Thiết kế bài giảng có ứng dụng CNTT
Cụ thể từng phần như sau:
a. Truy cập và lấy thông tin trên mạng Internet
- Lựa chọn các ảnh tĩnh, ảnh động Flash, đoạn phim, nhạc... để tạo thành
các Movie clip phục vụ giảng dạy.
- Gửi và nhận thư điện tử trao đổi thông tin.
b. Sử dụng máy tính với hệ thống truyền thơng đa phương tiện (Multimedia)
Máy tính có thể kết nối và điều khiển một hệ thống đa phượng tiện gồm các
thiết bị thông thường như đầu máy ghi âm, video, ti vi, phục vụ nghe nhìn,
tương tác với máy của học sinh.
- Việc sử dụng máy tính với hệ thống đa phương tiện cho phép sử dụng
nhiều dạng truyền thông tin như văn bản, đồ họa, âm thanh phim ảnh... Chính vì

- Khởi động vào màn hình giao tiếp
- Tạo mới một bức tranh: chọn mầu nền, màu vẽ, nét vẽ, chọn công cụ vẽ,
vẽ hay hiệu chỉnh bức vẽ (cắt, dán, di chuyển, tẩy xóa...)
- Các thao tác với tệp: vẽ bản mới, mở một bản vẽ đã có trên đĩa, ghi, in, kết thúc...)
- Các cơng cụ thường làm: đưa vào ảnh mới, sửa chữa (cắt dời hình, ghép
ảnh, tơ màu, chỉnh kích cỡ...) ghi tên file (jpg, psd, ...)
MicroSoft PowerPoint:
- Là cơng cụ tạo bài trình chiếu giúp học sinh quan sát và dễ dàng nhận biết,
tiếp thu bài học nhanh hơn, hiểu được những điều mà giáo viên truyền đạt.
(Giúp thiết kế các trình chiếu)

- Khởi động Power Point
- Mơ hình bài giảng (thuyết trình) trên Power Point
- Các đối tượng chính: văn bản, đồ họa, tranh nghệ thuật
- Các công cụ tạo hiệu ứng: liên kết, trình bày, hoạt hình
- Các đối tượng có liên quan trực tiếp đến các hiệu ứng của Multimedia
- Các bước thiết kế một chương trình trình chiếu:
+ Chuẩn bị nội dung trên các slide
+ Tạo các bước hiệu ứng với những mô phỏng hoặc ý đồ sư phạm của bài giảng
+ Thiết kế các nút lệnh điều khiển
+ Cài đặt cấu hình của slide chuẩn bị trình chiếu
Phần mềm Violet:
- VIOLET là phần mềm công cụ giúp cho giáo viên có thể tự xây dựng
được các bài giảng điện tử theo ý tưởng của mình một cách nhanh chóng. So với
các phần mềm khác, Violet chú trọng hơn trong việc tạo ra các bài giảng có âm
thanh, hình ảnh, chuyển động và tương tác... rất phù hợp với học sinh cấp phổ
thông các cấp.
- Bài tập trắc nghiệm, ghép đôi, bài tập ô chữ, bài tập kéo thả chữ, điền
khuyết, vẽ đồ thị hàm số bất kỳ v.v...
• Nhiều giao diện khác nhau

chúng ta phải biết kết hợp một cách nhuần nhuyễn và sáng tạo các phương pháp
dạy học khác nhau (truyền thống và hiện đại) sao cho vừa đạt được mục tiêu dạy
học vừa phù hợp với đối tượng và điều kiện thực tiễn.
Hiện tại, các trường đã áp dụng GAĐT trong các giờ dạy. Nhưng vấn đề là
áp dụng như thế nào cho đúng quy trình đạt hiệu quả và nâng cao chất lượng giờ
dạy - học. Đó là điều mà giáo viên chúng ta đều suy nghĩ tới. Để việc chuyển từ
bài giảng truyền thống sang các slide trình diễn, chúng ta cần nhớ: slide là nơi chỉ
chứa tên bài học, các đề mục và các cụm từ chốt phục vụ cho bài giảng. Tuỳ theo
từng mơn học, chúng ta có thể bổ sung các cơng thức, hình ảnh minh họa một
cách hợp lý... Đây là bước mà giáo viên cần vận dụng khả năng, kiến thức về tin
học của mình để xây dựng bài giảng. Nếu slide cần hình ảnh minh họa, giáo viên
nên tìm kiếm hình ảnh để chèn vào. Hay slide kia đang trình bày một kết quả của
10/20


