Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Các chi phí sản xuất khác của giai đoạn 1
Giá thành NTP giai đoạn 1
Chi phí sx NTP của giai đoạn 1 chuyển sang
Chi phí chế biến của giai đoạn n
Giá thành của thành phẩm
Chi phí sx NTP của giai đoạn ( n-1 ) chuyển sang
Giá thành NTP giai đoạn 2
Chi phí chế biến của giai đoạn 2
Chứng từ gốc, các bảng phân bổNhật ký- sổ cái TK 621, 622, 627, 154 (631)Sổ chi tiết TK 621,622,627Bảng tính giá thành sản phẩmSổ chi tiết TK 154 (631)Báo cáo kế toánHệ thống bảng phân bổ, các chứng từ gốc liên quanSổ chi tiết TK 621.622,627,154,631Nhật ký chungBảng tính giá thành sản phẩmSổ cái TK 621, 622,627, 154, 631Hệ thống báo cáo tài chínhBảng cân đối số phát sinhHệ thống bảng phân bổ, chứng từ gốc liên quanSổ đăng ký chứng từ ghi sổChứng từ ghi sổSổ chi tiết TK 621,622.627,154,631Sổ cái TK 621,622,627,154,631Bảng tính giá thành sản phẩmBảng cân đối số phát sinhBáo cáo kế toán
Các bảng phân bổ và chứng từ gốcliên quan
Bảng kê số 4
Bảng kê số 5
Bảng kê số 6
Bảng tính giá thành sản phẩm
Nhật ký chứng từ số 7
Sổ cái TK 621,622,617,154,631
Báo cáo kế toán
Đại hội cổ đông
Hội đồng quản trị
Giám đốc
Ban kiểm soát
Các phó Giám đốc
Kế toán trưởng
Phòng cơ điện
Phòng kỹ thuật hoá nghiệm
Phòng Kinh tế kế hoạch
Phòng vật tư tiêu thụ
Phòng tổ chức hành chính
Phòng tài chính kế toán
Xưởng
xuất, đồng thời tìm ra các biện pháp tốt nhất để giảm chi phí không cần thiết, tránh
lãng phí. Một trong những biện pháp hữu hiệu để quản lý chi phí, hạ giá thành và
nâng cao chất lượng sản phẩm là công tác kế toán mà trong đó kế toán tập hợp chi phí
sản xuất và tính giá thành sản phẩm luôn được xác định là khâu quan trọng và là trọng
tâm của toàn bộ công tác chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm. Mặt khác, trong
quá trình hoàn thiện công tác kế toán của doanh nghiệp thì đây là công việc rất cần
thiết và có ý nghĩa vô cùng quan trọng.
Cũng như nhiều doanh nghiệp khác, Công ty cổ phần xi măng Sông Đà đã không
ngừng đổi mới, hoàn thiện để đứng vững và phát triển trên thị trường. Trong đó công tác
kế toán nói chung, kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành nói riêng ngày càng được
coi trọng.
Xuất phát từ những lý do trên, trong thời gian thực tập tại công ty cổ phần xi
măng Sông Đà với sự hướng dẫn tận tình của cô giáo TS. Nguyễn Thanh Quý cùng các
anh chị phòng Tài chính – Kế toán công ty, em đã đi sâu nghiên cứu tìm hiểu và lựa chọn
đề tài “Hoàn thiện công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm ở
công ty cổ phần xi măng Sông Đà” làm đề tài cho luận văn tốt nghiệp của mình.
Luận văn được trình bày trong 3 chương:
Đỗ Minh Ngọc- Kế toán tổng hợp 45B
Chương 1: Cơ sở lý luận chung về kế toán chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm trong doanh nghiệp.
Chương 2: Thực trạng công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành
sản phẩm ở công ty cổ phần xi măng Sông Đà.
Chương 3: Phương hướng hoàn thiện và nâng cao công tác kế toán chi phí
sản xuất và giá thành sản phẩm ở công ty cổ phần xi măng Sông Đà.
