1
Luận văn tốt nghiệp Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
LỜI MỞ ĐẦU
Hiện nay, nước ta đang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, cùng với tiến
trình Công nghiệp hoá- hiện đại hoá, mở cửa thị trường, tạo điều kiện cho sự phát triển
kinh tế, nâng cao đời sống vật chất tinh thần, đưa kinh tế Việt Nam hội nhập với kinh tế
thế giới. Cơ hội này cũng gắn liền với những thách thức đòi hỏi các doanh nghiệp phải
luôn nỗ lực hết mình để đứng vững và phát triển. Hạ giá thành, thay đổi mẫu mã, nâng
cao chất lượng hàng hoá, marketing là các biện pháp mà các công ty thường áp dụng để
đẩy mạnh quá trình tiêu thụ sản phẩm.
Hạ giá thành là một trong những biện pháp đầu tiên mà các doanh nghiệp thường
tính đến và áp dụng. Tuy nhiên, hạ giá thành không phải bao giờ cũng cho kết quả như
mong muốn, đòi hỏi cả một quá trình nghiên cứu kỹ lưỡng để đưa ra giá cả tối ưu một
cách nhanh nhạy nhưng không kém phần thận trọng.
Để đạt được mục tiêu đó, các doanh nghiệp phải quản lý chặt chẽ chi phí sản
xuất, đồng thời tìm ra các biện pháp tốt nhất để giảm chi phí không cần thiết, tránh
lãng phí. Một trong những biện pháp hữu hiệu để quản lý chi phí, hạ giá thành và
nâng cao chất lượng sản phẩm là công tác kế toán mà trong đó kế toán tập hợp chi phí
sản xuất và tính giá thành sản phẩm luôn được xác định là khâu quan trọng và là trọng
tâm của toàn bộ công tác chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm. Mặt khác, trong
quá trình hoàn thiện công tác kế toán của doanh nghiệp thì đây là công việc rất cần
thiết và có ý nghĩa vô cùng quan trọng.
Cũng như nhiều doanh nghiệp khác, Công ty cổ phần xi măng Sông Đà đã không
ngừng đổi mới, hoàn thiện để đứng vững và phát triển trên thị trường. Trong đó công tác
kế toán nói chung, kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành nói riêng ngày càng được
coi trọng.
Xuất phát từ những lý do trên, trong thời gian thực tập tại công ty cổ phần xi
măng Sông Đà với sự hướng dẫn tận tình của cô giáo TS. Nguyễn Thanh Quý cùng các
anh chị phòng Tài chính – Kế toán công ty, em đã đi sâu nghiên cứu tìm hiểu và lựa chọn
đề tài “Hoàn thiện công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm ở
công ty cổ phần xi măng Sông Đà” làm đề tài cho luận văn tốt nghiệp của mình.
Xét về bản chất chi phí sản xuất là sự chuyển dịch vốn của doanh nghiệp vào đại
lượng tính giá thành nhất định, nó là vốn của doanh nghiệp bỏ vào quá trình sản xuất.
Chi phí sản xuất của doanh nghiệp phát sinh thường xuyên trong quá trình sản xuất và
hoạt động của doanh nghiệp mà biểu hiện của nó là các tư liệu lao động, các chi phí dịch
vụ mua ngoài và các chi phí bằng tiền... Để phục vụ cho quản lý và hạch toán kinh doanh
thì mọi chi phí chi ra đều được biểu hiện bằng thước đo tiền tệ và phải được hạch toán
theo từng thời kỳ hàng tháng, hàng quý, hàng năm phù hợp với kỳ báo cáo. Như vậy, chi
phí gắn liền với một kỳ, là đại lượng xác định, có thể đo lường tính toán.
1.1.1.2. Giá thành sản phẩm
Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền toàn bộ những hao phí về lao động
sống và lao động vật hoá và chi phí khác được tính trên một khối lượng kết quả sản
phẩm lao vụ, dịch vụ hoàn thành.
