Trờng Đại Học Mở Hà Chuyên Đề Tốt Nghiệp
L
ời Mở đầu
Thành công của Đại hội Đảng toàn quốc lần VI đã làm thay đổi diện mạo của đất
nớc. Nền kinh tế chuyển từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung, quan liêu bao cấp sang cơ
chế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc. Với mục tiêu trở thành nớc công nghiệp,đẩy
mạnh công nghiệp hoá(CNH), hiện đại hoá(HĐH),tiếp tục vững bớc lên con đờng xã hội
chủ nghĩa(XHCN),chúng ta đã và đang xây dựng một hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật,
đặt nền tảng cho sự phát triển của toàn xã hội.
Theo nhịp điệu của nền kinh tế mở, để có thể nắm bắt đợc cơ hội và vợt qua thách
thức, mỗi doanh nghiệp cần có chiến lợc kinh doanh của riêng mình, khẩu hiệu "chất l-
ợng cao, giá thành hạ" đang là một trong những giải pháp tối u giúp cho doanh nghiệp
tồn tại và phát triển trong cơ chế thị trờng .
Chính vì vậy mà công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm luôn
là mối quan tâm hàng đầu của các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp xây lắp nói
riêng. Chi phí sản xuất giá thành sản phẩm với các chức năng vốn có, đã trở thành chỉ
tiêu kinh tế tổng hợp có ý nghĩa rất quan trọng, đáp ứng đợc yêu cầu và nhiệm vụ của cơ
chế mới. Đặc biệt trong lĩnh vực xây dựng cơ bản - XDCB, tiết kiệm chi phí, hạ giá
thành sản phẩm đặt ra nh một nhu cầu bức thiết khách quan, nhằm tạo tiền đề cho các
ngành khác cùng hạ giá thành. Bởi vì xây dựng cơ bản tạo ra và trang bị tài sản cố định
cho các ngành khác, góp phần xây dựng cơ sở hạ tầng, nâng cao năng lực sản xuất trong
nền kinh tế. Có thể nói, giá thành là tấm gơng phản chiếu các biện pháp, tổ chức quản lý
và kỹ thuật mà doanh nghiệp áp dụng nhằm tạo ra lợi nhuận- duy trì sự sống còn của
doanh nghiệp.
Qua thời gian thực tập tại phòng tài chính- kế toán, Xí nghiệp xây lắp I- công ty
xây lắp và sản xuất công nghiệp, em đã từng bớc làm quen với thực tế, vận dụng lý luận
đã học vào thực tiễn, từ thực tiễn làm sàng tỏ lý luận. Với ý nghĩa và tầm quan trọng
mang tính cấp thiết của vấn đề đặt ra, em đã mạnh dạn đi sâu vào nghiên cứu đề tài.
"Hoàn thiện công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại
xí nghiệp xây lắp I- công ty xây lắp và sản xuất công nghiệp "
Bố cục khoá luận ngoài lời mở đầu và kết luận gồm ba chơng:
Trêng §¹i Häc Më Hµ Chuyªn §Ò Tèt NghiÖp
Sinh viªn thùc hiÖn 4 L¬ng
quang ngäc
Trờng Đại Học Mở Hà Chuyên Đề Tốt Nghiệp
Chơng một
Lý luận chung về công tác kế toán
Chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
Sinh viên thực hiện 5 Lơng
quang ngọc
Trêng §¹i Häc Më Hµ Chuyªn §Ò Tèt NghiÖp
Trong doanh nghiÖp ho¹t ®éng kinh doanh x©y l¾p
Sinh viªn thùc hiÖn 6 L¬ng
quang ngäc
Trờng Đại Học Mở Hà Chuyên Đề Tốt Nghiệp
I . một số vấn đề lý luận cơ bản về chi phí sản xuất và giá thành sản
phẩm xây lắp.
1.1.Đặc điểm hoạt động kinh doanh xây lắp có ảnh hởng đến công tác kế toán chi
phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp.
