Tài liệu Đề tài "Một số biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại Công ty Tạp phẩm và bảo hộ lao động" - Pdf 87



Luận văn Đề Tài:Một số biện pháp nâng cao hiệu quả
sử dụng vốn kinh doanh tại Công ty
Tạp phẩm và bảo hộ lao động LỜI NÓI ĐẦU
Dù là một doamh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nào thì huy động
vốn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư là mục tiêu phấn đấu hàng đầu
và lâu dài của doanh nghiệp. Vốn kinh doanh và nâng cao hiệu quả sử dụng
vốn đóng vai trò quan trọng để mở rộng kinh doanh và nâng cao hiệu quả
kinh doanh, tăng doanh lợi của doanh nghiệp.
Chuyển đổi nền kinh tế từ tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh
tế thị trường có sự quản lý của nhà nước là một quá trình chuyển đổi cơ chế
quản lý kinh tế trước hết. Nhà nước cắt giảm nguồn vốn ngân sách cấp cho
các doanh nghiệp, mở rộng quyền tự chủ kinh doanh và tài chính cho các
doanh nghiệp. Với cơ chế quản lý mới này đã đem lại cho một số doanh
nghiệp những lợi thế trong việc huy động và sử dụng vốn, đồng thời cũng

nghiên cứu của tôi chắc chắn không thể tránh khỏi thiếu sót. Tôi mong nhận
được sự chỉ bảo, đóng góp ý kiến của các thầy cô cùng với bạn đọc để đề tài
nghiên cứu của tôi được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ts. Phan Tố Uyên, cùng cán bộ các phòng
ban liên quan của Công ty Tạp phẩm và bảo hộ lao động đã hướng dẫn tận
tình, tạo điều kiện và giúp đỡ tôi hoàn thành đề tài nghiên cứu này.
CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ VỐN VÀ HIỆU QUẢ SỬ
DỤNG VỐN TRONG KINH DOANH.
I. KHÁI NIỆM VỀ VỐN VÀ PHÂN LOẠI VỐN TRONG KINH DOANH:
1. Khái niệm về vốn kinh doanh.
Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở
giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật
nhằm thực hiện các hoạt động kinh doanh với mục tiêu chung và quan trọng
nhất đối với doanh nghiệp đó là lợi nhuận. Quá trình kinh doanh của doanh
nghiệp phải luôn gắn liền với sự hoạt động của đồng vốn. Chủ thể kinh
doanh không chỉ có vốn mà còn phải biết vận động không ngừng phát triển
đồng vốn đó. Nếu gạt bỏ nguồn gốc bóc lột của CNTB trong công thức T-H-
SX...H

-T

của K.Marx thì có thể xem đây là một công thức kinh doanh:
Chủ thể kinh doanh dùng vốn của mình dưới hình thức tiền tệ mua những tư
liệu sản xuất để tiến hành quá trình sản xuất ra sản phẩm, hàng hoá theo nhu
cầu của thị trường rồi đem những thành phẩm hàng hoá này bán ra cho
khách hàng trên thị trường để thu được một lượng tiền tề lớn hơn số ban đầu
bỏ ra.
Như vậy, theo quan điểm của K.Marx, vốn (tư bản) là giá trị đem lại giá
trị thặng dư, là một đầu vào của quá trình sản xuất. Định nghĩa này mang
một tầm khái quát lớn, nhưng do bị hạn chế bởi những điều kiện khách quan
Tiếp tục sản
xuất
-Thay máy cũ