Giá thành sản phẩm là một chỉ tiêu mang tính giới hạn và xác định, vừa mang tính
chất khách quan vừa mang tính chủ quan. Trong hệ thống các chỉ tiêu quản lý của doanh
nghiệp, giá thành sản phẩm là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, phản ánh kết quả sử dụng các
loại tài sản, vật tư, lao động động tiền vốn trong quá trình sản xuất cũng như các giải
pháp kinh tế, kỹ thuật doanh nghiệp đã thực hiện nhằm mục đích sản xuất khối lượng sản
phẩm nhiều nhất với chi phí ít nhất. Giá thành sản phẩm chỉ bao gồm những chi phí liên
quan đến khối lượng sản phẩm nhất định đã hoàn thành hoặc hoàn thành một số giai
Đỗ Minh Ngọc- Kế toán tổng hợp 45B
4
Luận văn tốt nghiệp Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
đoạn công nghệ (nửa thành phẩm). Đối với mỗi loại sản phẩm sản xuất ra nếu giá bán
không đổi thì lợi nhuận thu được sẽ tỷ lệ nghịch với giá thành sản xuất sản phẩm đó
1.1.1.3. Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
Về bản chất chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là biểu hiện hai mặt của quá
trình sản xuất kinh doanh, cũng giống nhau về bản chất vì cùng đều biểu hiện bằng tiền
những hao phí về lao động sống và lao động vật hoá bỏ ra nhưng khác nhau về mặt
lượng. Khi nói đến chi phí sản xuất là giới hạn chúng trong một thời kỳ nhất định, tính
cho một đại lượng kết quả hoàn thành nhất định.
Đỗ Minh Ngọc- Kế toán tổng hợp 45B
5
Luận văn tốt nghiệp Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
rõ ràng cho từng sản phẩm. Nguyên vật liệu được nhận rõ trong từng sản phẩm vì nó đặc
trưng cho đặc tính dễ thấy nhất của sản phẩm đã được sản xuất. Ngoài ra, việc sản xuất
sản phẩm cũng cần có các chi phí nguyên vật liệu gián tiếp như: các nguyên vật liệu phụ,
nhiên liệu… Chi phí nguyên vật liệu chính có thể xác định cho từng đơn vị sản phẩm nên
được tính thẳng vào từng đơn vị sản phẩm. Chi phí nguyên vật liệu gián tiếp không thể
tính trực tiếp cho từng sản phẩm nên được đưa vào chi phí sản xuất chung rồi phân bổ
sau.
+ Chi phí nhân công trực tiếp: Bao gồm tiền lương và các khoản phải trả cho
công nhân trực tiếp sản xuất như KPCĐ, BHXH, BHYT... Chi phí nhân công trực tiếp
cũng giống như chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, có thể xác định rõ ràng và cụ thể cho
từng đơn vị sản phẩm.
+ Chi phí sản xuất chung: Là các khoản chi phí sản xuất liên quan đến việc phục
vụ và quản lý sản xuất trong phạm vi các phân xưởng, đội sản xuất và các chi phí khác
ngoài chi phí nguyên vật liệu trực tiếp và chi phí nhân công trực tiếp. Chi phí sản xuất
chung chủ yếu bao gồm ba loại chi phí. Đó là:
Chi phí nguyên vật liệu gián tiếp: là những yếu tố vật chất không tạo nên phần
chính của sản phẩm, nếu có thì đó cũng không phải là nguyên vật liệu quan trọng.
Chi phí nhân công gián tiếp: là các chi phí tiền lương của tất cả các lao động gián
tiếp như: đốc công, nhân viên kỹ thuật phân xưởng, thợ sửa chữa… và các khoản trích
theo lương.
Chi phí phân xưởng khác: nhóm này bao gồm các chi phí khác để vận hành phân
xưởng như: chi phí khấu hao máy móc, chi phí điện nước…
-Tác dụng của cách phân loại này:
+ Là cơ sở để lập kế hoạch giá thành, tổ chức giá thành theo khoản mục
+ Là căn cứ để hạch toán chi phí theo địa điểm phát sinh nhằm thực hiện và tăng cường
hạch toán kinh tế trong nội bộ doanh nghiệp.