Cơ sở vật chát kỹ thuật là nền tảng phát triển của mỗi quốc gia. Nền tảng có vững
chắc thì phát triển mới ổn định và bền vững. Cơ sở vật chất đợc tạo nên không thể thiếu
bàn tay đóng góp của ngành XDCB.
XDCB là ngành sản xuất độc lập mang tính chất công nghiệp nhằm tái tạo và trang
bị hạ tầng cơ sở, góp phần hoàn thiện cơ cấu kinh tế, tạo tiền đề thực hiện CNH-HĐH
đất nớc. Là một ngành có liên quan đến đầu vào của nền kinh tế, chuyển vốn đầu t tích
luỹ thành năng lực sản xuất và tài sản cố định (TSCĐ) cho các ngành khác, mấy năm tr-
ớc tăng thấp , thậm trí có thời kỳ còn giảm - năm 1995 chiếm 6,9%GDP nhng năm 1999
chỉ chiếm 5,4%GDP thì đến năm 2001 đã chiếm 5,8%GDP và năm 2002 là 5,9%GDP .
không chỉ có tiền lơng mà còn có đủ các chi phí về vật liệu,công cụ, dụng cụ, thi
công,chi phí chung của bộ phận nhận khoán.
- Những đặc điểm cơ bản của ngành XDCB nói trên có ảnh hởng rất lớn đến công
tác kế toán nói chung và kế toán chi phí sản xuất nói riêng. Để phát huy đầy đủ vai trò
là công cụ phục vụ quản lý kinh tế, công tác kế toán trong doanh nghiệp, đặc biệt là kế
toán chi phí sản xuất và tính giá thành phải đợc tổ chức phù hợp với đặc điểm tổ chức
sản xuất kinh doanh, kinh tế kĩ thuật, quy trình công nghệ sản phẩm, đồng thời thực
hiện nghiêm chỉnh chế độ, thể lệ kế toán do nhà nớc ban hành.vậy nhiệm vụ chủ yếu đặt
ra là phảiấac định đợc chính xác đối tợng tập hợp chi phí sản xuất, đối tợng tính giá
thành phù hợp với điều kiện thực tế của doanh nghiệp.
1.2. Chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp.
1.2.1. khái niệm, bản chất và nội dung kinh tế của chi phí xây lắp.
Sự phát sinh và phát triển của xã hội loài ngời gắn liền với quá trình sản xuất.
Nền sản xuất xã hội của bất kì phơng thức sản xuất nào cũng gắn với sự vận động và
tiêu hao các yếu tố cơ bản tạo nên quá trình sản xuất. Nói cách khác, đây là quá trình
kết hợp của ba yếu tố: t liệu lao động, đối tợng lao động và sức lao động. Nh vậy, để
tiến hành sản xuất, doanh nghiệp phải bỏ ra chi phí về thù lao lao động, về t liệu lao
động và đối tợng lao động. Vì thế, sự hình thành nên chi phí sản xuất để tạo ra giá trị
sản phẩm là tất yếu khách quan, không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của ngời sản xuất.
Vậy chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí về lao động sống
và lao động vật hoá cần thiết cho quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh mà doanh
nghiệp phải chi ra trong một thời kỳ nhất định. Nói cách khác, thực chất chi phí là sự
dịch chuyển vốn - vhuyển dịch giá trị của các yếu tố sản xuất vào các đối tợng tính giá.
Chi phí sản xuất của doanh nghiệp phát sinh trong suốt trong quá trình tồn tại và
phát triển. Nhng để phục vụ quản lý và hạch toán kinh doanh, chi phí sản xuất đợc tập
hợp theo từng thời kì nh hàng thàng, hàng quý, hàng năm..... phù hợp với kỳ báo cáo.