Em rất mong nhận được sự góp ý của thầy cô trong bộ môn kế toán cũng như của
các cán bộ nhân viên kế toán ở Công ty cổ phần xi măng Sông Đà để hoàn thiện hơn nữa
luận văn tốt nghiệp của mình.
Em xin chân thành cảm ơn!
2
Luận văn tốt nghiệp Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
phẩm nhiều nhất với chi phí ít nhất. Giá thành sản phẩm chỉ bao gồm những chi phí liên
Đỗ Minh Ngọc- Kế toán tổng hợp 45B
quan đến khối lượng sản phẩm nhất định đã hoàn thành hoặc hoàn thành một số giai
đoạn công nghệ (nửa thành phẩm). Đối với mỗi loại sản phẩm sản xuất ra nếu giá bán
không đổi thì lợi nhuận thu được sẽ tỷ lệ nghịch với giá thành sản xuất sản phẩm đó
1.1.1.3. Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
Về bản chất chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là biểu hiện hai mặt của quá
trình sản xuất kinh doanh, cũng giống nhau về bản chất vì cùng đều biểu hiện bằng tiền
những hao phí về lao động sống và lao động vật hoá bỏ ra nhưng khác nhau về mặt
lượng. Khi nói đến chi phí sản xuất là giới hạn chúng trong một thời kỳ nhất định, tính
cho một đại lượng kết quả hoàn thành nhất định.
Đứng trên góc độ quá trình hoạt động để xem xét thì quá trình sản xuất là một quá
trình hoạt động liên tục, còn việc tính giá thành sản phẩm thực hiện tại một điểm cắt có
tính chất chu kỳ để so sánh chi phí với khối lượng sản phẩm lao vụ, dịch vụ hoàn thành.
Tại thời điểm tính giá thành có thể có một khối lượng sản phẩm chưa hoàn thành, chứa
đựng một lượng chi phí cho nó là chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ. Tương tự như vậy,
đầu kỳ có thể có một số khối lượng sản phẩm sản xuất chưa hoàn thành ở kỳ trước
chuyển sang và một phần của chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ.
Giá thành được sản xuất theo công thức sau:
Giá thành
sản xuất
=
Giá trị sản phẩm
dở dang đầu kỳ +
Chi phí phát
sinh trong kỳ -
Giá trị sản phẩm
dở dang cuối kỳ
Như vậy, chi phí sản xuất khác với giá thành sản phẩm cả về phạm vi cấu thành,
nhưng chi phí sản xuất là cơ sở duy nhất để tính giá thành sản phẩm.
Chi phí nhân công gián tiếp: là các chi phí tiền lương của tất cả các lao động gián
tiếp như: đốc công, nhân viên kỹ thuật phân xưởng, thợ sửa chữa… và các khoản trích
theo lương.
Chi phí phân xưởng khác: nhóm này bao gồm các chi phí khác để vận hành phân
xưởng như: chi phí khấu hao máy móc, chi phí điện nước…
-Tác dụng của cách phân loại này:
+ Là cơ sở để lập kế hoạch giá thành, tổ chức giá thành theo khoản mục
+ Là căn cứ để hạch toán chi phí theo địa điểm phát sinh nhằm thực hiện và tăng cường
hạch toán kinh tế trong nội bộ doanh nghiệp.
1.1.2.1.2. Phân loại chí phí theo nội dung kinh tế của chi phí sản xuất
- Nội dung: Theo cách phân loại này chi phí sản xuất bao gồm:
+Chi phí nguyên vật liệu gồm: Vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng
thay thế, thiết bị xây dựng cơ bản mà doanh nghiệp sử dụng cho hoạt động sản xuất.
Đỗ Minh Ngọc- Kế toán tổng hợp 45B
+Chi phí nhân công: Là toàn bộ tiền công phải trả, các khoản trích theo lương của
cán bộ công nhân viên thực hiện hoạt động sản xuất của doanh nghiệp.