1.1.2.1.2. Phân loại chí phí theo nội dung kinh tế của chi phí sản xuất
đổi. Nó bao gồm các khoản chi phí như: chi phí lao động gián tiếp, chi phí bảo trì, chi
phí sửa chữa máy móc thiết bị…
+ Chi phí bất biến (Định phí): Là những chi phí sản xuất mà tổng số không thay
đổi khi có sự thay đổi về mức độ hoạt động của đơn vị. Định phí chỉ giữ nguyên trong
phạm vi phù hợp của doanh nghiệp. Tổng định phí giữ nguyên khi sản lượng thay đổi
trong phạm vi phù hợp, còn định phí trên một đơn vị sản phẩm thay đổi khi sản lượng
thay đổi. Trong các yếu tố của chi phí sản xuất, các chi phí sau được xếp vào chi phí bất
biến như: chi phí thuê nhà xưởng, chi phí khấu hao nhà xưởng, chi phí khấu hao máy
móc thiết bị, lương của nhân viên phân xưởng…
Đỗ Minh Ngọc- Kế toán tổng hợp 45B
7
Luận văn tốt nghiệp Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
+ Chi phí hỗn hợp: là loại chi phí mà bản thân nó gồm cả các yếu tố định phí lẫn
biến phí. Ở mức độ hoạt động căn bản, chi phí hỗn hợp thể hiện các đặc điểm của định
phí còn qua mức đó, nó lại thể hiện đặc tính của biến phí. Chi phí điện, chi phí điện
thoại, chi phí thuê máy móc, thiết bị… là những ví dụ điển hình về chi phí hỗn hợp.
- Tác dụng: Có ý nghĩa lớn với quản trị kinh doanh, phân tích điểm hoà vốn và phục vụ
cho việc ra các quyết định quản lý cần thiết để hạ giá thành sản phẩm, nâng cao hiệu quả
kinh doanh
1.1.2.1.4. Phân loại chi phí sản xuất theo khả năng quy nạp chi phí vào đối tượng kế
toán chi phí
- Nội dung: Theo cách phân loại này chi phí sản xuất bao gồm:
+ Chi phí trực tiếp: Là những chi phí liên quan trực tiếp đến từng đối tượng kế
toán tập hợp chi phí. Chúng ta có thể quy nạp trực tiếp cho từng đối tượng chịu chi phí
căn cứ vào chứng từ ban đầu. Loại chi phí này thường chiếm tỷ trọng lớn trong chi phí,
chúng dễ nhận biết và hạch toán chính xác. Như vậy, xét về bản chất thì chi phí trực tiếp
là chi phí mà tự bản thân nó hiển nhiên được chuyển vào đơn vị sản phẩm.
+ Chi phí gián tiếp: Là các loại chi phí có liên quan đến nhiều đối tượng kế toán
tập hợp chi phí nên không thể quy nạp trực tiếp được mà phải tập hợp, quy nạp cho từng
đối tượng theo tiêu chuẩn phù hợp. Do vậy, để xác định chi phí gián tiếp của một hoạt
tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung tính cho sản phẩm, công việc, lao
vụ đã hoàn thành. Là căn cứ để tính giá vốn hàng bán và lãi gộp ở doanh nghiệp sản xuất,
là căn cứ ghi số sản phẩm hoàn thành nhập kho hoặc giao cho khách hàng.
- Giá thành toàn bộ: Gồm giá thành sản xuất sản phẩm cộng chi phí bán hàng và
chi phí quản lý doanh nghiệp tính cho sản phẩm đó. Nó chỉ tính toán được khi sản phẩm,
lao vụ được tiêu thụ, là căn cứ tính thu nhập trước thuế của doanh nghiệp.