-Mua máy
mới
-Giải quyết
Vốn kinh doanh của
doanh nghiệp
Dùng cho đầu tư
trung v di hạn
Dùng cho các hoạt động v
khai thác
Sản xuất
nhiều hơn
Các năng lực

chung và đối với doanh nghiệp nói riêng, thể hiện trên các mặt sau:
- Vốn kinh doanh của các doanh nghiệp thương mại có vai trò quyết
định trong việc thành lập, hoạt động, phát triển của từng loại hình doanh
nghiệp theo luật định.
- Vốn đóng vai trò quyết định mở rộng đầu tư phát triển sản xuất kinh
doanh, đổi mới quy trình công nghệ, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào
sản xuất kinh doanh, góp phần tăng năng suất lao động và giảm giá thành
chi phí của doanh nghiệp.
- Vốn là một nguồn lực quan trọng để phát huy tài năng của ban lãnh
đạo doanh nghiệp, nó là một điều kiện thực hiện các chiến lược, sách lược
kinh doanh, nó cũng là “dầu nhớt” bôi trên cho cỗ máy kinh tế vận động.
- Vốn kinh doanh của doanh nghiệp là yếu tố về giá trị. Như vậy,
doanh nghiệp đáp ứng đầy đủ nhu vầu về vốn kinh doanh sẽ giúp cho doanh
nghiệp chủ động về tài chính, mở rộng sản xuất kinh doanh, tạo sức cạnh
tranh. Còn ngược lại, nếu vốn không được bảo tồn và tăng lên trong mỗi chu
kỳ kinh doanh thì vốn đã bị thiệt hại, đó là hiện tượng mất vốn. Sự thiệt hại
lớn dẫn đến doanh nghiệp mất khả năng thanh toán, sẽ làm cho doanh
nghiệp bị phá sản, tức là vốn kinh doanh đã bị sử dụng một cách lãng phí,
không có hiệu quả.
Tóm lại, vai trò của vốn kinh doanh đã được K.Marx khẳng định: “ Tư
Đồng thời, K.Marx còn nhấn mạnh:” không một hệ thống nào có thể tồn tại
nếu không vượt qua sự suy giảm về hiệu qủa tư bản”. bản đứng vị trí hàng
đầu vì tư bản là tương lai”.
Căn cứ vào khái niệm và vai trò của vốn ở trên, ta có thể thấy vốn có
những đặc trưng cơ bản sau:
+ Vốn là đại diện cho một lượng giá trị tài sản: Điều này có nghĩa
vốn là sự biểu hiện bằng giá trị của các tài sản hữu hình và vô hình như: Nhà
xưởng, máy móc, thiết bị, đất đai, bằng phát minh, sáng chế... Với tư cách
này các tài sản tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh nhưng nó không
bị mất đi mà thu hồi được giá trị.

năng về vốn của mình, mà phải tìm cách thu hút vốn từ nhiều nguồn khác
như phát cổ phiếu, góp vốn liên doanh liên kết...
+ Vốn có giá trị về mặt thời gian: Một đồng hôm nay có giá trị hơn
giá trị đồng tiền ngày hôm sau, do giá trị của đồng tiền chịu ảnh hưởng của
nhiều yếu tố như: đầu tư, rủi ro, lạm phát, chính trị... Trong cơ chế kế hoạch
hoá tập trung, vấn đề này không được xem xét kỹ lưỡng vì nhà nước đã tạo
ra sự ổn định của đồng tiền một cách giả tạo trong nền kinh tế. Trong điều
kiện kinh tế thị trường cần phải xem xét về yếu tố thời gian của đồng vốn,
bởi do ảnh hưởng sự biến động của giá cả thị trường, lạm phát... nên sức
mua của đồng tiền ở các thời điểm là khác nhau.
+ Vốn là loai hàng hoá đặc biệt: Những người sẵn có vốn có thể đưa
vốn vào thị trường, còn những người cần vốn thì vay. Nghĩa là những người
đi vay được quyền sử dụng vốn của ngườ cho vay. Người đi vay phải mất
một khoản tiền trả cho người vay. Đây là một khoản chi phí sử dụng vốn mà
người đi vay phải trả cho người cho vay, hay nói cách khác chính là giá của
quyền sử dụng vốn. Khác với các loại hàng hoá thông thường khác, “ hàng
hoá vốn “ khi bán đi sẽ không mất quyền sử hữu mà chỉ mất quyền sử dụng
trong một thời gian nhất đinh. Việc mua bán này diễn ra trên thị trường tài
chính, giá mua bán tuân theo quan hệ cung- cầu về vốn trên thị trường.
+ Trong nền kinh tế thị trường, vốn không chỉ được biểu hiện bằng
tiền của những tài sản hữu hình mà nó còn biểu hiện giá trị của những tài
sản vô hình như: Vị trí địa lý kinh doanh, nhãn hiệu thương mại, bản quyền,
phát minh sáng chế, bí quyết công nghệ... Cùng với sự phát triển của kinh tế
thị trường thì khoa học kỹ thuật, công nghệ cũng phát triển mạnh mẽ. Điều
này làm cho tài sản vô hình ngày càng đa dạng phong phú, đóng góp một
phần không nhỏ trong việc tạo ra khả nằng sinh lời của doanh nghiệp.
Từ những đặc trưng trên cho phép ta phân biệt giữa tiền và vốn : giữa
một số quỹ tiền tệ khác trong doanh nghiệp và vốn. Vốn kinh doanh được sử
dụng cho hoạt động sản xuất kinh doanh tức là cho mục đích tích luỹ chứ
không phải mục đích tiêu dùng như một số quỹ khác trong doanh nghiệp.