thí nghiệm vào để tăng tính thực tế. Việc đưa nội dung vào giáo viên cũng nên lưu
ý đến số lượng chữ, mầu sắc, kích thước trên các slide. Giáo viên nên tóm tắt vấn
đề mình muốn trình bày dưới dạng keyword một cách rõ ràng và dễ hiểu.
Vậy thì đối với GAĐT chỉ gồm một số slide, các slide chỉ chứa keyword,
hình ảnh... thì làm thế nào mà GV có thể quan sát hết các vấn đề cần được
giảng? Phải chăng GV thích nói nội dung nào trước đều được? Những nội dung
cảm thấy thích thì tập trung nhiều thời gian vào và giảm thời gian cho các nội
dung cịn lại? Liệu một giáo viên có thể nhớ hết nội dung mình đã chuẩn bị
trước buổi dạy? Chỉ cần chúng ta xây dựng đề cương giảng dạy thì vấn đề trên
sẽ được giải quyết ngay lập tức. Đề cương này sẽ ghi rõ số tiết dạy của môn học,
tên bài giảng tương ứng với các tiết học nội dung cụ thể sẽ được trình bày trong
mỗi tiết học là gì? Vấn đề nào trình bày trước, vấn đề nào trình bày sau? Vấn đề
nào cần được trọng tâm và nhấn mạnh?
Ngồi những nội dung trên, hình ảnh minh hoạ được đưa vào bài giảng,
thao tác cơ bản nhất đòi hỏi người thầy phải nắm được cách thiết lập các hiệu

Phát triển tính cách: Đạo đức, Âm nhạc, Thể dục.
Định hướng lao động: Nữ công, Kỹ thuật nông nghiệp, Mỹ thuật.
Tại Malayxia, các môn học cuộc sống được phân theo 2 giai đoạn như sau:
Giai đoạn 1: hiểu biết môi trường TN - XH gần gũi, bao quanh thông qua
môn tiếng Malai.
Giai đoạn 2: Tích hợp các kiến thức mơn Sinh học, Vật lý, Hoá học, Địa lý,
Lịch sử, Đạo đức, Sức khoẻ thành môn Con người và Môi trường.
Để làm được việc này, trong quá trình soạn giáo án điện tử giáo viên ngoài
việc nghiên cứu sách giáo khoa, sách tham khảo để đảm bảo nội dung và kiến
thức trong bài dạy, GV cần tìm hiểu những phần mềm liên quan đến việc thiết kế.
Sách giáo khoa TNXH 3 có 3 chủ đề gồm 70 bài ứng với 70 tiết của 35 tuần
thực học. Trong đó có 63 bài học mới và 7 bài ôn tập, được phân phối như sau:
+ Con người và sức khỏe: HS được nhận biết một số cơ quan trên sơ đồ,
cách giữ vệ sinh và phòng bệnh cho những cơ quan này.
+ Xã hội: Thể hiện mối quan hệ gia đình, nhà trường, vốn hiểu biết và ý
thức về tỉnh, thành phố nơi đang sống.
+ Tự nhiên: Nói về Thực vật và động vật - Mặt trời và trái đất.
Trong năm học này, tôi đã không ngừng học tập và phấn đấu để nâng cao
chất lượng dạy và học. Nội dung bài dạy được thiết kế trên nền Powerpoint sinh
động và đẹp mắt, hình ảnh minh họa phù hợp, phong phú kết hợp với những âm
thanh, bài hát. Giờ học của tôi đã thực sự trở lên hiệu quả hơn rất nhiều.
2. Ứng dụng vào phần bài tập.
Theo M.A.Đanilov “Kiến thức sẽ được nắm vững thật sự, nếu học sinh có
thể vận dụng thành thạo chúng hồn thành vào những bài tập lí thuyết hay thực
hành”. Bài tập nhằm ơn tập những kiến thức đó học, củng cố kiến thức cơ bản
của bài giảng. Một đơn vị kiến thức mới, học sinh chỉ có thể ghi nhớ khi được
luyện tập nhiều lần.
Một điểm mạnh đáng kể của Violet so với các phần mềm thiết kế bài
giảng khác là khả năng tạo ra các bài tập rất phong phú, sinh động và đặc biệt là
rất đơn giản. Ví dụ trong Powerpoint ta phải mất cả buổi mới có thể tạo ra 1 bài