1.1.3. Yêu cầu quản lý đối với chi phí sản xuất- giá thành sản phẩm
- Nhận định và thấu hiểu cách phân loại và ứng xử của từng loại chi phí:
một trong các thông tin quan trọng đối với các nhà quản lý doanh nghiệp là các thông tin
về chi phí, vì mồi khi chi phí thay đổi sẽ có ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp.
Do vậy, chi phí cần được phân loại nhằm kiểm soát chặt chẽ tổng chi phí và các chi phí
riêng biệt, xác định chính xác những khoản chi tiêu tiết kiệm hay lãng phí để kịp thời
điều chỉnh.
- Xây dựng định mức chi phí trong sản xuất và quản lý theo định mức: Yêu
cầu này cho phép phân tích, so sánh các thông tin kế toán phục vụ quá trình ra quyết
định theo các tiêu chuẩn hoặc đối tượng tương ứng của các cấp ra quyết định.
- Quản lý chi phí theo từng loại chi phí và địa điểm phát sinh chi phí nhằm
đảm bảo chi phí được sử dụng tiết kiệm ở từng bộ phận sử dụng chi phí. Trong điều kiện
hoàn cảnh khác nhau thì yêu cầu trong quản lý đòi hỏi khác nhau, để đảm bảo sự phù hợp
Đỗ Minh Ngọc- Kế toán tổng hợp 45B
9
Luận văn tốt nghiệp Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
giữa quy định quản lý và môi trường quản lý phải không ngừng hoàn thiện công tác quản
lý chi phí –giá thành sản phẩm.
1.1.4. Nhiệm vụ kế toán chi phí sản xuất- giá thành sản phẩm
Kế toán doanh nghiệp cần phải xác định rõ vai trò và nhiệm vụ của mình trong
việc tổ chức kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm như sau:
- Cần nhận thức đúng đắn vị trí, vai trò của kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản
phẩm trong toàn bộ hệ thống kế toán doanh nghiệp, mối quan hệ với các bộ phận kế toán
liên quan, trong đó kế toán các yếu tố chi phí là tiền đề cho kế toán chi phí và tính giá
phân xưởng tổ chức sản xuất khác nhau; ở từng địa điểm sản xuất lại có thể sản xuất, chế
biến nhiều loại sản phẩm, nhiều công việc lao vụ khác nhau theo các quy trình công nghệ
sản xuất khác nhau. Do đó chi phí sản xuất của doanh nghiệp cũng phát sinh ở nhiều địa
điểm, nhiều bộ phận, liên quan đến nhiều sản phẩm, công việc.
Thực chất của việc xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là xác định nơi
phát sinh chi phí và nơi gánh chịu chi phí làm cơ sở cho việc tập hợp chi phí sản xuất.
Nơi phát sinh chi phí sản xuất có thể là phân xưởng, đội sản xuất, bộ phận chức năng...
Nơi gánh chịu chi phí sản xuất là sản phẩm, công việc, hoặc lao vụ do doanh nghiệp
đang sản xuất, công trình, đơn đặt hàng...
Việc lựa chọn đối tượng tập hợp chi phí sản xuất ở từng doanh nghiệp là không
giống nhau, phụ thuộc vào đặc điểm, tình hình tổ chức kinh doanh , yêu cầu về trình độ
quản lý cũng như quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm.
Việc xác định đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất là khâu đầu tiên, cần
thiết của công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất. Có thể xác định đúng đắn đối tượng
tập hợp chi phí sản xuất phù hợp với đặc điểm tình hình hoạt động, đặc điểm quy trình
công nghệ sản xuất sản phẩm và đáp ứng được yêu cầu quản lý chi phí sản xuất của
doanh nghiệp mới giúp cho tổ chức tốt nhất công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất.
Khi xác định đối tượng kế toán tập hợp chi phí phải căn cứ vào:
-Tính chất sản xuất và quy trình công nghệ sản xuất như : Sản xuất giản đơn hay sản
xuất phức tạp, quá trình chế biến liên tục hay quá trình chế biến kiểu song song.
- Loại hình sản xuất: Sản xuất đơn chiếc hay sản xuất hàng loạt
- Đặc điểm tổ chức sản xuất: có phân xưởng hay không có phân xưởng.