+Chi phí khấu hao TSCĐ: Là toàn bộ số tiền trích khấu hao sử dụng cho sản xuất
của doanh nghiệp.
+ Chi phí dịch vụ mua ngoài: Là toàn bộ số tiền doanh nghiệp đã chi trảvề các
loại dịch vụ mua từ bên ngoài như điện, nước... phục vụ cho hoạt đông sản xuất của
doanh nghiệp.
+ Chi phí bằng tiền khác: Là toàn bộ chi phí phát sinh trong quá trình sản xuất
ngoài bốn yếu tố trên.
- Tác dụng: Cách phân loại này có ý nghĩa lớn với quản lý của nhà nước, là căn cứ để
xây dựng kế hoạch và lập cân đối chung của doanh nghiệp, của ngành và nền kinh tế
+ Là căn cứ lập, chấp hành dự toán chi phí sản xuất theo yếu tố.
+ Là căn cứ xác định mức tiêu hao vật chất và tính thu nhập quốc dân.
1.1.2.1.3. Phân loại chi chí sản xuất theo cách ứng xử của chi phí:
- Nội dung: Theo cách phân loại này chi phí sản xuất dược chia ra thành:
+ Chi phí khả biến (Biến phí): Là những chi phí sản xuất thay đổi tỉ lệ với mức
toán tập hợp chi phí. Chúng ta có thể quy nạp trực tiếp cho từng đối tượng chịu chi phí
căn cứ vào chứng từ ban đầu. Loại chi phí này thường chiếm tỷ trọng lớn trong chi phí,
chúng dễ nhận biết và hạch toán chính xác. Như vậy, xét về bản chất thì chi phí trực tiếp
là chi phí mà tự bản thân nó hiển nhiên được chuyển vào đơn vị sản phẩm.
+ Chi phí gián tiếp: Là các loại chi phí có liên quan đến nhiều đối tượng kế toán
tập hợp chi phí nên không thể quy nạp trực tiếp được mà phải tập hợp, quy nạp cho từng
đối tượng theo tiêu chuẩn phù hợp. Do vậy, để xác định chi phí gián tiếp của một hoạt
động cụ thể phải áp dụng phương pháp phân bổ.
1.1.2.1.5. Phân loại chi phí sản xuất theo mối quan hệ với quy trình công nghệ sản xuất
sản phẩm và quá trình kinh doanh
- Nội dung: Theo cách phân loại này chi phí sản xuất bao gồm
+ Chi phí cơ bản: Là các chi phí liên quan trực tiếp đến quy trình công nghệ chế
tạo sản phẩm như chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí
khấu hao TSCĐ dùng trực tiếp vào sản xuất sản phẩm.
+ Chi phí chung: Là chi phí liên quan đến phục vụ và quản lý sản xuất có tính
chất chung như chi phí quản lý doanh nghiệp.
- Tác dụng: Giúp các nhà quản lý doanh nghiệp có những thông tin đúng đắn, chân thực
về chi phí, kết quả, lợi nhuận cho từng sản phẩm, dịch vụ và từng loại hoạt động của
doanh nghiệp.
Đỗ Minh Ngọc- Kế toán tổng hợp 45B
1.1.2.2. Phân loại giá thành sản phẩm
1.1.2.2.1. Phân loại giá thành theo thời gian và cơ sở số liệu tính giá
- Giá thành kế hoạch: Là giá thành được tính trên cơ sở chi phí sản xuất kế hoạch
và số lượng kế hoạch, việc tính toán do bộ phận kế hoạch lập trước khi bắt đầu sản xuất.