1.2.2 Phân loại chi phí xây lắp.
Trong doanh nghiệp, chi phí sản xuất bao gồm nhiều loại có tính chất kinh tế, có
mục đích công dụng khác nhau, và yêu cầu quản lý đối với từng loại chi phí cũng khác
nhau. Do đó, đòi hỏi phải có sự phân loại chi phí sản xuất là một yêu cầu tất yếu khách
nh công tác quản lý chi phí. Điều này hết sức quan trọng trong việc xây dựng và xết
duyệt trong việc định mức vốn lu động, kiểm tra sự cân đối giữa kế hoạch cung cấp vật
t, lao động, tiền lơng, khấu hao TSCĐ...
b . Phân loại theo công dụng kinh tế và địa điểm phát sinh chi phí.
Căn cứ vào công dụng kinh tế và địa điểm phát sinh, chi phí sẽ đợc xếp vào một
loại, gọi là khoản mục chi phí. Có các khoản mục chi phí sau:
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: gồm toàn bộ chi phí về nguyên vật liệu chính,
nguyên vật liệu phụ tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất trong kỳ...
- Chi phí nhân công trực tiếp: là khoản chi phí về tiền lơng, các khoản phụ cấp
theo lơng của công nhân trực tiếp xây lắp kể cả công nhân thuê ngoài( chi phí này
không bao gồm tiền lơng của công nhân điều khiển xe, máy thi công, chi phí khấu
hao...)
- Chi phí sản xuất chung: là chi phí phục vụ xây lắp tại các đội, bộ phận sản xuất
kinh doanh bao gồm: chi phí tiền lơng của nhân viên quản lý đội, tổ sản xuất, chi phí
các khoản trích theo lơng ( BHXH,BHYT, KPCĐ) tính trên tổng quỹ lơng của công
nhân sản xuất, chi phí khấu hao TSCĐ phục vụ chung cho bộ phận quản lý đội...
- Chi phí sử dụng máy thi công: là khoản chi phí phát sinh tại các đội sản xuất
nhằm phục vụ cho công tác sản xuất trong kỳ, khoản chi phí này bao gồm tiền nhân
công điều hành máy, chi phí nguyên, nhiên, vật liệu. . . .
Sinh viên thực hiện 9 Lơng
quang ngọc
Trờng Đại Học Mở Hà Chuyên Đề Tốt Nghiệp
Phân loại chi phí theo cách này giúp doanh nghiệp theo dõi đợc từng khoản mục
chi phí phát sinh, từ đó tiến hành đối chiếu với giá thành dự toán của công trình để có
thể biết đợc chi phí đó phát sinh ở đâu, tăng hay giảm so với dự toán. Ngoài hai cách
phân loại trên thờng đợc các doanh nghiệp áp dụng còn có một số cách phân loại khác
nh:
* Phân loại theo mối quan hệ chi phí và đối tợng chịu chi phí ( chia chi phí thành
chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp).
năng chủ yếu là thớc đo bù đắp chi phí và lập giá. Tuy nhiên mục đích kinh doanh đòi
hỏi doanh nghiệp không chỉ dừng lại ở mức độ trang trải đủ chi phí mà còn phải tạo ra
lợi nhuận. Cho nên, việc xác định giá thành sản phẩm cho phù hợp với giá thị trờng mà
vẫn sinh lời cũng là một chiến lợc kinh doanh hết sức quan trọng.
Sinh viên thực hiện 10 Lơng
quang ngọc
Trờng Đại Học Mở Hà Chuyên Đề Tốt Nghiệp
Trong xây lắp, giá thành sản phẩm là yếu tố quan trọng bậc nhất giúp doanh
nghiệp thắng trong đấu thầu. Nếu giá thành hạ hơn thì giá bỏ thầu bỏ ra sẽ thấp hơn.
Tuy nhiên, hạ giá thành không có nghĩa là không đảm bảo chất lợng và giá trị thẩm mỹ
của công trình vì đó là tiền đề tạo uy tín cho doanh nghiệp trong cạnh tranh.