- Yêu cầu và trình độ quản lý của doanh nghiệp
- Đơn vị tính giá thành áp dụng trong doanh nghiệp.
Đối tượng tính giá thành là các sản phẩm, công việc, lao vụ do doanh nghiệp đã
sản xuất hoàn thành đòi hỏi phải tính tổng giá thành và các giá thành đơn vị. Cũng như
khi xác định đối tượng kế toán chi phí sản xuất, việc xác định đối tượng tính giá thành
cũng cần phải căn cứ vào đặc điểm tổ chức sản xuất, quản lý sản xuất, quy trình công
Đỗ Minh Ngọc- Kế toán tổng hợp 45B
11
Luận văn tốt nghiệp Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
1.2.2.1.2. Phương pháp phân bổ gián tiếp
Được áp dụng trong trường hợp chi phí sản xuất khi chi ra có liên quan đến nhiều
đối tượng tập hợp chi phí sản xuất khác nhau mà không thể tổ chức việc hạch toán riêng
cho từng đối tượng được. Khi phát sinh chi phí kế toán phải tập hợp chi phí theo từng
địa điểm (Phân xưởng, tổ đội sản xuất) theo khoản mục chi phí sau đó phân bổ cho từng
đối tựợng tập hợp chi phí theo tiêu thức phân bổ hợp lý.
Bước 1: Xác định hệ số phân bổ
Tổng chi phí cần phân bổ
Tỷ lệ (hệ số) phân bổ =
Tổng tiêu chuẩn dùng để phân bổ
Bước 2: Xác định mức chi phí phân bổ cho từng đối tượng
Ci = Ti x H
Trong đó: +Ci là chi phí phân bổ cho từng đối tượng i
+Ti là tiêu chuẩn phân bổ cho từng đối tượng i
+H là hệ số phân bổ
Ưu điểm: Giảm bớt khối lượng công việc kế toán, không phải theo dõi chi tiết, cụ
thể mỗi lần chi cho từng đối tượng
Nhược điểm: Tính chính xác không cao, sự chính xác phụ thuộc chủ yếu việc lựa
chọn tiêu thức phân bổ.
1.2.2.2. Phương pháp tính giá thành sản phẩm:
Phương pháp tính giá thành sản phẩm là phương pháp sử dụng số liệu chi phí
sản xuất đã tập hợp được trong kỳ để tính toán tổng giá thành và giá thành đơn vị theo
từng khoản mục chi phí quy định cho các đối tượng tính giá thành.Có rất nhiều
phương pháp tính giá thành nhưng việc lựa chọn phương pháp nào phải căn cứ vào
đối tượng tính giá thành, đặc điểm và yêu cầu quản lý của doanh nghiệp. Có một số
phương pháp tính giá thành cơ bản sau:
1.2.2.2.1.Phương pháp tính trực tiếp:
Phương pháp này áp dụng trong trường hợp đối tượng tập hợp chi phí sản xuất
cũng là đối tượng tính giá thành.
Phương pháp này áp dụng trong trường hợp đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là
nhóm sản phẩm còn đối tượng tính giá thành là từng sản phẩm. Căn cứ vào tỷ lệ chi phí
sản xuất thực tế với kế hoạch, kế toán sẽ tính giá thành đơn vị và tổng giá thành của từng
loại sản phẩm.
Giá thành thực tế đvsp
từng loại
= Giá thành kế hoạch đvsp
từng loại
x Tỷ lệ chi phí
1.2.2.2.5. Phương pháp liên hợp: tính giá thành sản phẩm dịch vụ bằng cách kết hợp
nhiều phương pháp tính giá thành.
- Có thể kết hợp phương pháp tính trực tiếp với phương pháp hệ số và phương
pháp tỷ lệ, trong trường hợp đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là nhóm sản phẩm, đối
tượng tính giá thành là sản phẩm.