phân loại vốn kinh doanh, tuỳ theo mục tiêu nghiên cứu mà có thể có nhiều
tiêu thức phân loại vốn kinh doanh khác nhau.
2.1. Phân loại vốn trên góc độ pháp luật, vốn bao gồm :
- Vốn pháp định: là mức vốn tối thiểu phải có đẻ thành lập doanh
nghiệp do pháp luật quy định, đảm bảo năng lực kinh doanh đối với từng
ngành nghề và từng loại hình sở hữu của doanh nghiệp. Dưới mức vốn pháp
định thì không đủ điều kiện để thành lập doanh nghiệp.
- Vốn điều lệ: là vốn do các thành viên đóng góp và được ghi vào điều
lệ của Công ty (doanh nghiệp). Tuỳ theo từng loại hình doanh nghiệp, theo
từng ngành nghề , vốn điều lệ không được thấp hơn vốn pháp định.
2.2. Phân loại vốn theo nguồn hình thành:
Theo cách phân loại này, vốn được chia thành các loại sau:
- Vốn đầu tư ban đầu: là số vốn phải có khi hình thành doanh nghiệp,
tức là số vốn cần thiết để đăng ký kinh doanh, hoặc vốn góp của công ty
trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân hoặc vốn của
nhà nước giao.
- Vốn liên doanh: là vốn đóng góp do các bên cùng cam kết kiên doanh
với nhau để hoạt động thương mại hoặc dịch vụ...
- Vốn bổ sung: là số vốn tăng thêm do bổ sung từ lợi nhuận, do nhà
nước bổ sung bằng phân phối hoặc phân phối lại nguồn vốn do sự đóng góp
của các thành viên hoặc, do bán trái phiếu...
- Vốn đi vay: là các khoản nợ phát sinh trong quá trình kinh doanh mà
doanh nghiệp có nhiệm vụ phải thanh toán cho các tác nhân kinh tế khác
như ngân hàng, các tổ chức kinh tế, phải trả nhà nước, phải trả cho người
bán... Ngoài ra, còn có khoản vốn chiếm dụng lẫn nhau của các đơn vị
nguồn hàng, khách hàng và bạn hàng.
2.3. Phân loại vốn theo thời gian huy động vốn.
Theo cách phân loại này, vốn được chia thành hai loại là vốn thường
xuyên và vốn tạm thời.
- Vốn thường xuyên: bao gồm vốn chủ sở hữu và các khoản nợ dài hạn