Đặc biệt, trong điều kiện hiện nay, đợc sự cho phép của nhà nớc, một số doanh
nghiệp đã linh hoạt, chủ động đa dạng hoá hoạt động, xây dựng một số công trình( chủ
yếu là công trình dân dụng) sau đó bán lại cho đối tợng có nhu cầu với giá bán hợp lý.
Trong trờng hợp này, xác định đúng giá thành sản phẩm xây lắp là yếu tố quan trọng để
xác định giá bán.
Thông qua chỉ tiêu giá thành phần nào biết đợc trình độ kỹ thuật, tổ chức thi công,
sử dụng vật t, thiết bị, lao động . . . . . Vấn đề đặt ra là tiết kiệm chi phí, hạ giá thành để
sản phẩm đợc thị trờng chấp nhận. Đây là nhiệm vụ quan trọng và thờng xuyên của
công tác quản lý kinh tế trong doanh nghiệp, đảm bảo tăng tốc độ và quy mô phát triển
sản xuất, tăng tích luỹ và cải thiện đời sống cho ngời lao động.
1.3.2 Phân loại giá thành sản phẩm xây lắp.
Để đáp ứng nhu cầu quản lý, hạch toán và kế hoạch hoá giá thành cũng nh yêu cầu
xây dựng giá, giá thành đợc xem xét dới nhiều góc độ, phạm vi tính toán khác nhau. Về
lý luận cũng nh thực tế, giá thành đợc chia thành nhiều loại nh sau:
a . Phân loại theo thời điểm và nguồn số liệu tính giá thành.
Theo cách này, giá thành sản phẩm xây lắp đợc chia ra:
- Giá thành dự toán: là tổng chi phí dự toán để hoàn thành khối lợng xây lắp. Giá
thành dự toán đợc xác định trên cơ sở các định mức kinh tế kỹ thuật đợc duyệt và khung
Trờng Đại Học Mở Hà Chuyên Đề Tốt Nghiệp
- Giá thành thực tế: là biểu hiện bằng tiền của tất cả các chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra
để hình thành một đối tợng xây lắp nhất định và đợc xác dịnh theo số liệu kế toán cung
cấp. Nó không chỉ bao gồm những chi phí trong định mức mà còn bao gồm những chi
phí vợt định mức nh: các khoản thiệt hại trong sản xuất, lãng phí vật t, lao động ... do
những nguyên nhân chủ quan của doanh nghiệp.
* Về nguyên tắc, mối quan hệ giữa ba loại giá thành trên phải đảm bảo nh sau :
Giá thành dự toán Giá thành kế hoạch giá thành thực tế
Đây cũng là nguyên tắc khi xây dựng kế hoạch giá thành và tổ chức thực hiện kế
hoạch hoá giá thành. Có nh vậy doanh nghiệp mới đảm bảo có lãi, có tích luỹ cho nhà n-
ớc và có điều kiện tái sản xuất, mở rộng doanh nghiệp.
b . Phân loại theo phạm vi của chỉ tiêu giá thành
Theo cách này, chỉ tiêu giá thành đợc chia ra:
- Giá thành sản xuất: là chỉ tiêu phản ánh tất cả các chi phí phát sinh liên quan đến
việc sản xuất sản phẩm xây lắp. Giá này đợc sử dụng ghi sổ cho sản phẩm đã hoàn
thành nhập kho hoặc đã bàn giao cho khách hàng và là căn cứ để tính tính giá vốn hàng
bán và lợi nhuận gộp.
- Giá thành toàn bộ: là chỉ tiêu bao gồm giá thành sản xuất cộng thêm chi phí bán
hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp. Giá này xác định khi sản phẩm xây lắp đợc tiêu
thụ, và là căn cứ cho biết lợi nhuận trớc thuế của doanh nghiệp.