- Có thể kết hợp phương pháp trực tiếp với phương pháp tổng cộng chi phí trong
trường hợp đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là bộ phận sản phẩm còn đối tượng tính
giá thành là sản phẩm.
1.2.2.2.6.Tính giá thành sản phẩm, dịch vụ trong trường hợp hạch toán chi phí sản xuất
theo giai đoạn công nghệ:
Đỗ Minh Ngọc- Kế toán tổng hợp 45B
14
Luận văn tốt nghiệp Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Phương pháp này được áp dụng trong các doanh nghiệp có quy trình công
nghệ phức tạp nhiều bước nối tiếp nhau. Bán thành phẩm bước trước là đối tượng chế
biến của bước sau. Tuỳ theo yêu cầu quản lý, phương pháp tính giá thành phân bước
được chia thành hai cách:
*Tính giá thành phân bước có tính giá thành nửa thành phẩm (kết chuyển tuần tự).
Cách tính này thích hợp với những sản phẩm có quy trình sản xuất phức tạp kiểu
liên tục. Đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất là từng giai đoạn của quy trình sản
xuất. Đối tượng tính giá thành là thành phẩm hay nửa thành phẩm ở từng giai đoạn công
chuyển song song ).
Trong trường hợp này, kế toán không cần tính giá thành bán thành phẩm hoàn
thành trong từng giai đoạn mà chỉ tính giá thành thành phẩm hoàn thành bằng cách tổng
hợp chi phí NVL chính và các chi phí chế biến khác trong các giai đoạn công nghệ.
Muốn vậy chỉ xác định phần chi phí sản xuất của từng giai đoạn nằm trong thành phẩm.
Sau đó tổng cộng chi phí sản phẩm đã sản xuất của các giai đoạn nằm trong thành phẩm
ta sẽ có giá thành thành phẩm.
Giá thành
thành phẩm =
CPSX giai
đoạn 1 +
CPSX giai
đoạn 2 + ....
CPSX giai
đoạn n
Khi xác định chi phí sản xuất của từng giai đoạn có trong giá thành của thành
phẩm cần chú ý :
+ Tuỳ thuộc vào phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang mà xác định có cần
quy đổi sản phẩm dở dang theo mức độ hoàn thành hay không.
+ Căn cứ vào quan hệ tỷ lệ chế biến giữa các giai đoạn so với giai đoạn cuối để
quy đổi sản phẩm của từng giai đoạn theo sản phẩm của giai đoạn cuối cùng hoặc ngược
lại.
1.2.2.2.7. Tính giá thành sản phẩm trong trường hợp hạch toán chi phí sản xuất, kinh
doanh theo đơn đặt hàng:
Trong các doanh nghiệp thuộc loại hình sản xuất, kinh doanh đơn chiếc, công
việc sản xuất kinh doanh thường được tiến hành căn cứ vào các đơn đặt hàng. Vì sản
Đỗ Minh Ngọc- Kế toán tổng hợp 45B
16
Luận văn tốt nghiệp Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
xuất kinh doanh theo đơn đặt hàng nên đối tượng và phương pháp tập hợp chi phí thích
Đỗ Minh Ngọc- Kế toán tổng hợp 45B
17
Luận văn tốt nghiệp Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Bên Có: - Kết chuyển trị giá nguyên vật liệu thực tế dùng cho sản xuất kinh
doanh trong kỳ vào TK 154 hoặc TK 631 và chi tiết cho từng đối tượng để tính giá thành
sản phẩm.
- Kết chuyển chi phí nguyên vật liệu vượt mức bình thường vào TK 632
- Trị giá nguyên vật liệu trực tiếp sử dụng không hết nhập lại kho.
TK 621 không có số dư cuồi kỳ.