Nó là mục tiêu phấn đấu của doanh nghiệp, là căn cứ so sánh, phân tích, đánh giá tình
hình thực hiện kế hoạch giá thành của doanh nghiệp
- Giá thành định mức: Là giá thành sản phẩm được tính trên cơ sở định mức chi
phí hiện hành và chỉ tính cho đơn vị sản phẩm. Nó cũng được tính trước khi sản xuất,
chế tạo sản phẩm, là công cụ để quản lý định mức ở đơn vị, là thước đo chính xác để
xác định kết quả sử dụng tài sản, vật tư, lao động trong sản xuất.
việc tổ chức kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm như sau:
- Cần nhận thức đúng đắn vị trí, vai trò của kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản
phẩm trong toàn bộ hệ thống kế toán doanh nghiệp, mối quan hệ với các bộ phận kế toán
liên quan, trong đó kế toán các yếu tố chi phí là tiền đề cho kế toán chi phí và tính giá
thành.
- Căn cứ vào đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh, quy trình công nghệ sản xuất, loại
hình sản xuất, đặc điểm của sản phẩm, khả năng hạch toán, yêu cầu quản lý cụ thể của
doanh nghiệp để lựa chọn, xác định đúng đắn đối tượng kế toán chi phí sản xuất, lựa
chọn phương pháp tập chi phí sản xuất theo các phương án phù hợp với điều kiện của
doanh nghiệp.
- Căn cứ vào đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh, đặc điểm của sản phẩm, khả năng
và yêu cầu quản lý cụ thể của doanh nghiệp để xác định tính giá thành cho phù hợp.
- Trên cơ sở mối quan hệ giữa đối tượng kế toán chi phí sản xuất và đối tượng tính giá
thành, xác định phương pháp tập hợp chi phí và tính giá thành cho phù hợp và khoa học.
- Tổ chức bộ máy kế toán một cách khoa học, hợp lý trên cơ sở phân công rõ ràng trách
nhiệm từng nhân viên, từng bộ phận kế toán có liên quan đặc biệt đến bộ phận kế toán
các yếu tố chi phí.
- Thực hiện tổ chức chứng từ, hạch toán ban đầu hệ thống tài khoản, sổ kế toán phù hợp
với nguyên tắc, chuẩn mực, chế độ kế toán đảm bảo đáp ứng nhu cầu thu nhận, xử lý, hệ
thống hoá thông tin về chi phí, giá thành của doanh nghiệp .
- Thường xuyên kiểm tra thông tin về kế toán chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm của
các bộ phận kế toán liên quan và bộ phận kế toán chi phí và giá thành sản phẩm.
- Tổ chức lập và phân tích các báo cáo về chi phí, giá thành sản phẩm, cung cấp những
thông tin cần thiết về chi phí, giá thành sản phẩm giúp cho các nhà quản trị doanh nghiệp
Đỗ Minh Ngọc- Kế toán tổng hợp 45B
đưa ra được các quyết định một cách nhanh chóng, phù hợp với quá trình sản xuất- tiêu
thụ sản phẩm.
1.2. Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp:
1.2.1. Đối tượng của kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm:
Đối tượng của kế chi phí sản xuất là phạm vi giới hạn mà chi phí sản xuất phải
khi xác định đối tượng kế toán chi phí sản xuất, việc xác định đối tượng tính giá thành
cũng cần phải căn cứ vào đặc điểm tổ chức sản xuất, quản lý sản xuất, quy trình công
nghệ sản xuất sản phẩm, khả năng và yêu cầu quản lý cũng như tính chất của từng loại
sản phẩm cụ thể.
Kỳ tính giá thành là thời kỳ bộ phận kế toán giá thành cần phải tiến hành các
công việc tính giá thành cho các đối tượng tính giá thành.
Khi xác định kỳ tính giá thành cần căn cứ vào:
- Đặc điểm tổ chức sản xuất: Nếu tổ chức sản xuất nhiều, khối lượng lớn chu kỳ
sản xuất ngắn, xen kẽ và liên tục thì kỳ tính giá thành thích hợp là hàng tháng. Nếu tổ
chức sản xuất đơn chiếc hoặc sản xuất hàng loạt theo đơn đặt hàng thì khi nào sản phẩm
hoàn thành hoặc đơn đặt hàng hoàn thành mới tính giá thành.