Ngoài ra trong xây dựng cơ bản còn sử dụng hai chỉ tiêu giá thành sau:
- Giá đấu thầu xây lắp: là giá do chủ đầu t đa ra để các doanh nghiệp căn cứ vào đó
tính giá thành của mình( còn gọi là giá dự thầu công tác xây lắp )
- Giá hợp đồng xây lắp; là giá dự toán xây lắp ghi trong hợp đồng đớc ký kết giữa
hai nhà đầu t và doanh nghiệp xây lắp sau khi thoả thuận nhận thầu. Đây chính là giá
của doanh nghiệp xây lắp thắng trong đấu thầu và đợc chủ đầu t ký kết hợp đồng giao
nhận.
Giá thành sản phẩm là biểu hiện tập trung thành tích của doanh nghiệp trong việc
tổ chức và sử dụng các biện pháp kỹ thuật thực hiện sản xuất sản phẩm. Giá thành trong
xây lắp có nhiều loại, mỗi loại lại có ý nghĩa kinh tế riêng.
Giá thành sản phẩm luôn chứa đựng hai mặt khác nhau bên trong nó là chi phí sản
xuất và lợng giá trị thu đợc cấu thành trong khối lợng công việc hoàn thành. Hơn nữa,
chi phí biểu hiện về mặt hao phí, còn giá thành biểu hiện về mặt kết quả của quá trình
sản xuất. Đây là hai mặt thống nhất của một quá trình. Vì vậy, chúng giống nhau về mặt
chất, nhng xét về mặt khác chúng lại có sự độc lập tơng đối với nhau.
- Về l ợng : Trong giá thành bao gồm cả chi phí phát sinh ở kỳ trớc và loại trừ chi
phí ở kỳ này chuyển sang kỳ sau.
- Về thời gian: Trong giá thành, các khoản chi phí phát sinh ở kỳ trớc lại đợc tính
vào giá thành kỳ này, có những khoản chi phí kỳ này nhng không đợc tính vào giá thành
kỳ này mà chuyển sang kỳ sau. Giá thành và chi phí chỉ thống nhất về mặt lợng trong tr-
ờng hợp đối tợng tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành là một công trình, HMCT đ-
ợc hoàn thiện trong kỳ tính giá hoặc giá trị khối lợng xây lắp dở dang đầu kỳ và cuối kỳ
bằng nhau.
Để phản ánh đợc mối quan hệ giữa chi phí và giá thành đòi hỏi phải hạch toán chi
phí sản xuất đầy đủ và chi tiết, đồng thời còn vận dụng các phơng pháp kỹ thuật nhằm
nêu ra một cách chính xác giữa chi phí và kết quả sản xuất. Đó chính là mối quan hệ
giữa chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm.
1.5. Nhiệm vụ của kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
xây lắp.
Do đặc thù của ngành xây dựng cơ bản và sản phẩm xây lắp nên việc quản lý nói
chung rất khó khăn phức tạp, trong đó công tác quản lý chi phí dẫn đén tiết kiệm chi phí
xây lắp và hạ giá thành sản phẩm đang là một trong những mối quan tâm hàng đầu của
doanh nghiệp.
Theo " Điều lệ quản lý đầu t " của chính phủ:"công tác quản lý đầu t và XDCB
phải đảm bảo tạo ra nhữnh sản phẩm, dịch vụ đợc xuất hiện và thị trờng chấp nhận về
giá cả, chất lợng và đáp ứng đợc mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội trong từng thời
kỳ.... Xây dựng phải theo quy hoạch đợc duyệt, thiết
kế hợp lý, tiên tiến, thẩm mỹ, công nghệ xây dựng phải hiện đại, xây dựng đúng tiến độ
đạt chất lợng caovới chi phí hợp lý...."
Vì vậy, yêu cầu của công tác tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản
chi phí sản xuất có thể là nơi phát sinh chi phí hoặc đối tợng chịu chi phí. Việc xác định
đúng đối tợng tập hợp chi phí có tính chất quyết định tới việc lựa chọn phơng pháp kế
toán chi phí và tính giá thành sản phẩm.