Sơ đồ 1.2: Kế toán chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp
TK 152 TK 621 TK 154
Vật liệu xuất kho sử dụng trực tiếp Kết chuyến CPNVLTT
cho sản xuất sản phẩm (theo phương pháp KKTX)
TK 611 TK 631
Trị giá NVL xuất kho sử dụng Kết chuyếnCPNVLTT
trong kỳ cho sx sản phẩm (theo phương pháp KKĐK)
(theo phương pháp KKĐK)
TK 111,112,331… TK 133 TK 632
Thuế GTGT CPNCTT vượt trên
mức bình thường
NVL mua về sử dụng ngay
cho sản xuất sản phẩm TK 152
NVL không sử dụng hết
cho sản xuất nhập lại kho
1.2.3.2. Kế toán chi phí nhân công trực tiếp
Chi phí nhân công trực tiếp là những khoản tiền phải trả, phải thanh toán cho
công nhân viên trực tiếp sản xuất sản phẩm, trực tiếp thực hiện các lao vụ, dịch vụ
bao gồm: tiền lương chính, lương phụ, tiền trích BHXH, BHYT, KPCĐ của công
nhân trực tiếp sản xuất. Chi phí nhân công thường được tập hợp trực tiếp vào từng đối
tượng chịu chi phí liên quan. Trường hợp chi phí nhân công trực tiếp có liên quan đến
cho từng loại thông qua các tiêu thức phân bổ phù hợp. Để tập hợp và phân bổ chi phí
sản xuất chung kế toán sử dụng TK627- Chi phí sản xuất chung, kết cấu tài khoản này
như sau: Bên Nợ: Các chi phí sản xuất chung phát sinh trong kỳ.
Bên Có: - Các khoản ghi giảm chi phí sản xuất chung
- Chi phí sản xuất chung cố định không phân bổ được ghi vào giá
vốn hàng bán trong kỳ do mức sản xuất thực tế thấp hơn công suất bình thường.
- Kết chuyển chi phí sản xuất chung để tính giá thành sản phẩm.
Đỗ Minh Ngọc- Kế toán tổng hợp 45B
19
Luận văn tốt nghiệp Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
TK 627 không có số dư cuối kỳ.
Đỗ Minh Ngọc- Kế toán tổng hợp 45B
20
Luận văn tốt nghiệp Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Sơ đồ 1.4: Kế toán chi phí sản xuất chung
TK 334,338 TK 627 TK 111,112,152…
Chi phí nhân viên và các khoản Các khoản thu giảm chi
BHXH, BHYT, KPCĐ phân xưởng
TK 152, 153 TK 154
Chi phí vật liệu, công cụ Phân bổ, kết chuyển CPSXC
(theo phương pháp KKTX)
TK 111,112,331… TK 133 TK 631
Thuế GTGT Phân bổ, kết chuyển CPSXC
(theo phương pháp KKĐK)
Chi phí dịch vụ mua ngoài
Chi phí bằng tiền khác TK 632
TK 214 CPSXC cố định tính vào GVHB
do mức sx thực tế< mức công
Chi phí khấu hao TSCĐ dùng suất bình thường
dang cuối kỳ với kết cấu như sau:
Bên Nợ: - Các chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi
phí sản xuất chung phát sinh trong kỳ liên quan đến sản xuất sản phẩm và dịch vụ
- Kết chuyển chi phí sản xuất kinh doanh dở dang cuối kỳ (trường hợp
doanh nghiệp hạch toán theo phương pháp kiểm kê định kỳ)
Bên Có: - Giá thành sản xuất của sản phẩm nhập kho hoặc chuyển đi bán
- Trị giá phế liệu thu hồi, giá trị sản phẩm hỏng không sửa chữa được.
- Trị giá vật tư, hàng hóa gia công xong nhập kho
- Kết chuyển chi phí sản xuất kinh doanh dở dang đầu kỳ (trường hợp
doanh nghiệp hạch toán theo phương pháp kiểm kê định kỳ).