những kiến thức trong giờ học mà cịn gây hứng thú cho HS rất nhiều. Tơi
khơng ngần ngại trong việc biến đổi dạng bài tập này sang hình thức của một trị
chơi ơ chữ để giờ học thêm sôi nổi, hào hứng.
Đây là một trong những là một trò chơi lý thú mà còn đưa ra được cho các em
những kiến thức tổng hợp mà tôi thường xuyên áp dụng trong giờ học TNXH
Nhờ GAĐT mà giáo viên đã tạo ra một khơng khí khác hẳn so với giờ dạy
truyền thống. Đồng thời đã giảm nhẹ việc giảng giải, trình bày của giáo viên.
Thay vào đó giáo viên dành thời gian hướng dẫn hỗ trợ quá trình học tập của
học sinh. Học sinh thay đổi hoạt động học tập, làm giảm bớt sự căng thẳng, mệt
mỏi giúp cho quá trình học tập hiệu quả hơn.
Biện pháp 4. Ứng dụng phương pháp trị chơi một cách có hiệu quả
trong tiết Tự nhiên - Xã hội Lớp 3.
1. Những yêu cầu khi vận dụng dạy phương pháp trò chơi vào dạy môn
Tự nhiên - Xã hội ở lớp 3
* Để phương pháp trị chơi thực sự có hiệu quả trong giờ học Tự nhiên Xã hội. Giáo viên cần lựa chọn trò chơi hay và hiệu quả nhất cho mỗi bài dạy.
Trong một tiết giáo viên chỉ nên tổ chức một trò chơi. Đặc biệt đối với trò chơi
khám phá kiến thức giáo viên cần tổ chức cho tối thiểu

3
học sinh được tham
4

gia. Cần phối hợp linh hoạt liên hồn giữa phương pháp truyền thống hiện đại và
trị chơi để tiết học sôi nổi sinh động và sâu sắc.
Trong quá trình chỉ đạo giáo viên vận dụng phương pháp trị chơi vào dạy mơn
Tự nhiên - Xã hội tơi nhận thấy đây là phương pháp đặc biệt quan trọng bởi nó
phù hợp với tâm lí của học sinh. Nó là con đường giúp các em đến với tri thức
ngắn nhất. Vì "chơi mà học - học mà chơi" là một hoạt động mang tính tự
nguyện khơng gị ép tạo cho các em được sống là chính mình được tìm tịi, được
khám phá ...... Và đây chính là một nét mới - một nét độc đáo trong quá trình

- Luật chơi:
+ Giáo viên chia lớp thành 2 nhóm A, B
+ Giáo viên nêu câu hỏi chỉ định 1 học sinh bất kì ở nhóm A chỉ đường.
Học sinh chỉ được thì được phép yêu cầu một học sinh khác ở nhóm B chỉ
đường đến nơi khác... cứ thế cho đến hết các địa điểm có trong tranh... Nếu học
sinh được chỉ định khơng nói được nơi đến hoặc chỗ đến sai em đó sẽ nói
"chuyển" để học sinh cùng nhóm với mình bên cạnh tiếp sức. Cứ mỗi lần nhóm
nào có một học sinh nói từ "chuyển" thì ở nhóm đó sẽ bị một điểm phạt. Nhóm
nào nhiều điểm phạt hơn là nhóm thua cuộc.
+ Các câu hỏi tham khảo để yêu cầu học sinh chỉ đường là:
. Tôi đau bụng quá tôi cần đi tới đâu?
. Tôi muốn thăm một bạn học sinh học lớp 3.
15/20