Xuất phát từ đặc điểm trong XDCB, có quy trình công nghệ phức tạp, sản phẩm đ-
ợc sản xuất đơn chiếc riêng lẻ, theo đơn đặt hàng, và việc tổ chức sản xuất đợc tổ chức
thành nhiều khu vực thi công nên đối tợng tập hợp chi phí có thể là:
- Theo sản phẩm hoặc theo đơn đặt hàng : sản phẩm xây lắp là các công trình,
HMCT có dự toán riêng. Hàng tháng, chi phí sản xuất phát sinh có liên quan đến công
trình, HMCT nào thì đợc tập hợp vào đối tợng đó một cách thích hợp.
- Theo bộ phận sản phẩm: Đó là các giai đoạn xây lắp của công trình,HMCT có dự
toán riêng...Hàng tháng, chi phí sản xuất phát sinh đợc tập hợp cho từng giai đoạn xây
lắp có liên quan.
- Theo nhóm sản phẩm: áp dụng đối với đơn vị sản xuất vật liệu xây dựng, cấu
kiện lắp sẵn. Trong đó, quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm đợc chia thành nhiều
giai đoạn công nghệ, vật liệu đợc chế biến liên tục từ khâu đầu đến khâu cuối theo một
trình tự hất định. Chi phí đợc tập hợp cụ thể sau mỗi giai đoạn kết thúc.
Mặc dù, đối tợng tập hợp chi phí khá nhiều nhng trên thực tế các doanh nghiệp xây
lắp hiện nay thờng tập hợp chi phí theo công trình và HMCT. Tuy nhiên, việc xác định
đối tợng đúng và đầy đủ cần phải có những căn cứ cụ thể, phù hợp:
- Căn cứ vào tính chất và quy trình sản xuất sản phẩm phức tạp hay giản đơn,
nhiều hay ít giai đoạn công nghệ ...
- Loại hình sản xuất sản phẩm: sản xuất đơn chiếc hay hàng loạt.
Sinh viên thực hiện 16 Lơng
quang ngọc
Trờng Đại Học Mở Hà Chuyên Đề Tốt Nghiệp
- Đặc điểm tổ chức sản xuất: có hay không có phân xởng, đội sản xuất.
- Yêu cầu và trình độ quản lý của doanh nghiệp.
- Căn cứ vào đơn vị tính giá thành áp dụng trong doanh nghiệp.
Nh vậy, sự phức tạp và khác biệt của ngành XDCB cũng có ảnh hởng đến việc xác
mới đợc biểu hiện thành các khoản mục chi phí rổi mới biểu hiện thành các khoản mục
chi phí khi tính vào giá thành. Vịêc tập hợp chi phí và tính giá thành phải đợc tiến hành
theo một trình tự khoa học, hợp lý. Trong XDCB có thể khái quát việc tập hợp chi phí
sản xuất qua các bớc sau:
- B ớc 1: Tập hợp các chi phí sản xuất liên quan trực tiếp đến từng đối tợng sử
dụng(công trình, HMCT).
Sinh viên thực hiện 17 Lơng
quang ngọc
Trờng Đại Học Mở Hà Chuyên Đề Tốt Nghiệp
-B ớc 2 : Tính toán và phân bổ lao vụ của ngành sản xuất kinh doanh phụ có liên
quan trực tiếp cho từng đối tợng trên cơ sở khối lợng lao vụ phục vụ.
- B ớc 3 : Tập hợp và phân bổ chi phí sản xuất chung cho các sản phẩm có liên quan
theo tiêu thức phù hợp.
- B ớc 4 : Tổng hợp chi phí sản xuất, đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ. Từ đó tính
giá thành sản phẩm hoàn thành.