vốn cố định và vốn lưu động. Tuỳ theo từng loại hình doanh nghiệp, ngành
nghề kinh doanh, công nghệ sản xuất áp trình độ áp dụng khoa học kỹ thuật
mà các doanh nghiệp xác định được tỷ lệ vốn hợp lý. Việc xác định cơ cấu
vốn là yếu tố quan trọng, nó thể hiện trình độ quản lý và sử dụng vốn ở mỗi
doanh nghiệp.
3.1. Vốn cố định của doanh nghiệp.
3.1.1. Khái niệm và đặc điểm vốn cố định.
Vốn cố định: là biểu hiện bằng tiền của tài sản cố định. Hay nói cách
khác: số vốn đầu tư ứng trước để mua sắm, xây dựng hay lắp đặt các tài sản
cố định vô hình và hữu hình nhằm phục vụ sản xuất kinh doanh được gọi là
vốn cố định của doanh nghiệp. Đây là số vốn đầu tư ứng trước, số vốn này
nếu được sử dụng có hiệu quẩ sẽ không mất đi mà doanh nghiệp sẽ thu hồi
lại sau khi tiêu thụ các sản phẩm, hàng hoá hay dịch vụ của mình. Do đó, để
biểu hiện rõ hơn về vốn cố định của doanh nghiệp, chúng ta xem xét hình
thái biểu hiện của nó, tức là dựa trên cơ sở nghiên cứu về tài sản cố định.
Để tiến hành sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp cần có tư liệu sản
xuất. Căn cứ vào tính chất, tác dụng, tư liệu sản xuất được chia thành hai bộ
phận là tư liệu lao động và đối tượng lao động. Tư liệu lao động được sử
dụng để tác động vào đối tượng lao động, tạo ra sản phẩm cho doanh
nghiệp. Đặc điểm cơ bản của tư liệu lao động là chúng có thể tham gia trực
tiếp hoặc gián tiếp vào một hay nhiều chu kỳ sản xuất. Trong qua trình đó,
giá trị của chúng bị giảm đi mặc dù giá trị sử dụng vẫn như ban đầu. Phần
giá trị giảm đi được chuyển vào giá trị của sản phẩm. Do đó qua các chu kỳ,
giá trị của tư liệu lao động được chuyển dần vào giá trị của sản phẩm.
Tài sản cố định là bộ phận tư liệu lao động chủ yếu quan trọng nhất của
doanh nghiệp. Đó là những tư liệu lao động như máy móc thiết bị, nhà
xưởng, phương tiện vận chuyển... Khi tham gia vào sản xuất, chúng không
bị thay đổi về hình thái ban đầu, giá trị của chúng được chuyển dần vào giá
trị của sản phẩm. Sau một hay nhiều chu kỳ sản xuất giá trị của tài sản cố
định sẽ được chuyển hết vào giá trị của sản phẩm, khi đó tài sản cố định đã

lý thuyết, doanh nghiệp đã có thể đầu tư tài sản cố định mới với giá trị tương
đương để thay thế tài sản cũ. Vốn cố định đã hoàn thành một vòng luân
chuyển.
Tài sản cố định là cơ sở vật chất kỹ thuật của sản xuất, là điều kiện
quan trọng để nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, tăng tích
luỹ và phát triển doanh nghiệp. Với vai trò quan trọng như vậy, nên việc
nâng cao năng suất, hiệu quả sử dụng tài sản cố định tức là việc tăng cường
nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định không những có vai trò quan trọng
đối với doanh nghiệp, mà còn góp phần cơ khí hoá, tự động hoá sản xuất
kinh doanh, phát triển sản xuất xã hội và phát triển nền kinh tế quốc dân.
3.1.2. Phân loại vốn cố định.
Để quản lý và sử dụng vốn cố định có hiệu quả, ta phải nghiên cứu các
phương pháp phân loại và kết cấu của tài sản cố định. Song, tuỳ theo từng
căn cứ khác nhau mà có thể phân chia tài sản cố định thành những loại khác
nhau.
* Căn cứ váo hình thái biểu hiện: Tài sản cố định được chia thành:
- Tài sản cố định hữu hình: là những tư liệu lao động chủ yếu có hình
thái vật chất, có giá trị lớn, thời gian sử dụng lâu, tham gia vào nhiều chu kỳ
kinh doanh nhưng vẫn giữ nguyên hình thái ban đầu như: Nhà cửa, vật kiến
trúc, máy móc thiết bị, phương tiện vận tải...
- Tài sản cố định vô hình: là những tài sản cố định không có hình thái
vật chất, thể hiện một lượng giá trị đã được đầu tư có liên quan trực tiếp đến
nhiều chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp như: chi phí bằng phát minh
sáng chế, nhãn hiệu sản phẩm...
* Căn cứ vào công dụng kinh tế : Tài sản cố định được chia thành:
- Nhà cửa, vật kiến trúc: là những tài sản cố định của doanh nghiệp
được hình thành sau quá trình thi công, xây dựng và được sử dụng trong quá
trình sản xuất kinh doanh như: Nhà xưởng, trụ sở làm việc...
- Máy móc thiết bị: là toàn bộ các loại máy móc thiết bị dùng trong
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như: Máy thiết bị động