. Tôi muốn gọi điện cho bố tôi.
. Tôi muốn hỏi đường đến một khu vực nào đó trong thị xã…
+ Kết thúc cuộc chơi giáo viên hỏi: Chúng ta đã đi đến những địa chỉ nào?
* Trò chơi này sử dụng cho bài 27 - 28: Các cơ quan hành chính của Tỉnh.
b. Nhóm 2: Các trị chơi mang tính chất củng cố nội dung bài hoặc khởi
động tạo sự liên hệ nhẹ nhàng giữa bài cũ vào bài.
- Khi dạy xong một bài Tự nhiên - Xã hội để giúp các em khắc sâu về nội
dung kiến thức bài học song khơng mang tính chất tự luận, giảng giải hay nhắc
lại. Giáo viên có thể tổ chức cho học sinh chơi trị chơi: Trị chơi này sẽ có tác
dụng giúp cho các em hiểu sâu, nhớ lâu, khó quên bài.
* Trò chơi: Hoa nào đẹp.
* Mục tiêu:
- Củng cố tên các bộ phận của các cơ quan trong cơ thể người hoặc các
Châu lục và Đại dương của Trái đất. Sự khác biệt giữa làng quê, đô thị...
- Rèn kĩ năng xếp hình và khả năng nhanh nhạy óc phản xạ tốt.

- 2 bộ nhị hoa gồm: 2 nhị các Châu lục, 2 nhị các Đại dương.
* Cách chơi:
- Giáo viên chia lớp thành 4 nhóm
- Giáo viên phổ biến luật chơi và nêu yêu cầu chơi.
- Học sinh gắn cánh hoa vào nhị hoa.
- Giáo viên bình chọn nhóm thắng cuộc.
Kết thúc trị chơi học sinh được củng cố khắc sâu về các Châu lục và Đại dương
và câu thành ngữ: Năm châu bốn biển.
IV. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC

Tuy thời gian nghiên cứu tài liệu và áp dụng vào thực tế dạy chưa được
nhiều song tôi cũng đã bước đầu thu dược một số kết quả qua việc thực hiện đề
tài “Ứng dụng một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy và học môn
Tự nhiên xã hội lớp 3” như sau :
1. Về phía giáo viên:
- Tơi đã cảm thấy mình tìm được hướng đi đúng, cách làm phù hợp với việc
phát triển trí lực cho học sinh trong giờ Tự nhiên - xã hội. Các tiết dạy Tự nhiên
- xã hội của tôi không hề khô khan, nhàm chán, nặng nề mà rất nhẹ nhàng cuốn
hút học sinh.
- Bản thân mình cũng thấy say mê hứng thú khi dạy cho học sinh cách học
bằng các đồ dùng dạy học cũng như bằng giáo án điện tử.
2. Về phía học sinh:
Đến bây giờ các em đã rất quen với việc sử dụng đồ dùng dạy học trong
tiết Tự nhiên - xã hội. Các em đều đã có thói quen xem trước bài và chuẩn bị
tranh ảnh hay vật mẫu theo yêu cầu của tiết học hay giáo viên. Chính những
việc làm đó đã tạo tâm thế và gây hứng thú cho các em trước khi bước vào
tiết học. Cùng với việc hứng thú say mê trong tiết học thì sự tiếp thu bài cũng
được nâng cao, điều đó thể hiện qua bảng tổng kết sau đây:

Sĩ số

* BÀI HỌC RÚT RA

Xuất phát từ cơ sở lý luận cũng như thực tế giảng dạy, tôi thấy các biện
pháp sử dụng đồ dùng dạy học hay ứng dụng CNTT cũng như việc ứng dụng
phương pháp Trị chơi vào giảng dạy của mình đã phát huy được tính tích cực,
chủ động sáng tạo của học sinh. Các em không chỉ nắm vững những kiến thức
mà cịn có những kĩ năng cần thiết áp dụng vào cuộc sống hằng ngày. Đặc biệt
khi sử dụng các biện pháp đã kể ở trên học sinh hoàn toàn chù động và sáng tạo
tự tìm lấy kiến thức của bài mới dưới sự dẫn dắt chỉ bảo của giáo viên. Đó cũng
là một hướng đi đúng đắn nhằm đáp ứng nhu cầu, cũng như mục tiêu của
chương trình SGK mới. Qua q trình giảng dạy tơi thấy muốn sử dụng có hiệu
quả đồ dùng dạy học và ứng dụng CNTT một cách có hiệu quả trong các tiết Tự
nhiên - xã hội người giáo viên cần làm tốt các công việc sau:
1- Nắm vững được mục đích, yêu cầu , những điểm trọng tâm của tiết dạy.
2- Hiểu được tâm lí học sinh đế gây hứng thú bộ mơn.
3- Chuẩn bị trước giờ dạy:
- Soạn kĩ bài. Chuẩn bị đồ dùng dạy học thật chu đáo, chuẩn bị trước các
tình huống và cách giải quyết tình huống.
4- Tuân thủ tốt các nguyên tắc sử dụng đồ dùng dạy học:
+ Sử dụng đúng mục đích.
+ Sử dụng đúng lúc.
+ Sử dụng đúng chỗ.
+ Sử dụng đúng mức độ và cường độ.
+ Kết hợp sử dụng thiết bị dạy học với vlêc tận dụng khai thác, sử dụng cơ
sở vật chất ngoài xã hội.
- Giáo viên hiểu tri thức sẽ là của học sinh nếu học sinh được tham gia vào
các hoạt động và bằng hoạt động. Do vậy, mọi hoạt động liên quan tới đồ dùng
dạy học phải phái huy dược tối đa tính tích cực của nó.
- Trong cùng một tiết dạy, giáo viên cần phối hợp nhịp nhàng các phương
pháp dạy học, bên cạnh phương pháp trực quan cần phải kết hợp nhiều phương

chính là những điểm tựa cần thiết cho quá trình hình thành tư duy của trẻ. Nó
cịn chính là chìa khóa màu nhiệm giúp trẻ mở được những cánh cửa mới đối với
thế giới xung quanh mình. Nó cũng là bậc thang để dẫn trẻ tới con đường khám
phá tri thức khoa học của nhân loại.
Đề tài "Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy và học môn Tự
nhiên xã hội lớp 3" là kết quả của q trình tìm tịi, nghiên cứu học hỏi. Mặc
dù đã rất cố gắng song sẽ không thể tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế. Vì
vậy, tơi ln mong nhận được sự đóng góp quý báu của lãnh đạo cấp trên cũng
như đồng nghiệp để đề tài của tơi có tính khả thi, giúp cho tơi vững vàng hơn
trong cơng tác giảng dạy, chủ nhiệm của mình.
II. KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT

Như đề cập ở phần đầu, đồ dùng dạy học trong tiết Tự nhiên
- xã hội vẫn mang nặng tính truyền thống là dừng lại ở tranh
hoặc ảnh. Hiện nay ở các trường tiểu học trong thành phố đều
đã trang bị ti vi và đầu video cũng như máy chiếu, máy vi tính
nên giáo viên chúng tơi mong muốn sẽ có những băng hình giáo
khoa về các chủ đề như con người, tự nhiên, xã hội hoặc kho tư
liệu dạy học chung để chúng tơi, những người giáo viên có thể
dễ dàng tìm kiếm tư liệu, khai thác nguồn tư liệu đó phục vụ
cho q trình dạy và học để từ đó các tiết học sẽ trở nên sinh
động bổ ích.
Hà Nội, ngày 14 tháng 3 năm 2019
XÁC NHẬN CỦA
Người thực hiện
THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ

19/20



BÀI: SỰ CHUYỂN ĐỘNG CỦA TRÁI ĐẤT

1

2

3

4

5

6

7

8
21/20


22/20


BÀI: MẶT TRỜI

1

2

3


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status