- Ngoài ra còn căn cứ vào đặc điểm của sản phẩm, yêu cầu và trình độ quản lý
cũng ảnh hưởng đến kỳ tính giá thành.
1.2.2. Phương pháp tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành trong doanh nghiệp:
1.2.2.1. Phương pháp tập hợp chi phí sản xuất:
Để tập hợp chi phí sản xuất đầy đủ và chính xác cho các đối tượng tập hợp chi
phí sản xuất thì tuỳ thuộc vào đặc điểm của các chi phí đã chi ra để vận dụng phương
pháp tập hợp chi phí sản xuất cho phù hợp. Hiện nay người ta thường dùng hai phương
pháp chủ yếu là: Phương pháp tập hợp trực tiếp và phương pháp phân bổ gián tiếp.
1.2.2.1.1. Phương pháp tập hợp trực tiếp.
Được áp dụng trong trường hợp chi phí sản xuất có liên quan trực tiếp từng đối
tượng tập hợp chi phí như: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, nhân công trực tiếp. Căn cứ
vào các chứng từ liên quan đến chi phí trực tiếp, kế toán phải xác định đúng đối tượng
trên cơ sở đó kế toán lập bảng kê tập hợp chi phí trực tiếp cho các đối tượng có liên quan
để ghi trực tiếp vào các tài khoản tổng hợp và chi tiết theo đúng đối tượng.
+ Ưu điểm: Tập hợp chi phí chính xác nhất đồng thời theo dõi chi phí liên quan
tới các đối tượng cần theo dõi.
+ Nhược điểm: Không áp dụng được chi phí liên quan đến nhiều đại lượng và
không thể theo dõi riêng được. Tốn nhiều thời gian và công sức.
Đỗ Minh Ngọc- Kế toán tổng hợp 45B
dở dang đầu kỳ phát sinh trong kỳ dở dang cuối kỳ
(Trong đó: Z là tổng giá thành sản phẩm)
1.2.2.2.2. Phương pháp tổng cộng chi phí:
12
Luận văn tốt nghiệp Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Z = C1 + C2 + C3 +....+ Cn
Trong đó: C1, C2, C3... Cn là chi phí SXKD ở giai đoạn 1,2,...n. Phương pháp
này áp dụng trong trường hợp đối tượng tập hợp chi phí là các giai đoạn công việc còn
đối tượng tính giá thành là sản phẩm lao vụ, dịch vụ hoàn thành.
1.2.2.2.3. Phương pháp hệ số:
Áp dụng trong trường hợp đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là toàn bộ quy trình
công nghệ hoặc nhóm sản phẩm, còn đối tượng tính giá thành là từng sản phẩm. Căn cứ
vào hệ số chi phí, kế toán ẽ quy đổi các loại sản phẩm về sản phẩm gốc rồi dựa vào tổng
chi phí liên quan đến giá thành các lạo sản phẩm đã tập hợp để tính giá thành sản phẩm
gốc và giá thành từng loại sản phẩm.
Số lượng quy đổi sản
phẩm gốc
= Tổng sản lượng thực tế của
từng loại
x Hệ số chi phí
từng loại sp
Giá thành đvsp từng loại = Giá thành đvsp gốc x hệ số chi phí
Giá thành đvsp
gốc
=
Tổng giá thành các loại sản phẩm
Số lượng sản phẩm gốc
1.2.2.2.4. Phương pháp tỷ lệ:
Phương pháp này áp dụng trong trường hợp đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là
nhóm sản phẩm còn đối tượng tính giá thành là từng sản phẩm. Căn cứ vào tỷ lệ chi phí
+ + +
Theo sơ đồ trên trình tự tính giá thành của nửa thành phẩm tự chế ở từng giai
đoạn và giá thành của thành phẩm ở giai đoạn cuối cùng được thực hiện như sau:
- Trước hết căn cứ vào chi phí sản xuất đã tập hợp được ở giai đoạn 1 để tính ra
tổng giá thành và giá thành đơn vị của nửa thành phẩm tự chế giai đoạn 1.