nghiệp cần được thanh lý, nhượng bàn để thu hồi vốn đầu tư đã bỏ ra ban
đầu.
Mỗi cách phân loại có các ý nghĩa khác nhau, cho phép nhà quản trị
đánh giá được tình hình tài sản cố đinh, xem xét kết cấu tài sản cố định của
doanh nghiệp. Từ đó có biện pháp tác động để sử dụng vốn cố định có hiệu
quả hơn.
3.1.3. Cơ cấu vốn cố định:
Cơ cấu vốn cố định là tỷ lệ phần trăm của từng nhóm vốn cố định trong
tổng số vốn cố định. Nghiên cứu cơ cấu vốn cố định cho phép đánh giá việc
đầu tư có đúng đắn hay không và nó cho phép xác định hướng đầu tư vốn cố
định trong tương lai.
Cơ cấu vốn cố định và sự thay đổi của nó là những chỉ tiêu quan trọng
nói lên trình độ kỹ thuật, khả năng phát triển hoạt động kinh doanh của các
doanh nghiệp giúp cho việc phát triển phương hướng tái sản xuất tài sản cố
định.
3.1.4. Nguồn vốn cố định .
Vốn cố định được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau như: nguồn
vốn pháp định, nguồn vốn tự bổ sung, nguồn vốn liên doanh liên kết.
- Nguồn vốn pháp định: gồm vốn cố định do ngân sách nhà nước
cấp, do cấp trên cấp phát cho doanh nghiệp, vốn cổ phần do xã viên hợp tác
xã và các cổ đông đóng góp bằng tài sản cố định, vốn pháp định do chủ sở
hữu bỏ ra ban đầu khi thành lập doanh nghiệp.
- Nguồn vốn tự bổ sung: gồm vốn cố định của những tài sản cố định
đã được đầu tư và mua sắm bằng quý của doanh nghiệp.
- Nguồn vốn liên doanh, liên kết: gồm các nguồn vốn do các đơn vị
tham gia liên doanh, liên kết đóng góp bằng tài sản cố định và bằng vốn đầu
tư xây dựng cơ bản đã hoàn thành.
3.2. Vốn lưu động.
Bên cạnh vốn cố định, một bộ phận khác không thể thiếu trong hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp đó là vốn lưu động.

tái sản xuất. Muốn cho quá trình tái sản xuất được liên tục thì yêu cầu đặt ra
đối với doanh nghiệp là phải có đủ vốn lưu động để đầu tư vào các tư liệu
lao động tồn tại một cách hợp lý, đồng bộ với nhau trong một cơ cấu. Do
đặc điểm của vốn lưu động là trong quá trình sản xuất kinh doanh luân
chuyển toàn bộ giá trị ngay trong một lần, tuần hoàn liên tục đã quyết định
sự vận động của vốn lưu động- tức hình thái giá trị của tài sản lưu động là:
+ Khởi đầu vòng tuần hoàn : Vốn lưu động được dùng để mua sắm các
đối tượng lao động trong khâu dự trữ sản xuất. ở giai đoạn này vốn đã thay
đổi hình thái từ vốn tiền tệ sang vốn vật tư (T-H).
+ Tiếp theo là giai đoạn sản xuất: Các vật tư được chế tạo thành bán
thành phẩm và thành phẩm. ở giai đoạn này vốn vật tư chuyển hoá thành
thành phẩm và bán thành phẩm nhờ sức lao động và công cụ lao động (H-
SX...-H