Sơ đồ 1.5:Kế toán tổng hợp chi phí sản xuất (phương pháp kê khai thường xuyên)
TK 154 TK 152, 156
TK621,622
Dư: giá trị SPDD đầu kỳ:
Kết chuyển CPNVLTT, CPNCTT Vật tư, hàng hóa gia công
hoàn thành nhập kho
TK 155
TK 627 Giá thành sản xuất
thành phẩm nhập kho
Phân bổ, kết chuyển CPSXC
TK 632
Sản phẩm hoàn thành tiêu thụ ngay
Dư cuối kỳ: giá trị SPDD cuối kỳ
CPSXC cố định không phân bổ vào giá thành sản phẩm
* Nếu doanh nghiệp áp dụng phương pháp kiểm kê định kỳ: Kế toán phân bổ và kết
chuyển chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp sang TK 631: Giá thành sản xuất.
Nội dung và kết cấu tài khoản này như sau:
Bên Nợ: - Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang đầu kỳ
những chi phí khác phát sinh trong kỳ đều tính hết cho sản phẩm hoàn thành trong kỳ.
= x
Đỗ Minh Ngọc- Kế toán tổng hợp 45B
23
Luận văn tốt nghiệp Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Phương pháp này giản đơn, nhưng mức độ chính xác thấp, chỉ áp dụng ở những
doanh nghiệp mà chi phí nguyên vật liệu trực tiếp chiếm tỷ trọng lớn trong giá thành sản
phẩm.
1.3.2. Đánh giá sản phẩm dở dang theo sản lượng hoàn thành tương đương
Theo phương pháp này, căn cứ vào số lượng và mức độ hoàn thành của sản phẩm
dở dang để quy đổi sản phẩm dở dang thành sản phẩm hoàn thành tương đương. Tiêu
chuẩn để quy đổi sản phẩm tương đương thường được sử dụng là giờ công định mức
hoặc tiền lương định mức. Giá trị sản phẩm dở dang cuối kỳ được tính như sau:
Giá trị sản
phẩm dở
dang cuối
kỳ
=
Giá trị sản
phẩm dở
dang đầu kỳ
+
Chi phí phát sinh
trong kỳ
x
Số lượng
sản phẩm
dở dang
cuối kỳ
x
phẩm dở dang được tính theo mức độ hoàn thành của sản phẩm làm dở.
Đỗ Minh Ngọc- Kế toán tổng hợp 45B
24
Luận văn tốt nghiệp Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Phương pháp này đơn giản nhưng không đảm bảo tính chính xác. Vì vậy, phương
pháp này thích hợp với những sản phẩm đã được xây dựng định mức chi phí hợp lý và ở
những doanh nghiệp mà sản phẩm dở dang có mức độ khá đồng đều giữa các tháng.
1.4 Các hình thức sổ kế toán áp dụng trong kế toán chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm:
Tùy theo mô hình quản lý tại doanh nghiệp, tùy theo đặc điểm của hoạt động sản
xuất kinh doanh và căn cứ vào đặc điểm quản lý cũng như quy mô của doanh nghiệp,
các doanh nghiệp có thể lựa chọn hình thức sổ kế toán phù hợp với công tác hạch toán
chi phí và tính giá thành sản phẩm tại đơn vị mình theo một trong 4 hình thức sổ kế toán
sau:
1.41. Hình thức sổ kế toán Nhật ký- Sổ cái:
Hình thức này thường được áp dụng trong các doanh nghiệp có quy mô nhỏ, trình
độ quản lý, trình độ kế toán thấp, với số lượng tài khoản ít và thực hiện công tác kế toán
bằng thủ công.
Đỗ Minh Ngọc- Kế toán tổng hợp 45B
25
Luận văn tốt nghiệp Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Sơ đồ 1.7: Quy trình ghi sổ theo hình thức sổ kế toán Nhật ký- sổ cái
Chú thích:
: Ghi hàng ngày
: Ghi định kỳ ( cuối tháng)
: Đối chiếu
1.42. Hình thức sổ kế toán Nhật ký chung:
Hình thức Nhật ký chung thường được áp dụng trong các doanh nghiệp có quy
mô vừa và lớn, với mọi trình độ quản lý và trình độ kế toán. Hình thức này đặc biệt
thuận lợi và phù hợp trong những doanh nghiệp áp dụng kế toán máy.