- Sau đó xác định chi phí sản xuất giai đoạn 1 chuyển sang cho giai đoạn sau,
cùng với bản thân chi phí của giai đoạn đó tổ chức tính giá thành nửa thành phẩm của
giai đoạn này, cứ kế tiếp liên tục như vậy cho đến giai đoạn cuối cùng sẽ tính được giá
thành của thành phẩm.
14
Luận văn tốt nghiệp Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
- Việc kết chuyển chi phí từ giai đoạn trước sang giai đoạn sau có thể được thực
hiện tuần tự từng khoản mục chi phí hoặc thực hiện tuần tự tổng hợp chung cho tất cả
các khoản mục chi phí.
*Tính giá thành phân bước không tính giá thành nửa thành phẩm (phương pháp kết
chuyển song song ).
Trong trường hợp này, kế toán không cần tính giá thành bán thành phẩm hoàn
thành trong từng giai đoạn mà chỉ tính giá thành thành phẩm hoàn thành bằng cách tổng
hợp chi phí NVL chính và các chi phí chế biến khác trong các giai đoạn công nghệ.
Muốn vậy chỉ xác định phần chi phí sản xuất của từng giai đoạn nằm trong thành phẩm.
Sau đó tổng cộng chi phí sản phẩm đã sản xuất của các giai đoạn nằm trong thành phẩm
ta sẽ có giá thành thành phẩm.
Giá thành
thành phẩm =
CPSX giai
đoạn 1 +
CPSX giai
đoạn 2 + ....
CPSX giai
phẩm hoặc thực hiện cung cấp dịch vụ, lao vụ.
Đối với vật liệu khi xuất dùng có liên quan trực tiếp đến nhiều đối tượng tập hợp
chi phí riêng biệt (phân xưởng, bộ phận sản xuất hoặc sản phẩm, loại sản phẩm, lao
vụ...) thì hạch toán trực tiếp vào đối tượng đó. Trong trường hợp vật liệu xuất dùng có
liên quan đến nhiều đối tượng không thể tập hợp trực tiếp cho từng đối tượng được thì
phải lựa chọn các tiêu thức hợp lý để tiến hành phân bổ chúng cho các đối tượng liên
quan. Chi phí nguyên vật liệu chính, nửa thành phẩm mua ngoài có thể chọn tiêu chuẩn
phân bổ là: Chi phí định mức, chi phí kế hoạch, khối lượng sản phẩm sản xuất. Chi phí
vật liệu phụ, nhiên liệu có thể chọn tiêu thức phân bổ là chi phí định mức, chi phí kế
hoạch, chi phí nguyên vật liệu chính.
Để hạch toán chi phí nguyên vật liệu phát sinh trong kỳ, kế toán sử dụng
TK 621: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, với kết cấu như sau:
Bên Nợ: Trị giá thực tế nguyên vật liệu xuất dùng trực tiếp cho sản xuất sản phẩm
hoặc thực hiện dịch vụ trong kỳ hạch toán.
Bên Có: - Kết chuyển trị giá nguyên vật liệu thực tế dùng cho sản xuất kinh
doanh trong kỳ vào TK 154 hoặc TK 631 và chi tiết cho từng đối tượng để tính giá thành
sản phẩm.
- Kết chuyển chi phí nguyên vật liệu vượt mức bình thường vào TK 632
- Trị giá nguyên vật liệu trực tiếp sử dụng không hết nhập lại kho.
TK 621 không có số dư cuồi kỳ.