).
+ Kết thúc vòng tuần hoàn: Sau khi sản xuất được tiêu thụ, vốn lưu
động lại chuyển hoá sang hình thái vốn tiền tệ như điểm xuất phát ban đầu
(H’-T’) (T’ > T).
Trong thực tế, sự vận động của vốn lưu động không diễn ra một cách
tuần tự như mô hình lý thuyết trên mà các giai đoạn vận động của vốn được
đan xen vào nhau, các chu kỳ sản xuất được tiếp tục lặp lại, vốn lưu động
được liên tục tuần hoàn và chu chuyển.
Trong doanh nghiệp, việc quản lý tốt vốn lưu động có vai trò rất quan
trọng. Muốn quản lý vốn lưu động, các doanh nghiệp phải phân biệt được
các bộ phận cấu thành vốn lưu động để trên cơ sở đó đề ra các biện pháp
quản lý phù hợp. Trên thực tế, vốn lưu động của doanh nghiệp bao gồm
những bộ phận sau:
- Vốn bằng tiền: bao gồm tiền hiện có trong két và tiền gửi ngân
hàng của doanh nghiệp.
- Các khoản đầu tư ngắn hạn: bao gồm các tín phiếu kho bạc, thương

- Vốn trong lưu động: là bộ phận trực tiếp dùng cho giai đoạn lưu
thông: thành phẩm, vốn bằng tiền mặt.
 Căn cứ vào kế hoạch hoá, phương pháp xác định: vốn lưu đông
chia thành:
- Vốn định mức: là số vốn tối thiểu dùng để hoàn thành kế hoạch
lưu chuyển hàng hoá và kế hoạch sản xuất dịch vụ phụ thuộc. Vốn lưu động
định mức gồm có: vốn dự trữ hàng hoá và vốn phi hàng hoá.
+ Vốn dự trữ hàng hoá là số tiền ở các kho, cửa hàng, trạm, trị giá
hàng hoá trên đường vân chuyển và trị giá hàng hoá bằng chứng từ.
+ Vốn phi hàng hoá lầ số tiền định mức của vốn bằng tiền. Vốn phi
hàng hoá gồm vốn bằng tiền và các atài sản khác.
- Vốn không định mức: là số vốn lưu động có thể phat sinh trong
quá trình sản xuất kinh doanh và sản xuất dịch vụ phụ thuộc nhưng không
có đủ căn cứ để tính toán được.
Tuỳ theo mỗi cách phân loại vốn lưu động mà nhà quản trị sẽ đưa ra
những quyết định cụ thể trong việc quản lý và sử dụng vốn lưu động một
cách có hiệu quả nhất.
3.2.4. Nguồn vốn lưu động.
Nguồn vốn lưu động của doanh nghiệp gồm có: vốn tự có, vốn coi
như tự có và vốn đi vay.
- Vốn tự có: Bao gồm:
+ Nguồn vốn pháp định: gồm vốn lưu động do ngân sách cấp hoặc
cấp trên cấp phát cho đơn vị ( cấp lần đầu hoặc bổ sung), nguồn vốn cổ phần
nghĩa vụ do các xã viên hợp tác xã hoặc các cổ đông đóng góp, hoặc vốn
pháp định do chủ doanh nghiệp tư nhân bỏ ra ban đầu khi thành lập doanh
nghiệp.
+ Nguồn vốn tự bổ sung: hình thành từ kết quả sản xuất kinh doanh
của đơn vị thông qua quỹ khuyến khích phát triển sản xuất các khoản chênh
lệch giá hàng hoá tồn kho (theo cơ chế bảo toàn giá trị vốn)
+ Nguồn vốn liên doanh, liên kết: Gồm có các khoản vốn của các