Ngoài ra, việc hạch toán chi tiết chi phí sản xuất còn phụ thuộc vào phơng pháp
hạch toán chi tiết hàng tồn kho mà doanh nghiệp sử dụng. Trớc đây, trong doanh nghiệp
xây lắp để hạch toán hàng tồn kho, có thể lựa chọn phơng pháp kê khai thờng xuyên
hoặc kiểm kê định kỳ. Theo quy định hiện hành, để hạch toán hàng tồn kho trong xây
lắp, kế toán chỉ áp dụng phơng pháp kê khai thờng xuyên . Ưu điểm của phơng pháp
này là theo dõi thờng xuyên liên tục tình hình biến động tăng, giảm của các yếu tố sản
xuất.
2.2.1 Kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Nguyên vật liệu trực tiếp bao gồm giá trị nguyên vật liệu chính ( xi măng, cát,
sỏi...), vật liệu phụ(sơn, phụ gia,...) các cấu kiện riêng lẻ, nhiên liệu( xăng, dầu..) và các
loại vật liệu khác đợc xuất dùng trực tiếp cho thi công (loại trừ nguyên, nhiên vật liệu
dùng cho máy móc thi công).
CPNVLTT thờng chiếm tỷ trọng lớn (70-80%) trong giá thành sản phẩm xây lắp
và đợc hạch toán trực tiếp cho từng công trình. Nếu vật t sử dụng chung cho nhiều công
Doanh nghiệp xây lắp có thể xuất vật t cho thi công từ kho hoặc mua vật t nhập
thẳng vào công trờng. Khi có nghiệp vụ phát sinh, kế toán căn cứ vào chứng từ gốc để
hạch toán.
- Trờng hợp vật t xuất từ kho của kho của đơn vị, chứng từ gốc là phiếu xuất vật t,
phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ hay phiếu xuất vật t theo hạn mức..
Trờng hợp vật t mua về nhập thẳng chân công trình, chứng từ gốc để hạch toán là
hoá đơn bán hàng, hoá đơn kiêm xuất kho của ngời bán .... trên cơ sở đó có thể lập bảng
phân bổ vật t cho công trình .
Để hạch toán, kế toán sử dụng TK 621 "chi phí nguyên vật liệu trực tiếp". Kết cấu
và nội dung phản ánh nh sau:
Bên Nợ:
-Trị giá thực tế nguyên liệu, vật liệu xuất dùng trực tiếp cho hoạt động xây lắp, sản
xuất công nghiệp , kinh doanh dịch vụ trong kỳ hạch toán(gồm có thuế GTGT, hoặc
không có thuế GTGT).
Bên Có:
- Trị giá nguyên liệu, vật liệu trực tiếp sử dụng không hết nhập lại kho.
- Kết chuyển hoặc tính phân bổ trị giá nguyên vật liệu thực tế sử dụng trong các
hoạt động xây lắp trong kỳ vào TK 154 - chi phí sản xuất kinh doanh dở dang, và chi
tiết cho các đối tợng để tính giá thành công trình xây lắp, giá thành sản phẩm , dịch vụ,
lao vụ. . .
TK 621 không có số d cuối kỳ.
* Ph ơng pháp kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp đ ợc khái quát theo sơ đồ
sau:
Sinh viên thực hiện 22 Lơng
quang ngọc
Trờng Đại Học Mở Hà Chuyên Đề Tốt Nghiệp
Sơ đồ kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
TK152,153 TK 621 TK 152,153,111..
Xuất NVL,CCDC Thu hồi vật t sử dụng
Trờng Đại Học Mở Hà Chuyên Đề Tốt Nghiệp
Kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp vào bên Nợ TK 154 - chi phí sản xuất kinh
doanh dở dang.
TK 622 không có số d cuối kỳ.
* Phơng pháp kế toán chi phí nhân công trực tiếp đợc khái quát theo sơ đồ sau:
Sinh viên thực hiện 24 Lơng
quang ngọc
Trờng Đại Học Mở Hà Chuyên Đề Tốt Nghiệp
Sơ đồ kế toán chi phí nhân công trực tiếp
Sinh viên thực hiện 25 Lơng
quang ngọc