Sơ đồ 1.2: Kế toán chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp
TK 152 TK 621 TK 154
Vật liệu xuất kho sử dụng trực tiếp Kết chuyến CPNVLTT
16
Luận văn tốt nghiệp Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
cho sản xuất sản phẩm (theo phương pháp KKTX)
TK 611 TK 631
Trị giá NVL xuất kho sử dụng Kết chuyếnCPNVLTT
trong kỳ cho sx sản phẩm (theo phương pháp KKĐK)
(theo phương pháp KKĐK)
ăn ca phải trả CNTTSX (theo phương pháp KKTX)
TK 335 TK 631
Trích trước tiền lương nghỉ Kết chuyển CPNCTT
phép của công nhân (theo phương pháp KKĐK)
TK 338 TK 632
Các khoản trích về CPNCTT vượt trên
BHXH, BHYT, KPCĐ mức bình thường
1.2.3.3. Kế toán chi phí sản xuất chung
Chi phí sản xuất chung là những chi phí quản lý phục vụ sản xuất và những chi
phí phát sinh ở các phân xưởng, đội sản xuất. Trong trường hợp doanh nghiệp sản xuất
nhiều loại sản phẩm, lao vụ, dịch vụ thì phải tiến hành phân bổ chi phí sản xuất chung
cho từng loại thông qua các tiêu thức phân bổ phù hợp. Để tập hợp và phân bổ chi phí
sản xuất chung kế toán sử dụng TK627- Chi phí sản xuất chung, kết cấu tài khoản này
như sau: Bên Nợ: Các chi phí sản xuất chung phát sinh trong kỳ.
Bên Có: - Các khoản ghi giảm chi phí sản xuất chung
- Chi phí sản xuất chung cố định không phân bổ được ghi vào giá
vốn hàng bán trong kỳ do mức sản xuất thực tế thấp hơn công suất bình thường.
- Kết chuyển chi phí sản xuất chung để tính giá thành sản phẩm.
TK 627 không có số dư cuối kỳ.
18
Luận văn tốt nghiệp Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Sơ đồ 1.4: Kế toán chi phí sản xuất chung
TK 334,338 TK 627 TK 111,112,152…
Chi phí nhân viên và các khoản Các khoản thu giảm chi
BHXH, BHYT, KPCĐ phân xưởng
TK 152, 153 TK 154
Chi phí vật liệu, công cụ Phân bổ, kết chuyển CPSXC
(theo phương pháp KKTX)
TK 111,112,331… TK 133 TK 631
sản phẩm Số lượng sản phẩm hoàn thành
* Nếu doanh nghiệp áp dụng phương pháp kê khai thường xuyên: Kế toán sử
dụng TK 154: Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang để tập hợp chi phí sản xuất phát sinh
Đỗ Minh Ngọc- Kế toán tổng hợp 45B
trong kỳ. Tài khoản này có số dư bên Nợ phản ánh chi phí sản xuất kinh doanh còn dở
dang cuối kỳ với kết cấu như sau:
Bên Nợ: - Các chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi
phí sản xuất chung phát sinh trong kỳ liên quan đến sản xuất sản phẩm và dịch vụ
- Kết chuyển chi phí sản xuất kinh doanh dở dang cuối kỳ (trường hợp
doanh nghiệp hạch toán theo phương pháp kiểm kê định kỳ)
Bên Có: - Giá thành sản xuất của sản phẩm nhập kho hoặc chuyển đi bán
- Trị giá phế liệu thu hồi, giá trị sản phẩm hỏng không sửa chữa được.
- Trị giá vật tư, hàng hóa gia công xong nhập kho
- Kết chuyển chi phí sản xuất kinh doanh dở dang đầu kỳ (trường hợp
doanh nghiệp hạch toán theo phương pháp kiểm kê định kỳ).