nền kinh tế. Đây là lý do chủ yếu tại sao trong thời kỳ bao cấp lại vắng mặt,
không vần thiết có thị trường vốn.
Chuyển sang nền kinh tế thị trường, vốn kinh doanh có tầm quan
trọng đặc biệt trong các doanh nghiệp. Và nền kinh tế thị trường thực sự là
môi trường để cho vốn bộc lộ đầy đủ bản chất, vai trò và tầm quan trọng của
nó.
Thứ nhất, Vốn kinh doanh của sn có vai trò quyết định cho việc
thành lập, hoạt động và phát triển của doanh nghiệp. Vì vốn là một yếu tố
đầu vào cho hoạt động sản xuất kinh doanh, là điều kiện vật chất không thể
thiếu được trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Trong phạm vi một doanh nghiệp có thể thấy rằng, điểm xuất phát để
tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh là có một số vốn đầu tư ban đầu
nhất định. Vốn kinh doanh là điều kiện tiền đề cho doanh nghiệp có thể thực
hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Nếu không có vốn sẽ
không có bất kỳ một hoạt động sản xuất kinh doanh nào cả, vốn kinh doanh
là cơ sở để doanh nghiệp tính toán, hoạch định các chiến lược và kế hoạch
kinh doanh. Về mặt pháp lý, tất cả các doanh nghiệp dù ở thành phần kinh tế
nào, để được thành lập và đi vào hoạt động thì nhất thiết cần phải có lượng
vốn cần thiết tối thiểu theo quy định của nhà nước hay còn gọi là vốn pháp
định. Lượng vốn này nhiều hay ít phụ thuộc vào loại hình doanh nghiệp của
doanh nghiệp đó.
Thứ hai, Vốn kinh doanh giúp các doanh nghiệp tiến hành các hoạt
động sản xuất kinh doanh mọt cách liên tục có hiệu quả. Trong quá trình
hoạt động sản xuất kinh doanh, vốn kinh doanh của một doanh nghiệp
không ngừng được tăng lên tương ứng với sự tăng trưởng quy mô sản xuất,
đảm bảo cho quá trình tái sản xuất được tiến hành một cách liên tục. Nếu
doanh nghiệp thiếu vốn kinh doanh sẽ gây ra những tổn thất như : sản xuất
đình trệ, không đảm bảo thực hiện các hợp đồng đã ký kết với khách hàng,
không đủ tiền để thanh toán với nhà cung ứng kịp thời dẫn tới mất tín nhiệm
trong quan hệ mua bán, và do đó sẽ không giữ được khách hàng...Những

kinh doanh của doanh nghiệp. Thông qua sự vận động của vốn kinh doanh,
các chỉ tiêu tài chính như: hiệu quả sự dụng vốn, hệ thống thanh toán, hệ số
sinh lời, cơ cấu các nguồn vốn và cơ cấu phân phối sử dụng vốn… mà quản
lý có thể nhận biết được trạng thái vốn trong các khâu của quá trình sản
xuất kinh doanh. Với khả năng đó, nhà quản lý có thể phát hiện ra các
khuyết tật và nguyên nhân của nó để điều chỉnh quá trình kinh doanh nhằm
mục tiêu đã định.
Việc mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh trong điều kiện tiến bộ
của khoa học- kỹ thuật, công nghệ phát triển cao. Nhu cầu vốn đầu tư cho
hoạt động sản xuất kinh doanh ngày càng tăng nên việc tổ chức huy động
vốn ngày càng trở nên quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp. Huy động vốn
đầy đủ và kịp thời có thể giúp doanh nghiệp chớp thời cơ kinh doanh, tạo
được lợi thế trong cạnh tranh. Thêm vào đó việc lựa chọn các hình thức và
phương pháp huy động vốn thích hợp sẽ giảm bớt chi phí sử dụng vốn, điều
đó tác động rất lớn đến việc tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp. Từ những lý
do trên, cho thấy việc tổ chức đảm bảo đầy đủ, kịp thời vốn cho nhu cầu sản
xuất kinh doanh có tác động rất mạnh mẽ đến hiệu quả kinh doanh, nó quyết
định sự tồn tại và phát triển trong tương lai của doanh nghiệp.
Tuy nhiên, trong sự cạnh tranh gay gắt của thị trường, việc huy động
được vốn mới chỉ là bước đi đầu, quan trọng hơn và quyết đinh hơn là nghiệ
thuật phân bố, sử dụng vốn có hiệu quả cao nhất ảnh hưởng đến vị thế của
doanh nghiệp trên thương trường.Vì vậy, phải có những biện pháp sử dụng,
bảo toàn và mở rộng vốn kinh doanh hiệu quả, từ đó mới giúp doanh nghiệp
tồn tại và ngày càng phát triển trong cơ chế thị trường.
Qua những sự phân tích ở trên ta thấy, vốn kinh doanh có tầm quan
trọng to lơn. Do đó, vấn đề sử dụng vốn trong kinh doanh có ảnh hưởng rất
lớn đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Mục đích của sử dụng vốn
trong kinh doanh là nhằm đảm bảo nhu cầu tối đa về vốn cho việc phát triển
kinh doanh hàng hoá trên cơ sở nguồn vốn có hạn được sử dụng một cách
hợp lý, tiết kiệm đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất.

III. HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN CỦA DOANH NGHIỆP TRONG NỀN
KINH TẾ THỊ TRƯỜNG.
1. Sự cần thiết của việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
Để đánh giá trình độ quản lý, điều hành hoạt động của mỗi doanh
nghiệp, người ta thường sử dụng thước đo là hiệu quả kinh tế hoạt động sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp đó. Đây là một phạm trù phản ánh trình
độ sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp để đạt được kết quả cao nhất
với chi phí hợp lý nhất. Do vậy, các nguồn lực kinh tế đặc biệt là nguồn vốn
kinh doanh của doanh nghiệp có tác động rất lớn tới hiệu quả sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp. Việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là yêu câu
mang tính thường xuyên và bắt buộc đối với bất cứ doanh nghiệp nào trong
nền kinh tế thị trường. Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn sẽ giúp ta thấy được
hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung và trình độ quản lý sử
dụng vốn nói riêng
Thật vậy, sử dụng vốn trong kinh doanh thương mại là một khâu có
tầm quan trọng, quyết định đến hiệu quả của kinh doanh. Trong điều kiện
nền kinh tế thị trường, một doanh nghiệp quản lý tài chính yếu kém, không
bảo toàn được vốn, để mất vốn, sử dụng vốn không tiết kiệm, sai mục đích,
doanh thu không đủ bù đắp chi phí, tình trạng thua lỗ kéo dài thì ta có thể
nói doanh nghiệp đó sử dụng vốn kém hiệu quả. Để tồn tại và phát triển, các
doanh nghiệp phải luôn luôn tìm cách bảo toàn, sử dụng vốn có hiệu quả và
phải có biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Đây là một vấn đề
không đơn giản và không phải doanh nghiệp nào cũng làm được, nhất là
trong điều kiện nền kinh tế còn chưa ổn định.
Hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp là một phạm trù kinh tế phản
ánh trình độ khai thác, sử dụng và quản lý nguồn vốn, làm cho đồng vốn
sinh lời tối đa, nhằn mục tiêu cuối cùng là tối đa hoá giá trị tài sản của chủ
sở hữu. Hiệu quả sử dụng vốn được lượng hoá thông qua các chỉ tiêu về hiệu
suất, hiệu quả sử dụng vốn cố định, vốn lưu động, mức sinh lời và tốc độ
chu chuyển của vốn lưu động... Nó phản ánh mối quan hệ giữa đầu ra và đầu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status