Sơ đồ 1.5:Kế toán tổng hợp chi phí sản xuất (phương pháp kê khai thường xuyên)
TK 154 TK 152, 156
TK621,622
Dư: giá trị SPDD đầu kỳ:
Kết chuyển CPNVLTT, CPNCTT Vật tư, hàng hóa gia công
hoàn thành nhập kho
TK 155
TK 627 Giá thành sản xuất
thành phẩm nhập kho
Phân bổ, kết chuyển CPSXC
TK 632
Sản phẩm hoàn thành tiêu thụ ngay
Dư cuối kỳ: giá trị SPDD cuối kỳ
1.3.1. Đánh giá sản phẩm dở dang theo chi phí vật liệu chính trực tiếp (hoặc chi phí
vật liệu trực tiếp).
Theo phương pháp này, sản phẩm dở dang cuối kỳ chỉ tính toán phần chi phí
nguyên liệu, vật liệu chính trực tiếp (hoặc chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp), còn
những chi phí khác phát sinh trong kỳ đều tính hết cho sản phẩm hoàn thành trong kỳ.
= x
Đỗ Minh Ngọc- Kế toán tổng hợp 45B
Phương pháp này giản đơn, nhưng mức độ chính xác thấp, chỉ áp dụng ở những
doanh nghiệp mà chi phí nguyên vật liệu trực tiếp chiếm tỷ trọng lớn trong giá thành sản
phẩm.
1.3.2. Đánh giá sản phẩm dở dang theo sản lượng hoàn thành tương đương
Theo phương pháp này, căn cứ vào số lượng và mức độ hoàn thành của sản phẩm
dở dang để quy đổi sản phẩm dở dang thành sản phẩm hoàn thành tương đương. Tiêu
chuẩn để quy đổi sản phẩm tương đương thường được sử dụng là giờ công định mức
hoặc tiền lương định mức. Giá trị sản phẩm dở dang cuối kỳ được tính như sau:
Giá trị sản phẩm dở dang cuối kỳ
=
Giá trị sản phẩm dở dang đầu kỳ
+
Chi phí phát sinh trong kỳ
x
Số lượng sản phẩm dở dang cuối kỳ
x
% hoàn hành
Số lượng sản phẩm hoàn thành
+
Số lượng sản phẩm dở dang cuối kỳ
x
% hoàn thành
22
bằng thủ công.
Đỗ Minh Ngọc- Kế toán tổng hợp 45B
Sơ đồ 1.7: Quy trình ghi sổ theo hình thức sổ kế toán Nhật ký- sổ cái
Chú thích:
: Ghi hàng ngày
: Ghi định kỳ ( cuối tháng)
: Đối chiếu
1.42. Hình thức sổ kế toán Nhật ký chung:
Hình thức Nhật ký chung thường được áp dụng trong các doanh nghiệp có quy
mô vừa và lớn, với mọi trình độ quản lý và trình độ kế toán. Hình thức này đặc biệt
thuận lợi và phù hợp trong những doanh nghiệp áp dụng kế toán máy.
Sơ đồ 1.8: Quy trình ghi sổ theo hình thức sổ Nhật ký chung
1.43. Hình thức sổ kế toán Chứng từ ghi sổ:
24
Luận văn tốt nghiệp Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Áp dụng phù hợp với những doanh nghiệp có quy mô vừa và lớn trong mọi trình độ
quản lý, trình độ kế toán và tại các đơn vị thực hiện công tác kế toán bằng máy vi tính.
Sơ đồ 1.9: Quy trình ghi sổ theo hình thức Chứng từ ghi sổ
1.4.4. Hình thức sổ Nhật ký- Chứng từ:
Hình thức này áp dụng với các doanh nghiệp có quy mô lớn, trình độ kế toán, trình
độ quản lý tương đối cao, nhưng thức hiện công tác kế toán chủ yếu bằng thủ công.
Sơ đồ 1.10: Quy trình ghi sổ theo hình thức Nhật ký- chứng từ
1.5. Khái quát chung về kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm ở
một số nước trên thế giới:
1.5.1. Kế toán Pháp:
Đỗ Minh Ngọc- Kế toán tổng hợp 45B