Luận văn
Đề tài : "Chủ động hội nhập kinh tế
quốc tế - một nhiệm vụ trọng tâm của
nước ta hiện nay". §Ò ¸n kinh tÕ chÝnh trÞ
A. MỞ ĐẦU
Loi quan im th hai l quan im tha nhn tớnh tt yu khỏch
quan ca quc t hoỏ,ton cu hoỏ.Nhng trong quan im ny cng cú
nhiu ý kin khỏc nhau:Cú ngi cho rngton cu hoỏ xột v bn cht l
quỏ trỡnh tng lờn mnh m nhng mi liờn h s nh hng, tỏc ng ln
nhau ph thuc ln nhau ca tt c cỏc khu vc, cỏc quc gia cỏc dõn tc
trờn ton th gii ;cú ngi li cho rng : Ton cu hoỏ l giai on cao ca
quỏ trỡnh phỏt trin ca lc lng sn xut trờn th gii,l kt qu tt yu ca
phỏt trin kinh t th trng v khoa hc cụng ngh
Mc dự cú nhiu quan im khỏc nhau v ton cu hoỏ nhng im
quan trng m ta nhn thy l ton cu hoỏ khụng ch l quỏ trỡnh phn ỏnh
s gia tng ca cỏc mi quan h ph thuc ln nhau m nột quan trng hn
l phn ỏnh qui mụ ca cỏc hot ng liờn quc gia.T ú ta cú th a ra
mụt khỏi nim mang tớnh cht khỏi quỏt v ton cu hoỏ: Ton cu hoỏ l
s gia tng mnh m cỏc mi quan h gn kt,tỏc ng ph thuc ln
§Ò ¸n kinh tÕ chÝnh trÞ
nhau,là quá trình mở rộng qui mô và cường độ hoạt động giữa các khu
vực,các quốc gia các dân tộc trên phạm vi toàn cầu trong sự vận động phát
triển”
Với quan niệm như vậy thế giới hoá cũng có nghĩa là toàn cầu hoá và
quốc tế hoá được xem như giai đoạn trước đó của toàn cầu hoá. Quốc tế
hoá,toàn cầu hoá là một quá trình,và vì vậy nó khác với các vấn đề toàn cầu.
Tham gia vào quá trình quốc tế hoá,toàn cầu hoá chính là thực hiện hội nhập
quốc tế.
Toàn cầu hoá là một xu hướng bao gồm nhiều phương diện: kinh tế,
chính trị,văn hoá,xã hội v.v...Trong các mặt đó thì toàn cầu hoá kinh tế đang
là xu thế nổi trội nhất,nó vừa là trung tâm vừa là cơ sở và cũng là động lực
thúc đẩy các lĩnh vực khác của xu thế toàn cầu hoá nói chung.Giống như
khái niệm toàn cầu hoá thì cũng có nhiều quan điểm khác nhau về toàn cầu
hoá kinh tế.Sau đây là khái niệm phổ biến nhất: “Toàn cầu hoá kinh tế
chínhlà sự gia tăng nhanh chóng các hoạt động kinh tế vựt qua mọi biên giới
là việc các nước đi tìm kiếm một số điều kiện nào đó mà họ có thể thống
nhất được với nhau, kể cả dành cho nhau nhưng ưu đãi, tạo ra nhưng điều
kiện công bằng, có đi có lại trong quan hệ hợp tác với nhau... nhằm khai
thác các khả năng lẫn nhau phục vụ cho nhu cầu phát triển kinh tế của mình.
Để thực hiện hội nhập kinh tế quốc tế, các điều kiện chung được quy
định đối với mỗi quốc gia, là tự do hoá thương mại và đầu tư một cách công
khai, rõ ràng. Cụ thể, các tổ chức hợp tác kinh tế quốc tế hay khu vực nói
chung đều hoạt động theo 4 nguyên tắc cơ bản sau:
- Công bằng: các nước dành cho nhau quy chế ưu đãi cao nhất của
mình và chung cho mọi nước (nghĩa là mọi hàng hoá và dịch vụ của các
công ty các nước đối tác đều được hưởng một chính sách ưu đãi chung);
đồng thời không phân biệt chính sách thương mại giữa các công ty: mọi chế
độ chính sách liên quan đến thương mại và đầu tư trong mỗi nước đều phải
§Ò ¸n kinh tÕ chÝnh trÞ
bình đẳng giữa các doanh nghiệp trong và ngoài nước, giữa hàng nhập khẩu
và hàng sản xuất nội địa.
- Tự do hoá thương mại: các nước chỉ được sử dụng thuế làm công cụ
bảo hộ cho nền sản xuất của mình, các biện pháp phi thuế quan như giấy
phép, quota, hạn ngạch xuất nhập khâu... đều không được sử dụng, các biểu
thuế này đều phải có lộ trình rõ ràng công khai về việc giảm dần đến tự do
hoá hoàn toàn (thuế suất bằng 0%).
- Làm ăn hay thương lượng với nhâu phải trên cơ sở có đi có lại: khi
nền kinh tế thịt rường của một nước thành viên bị bị hàng nhập khâu đe doạ
thái quá hoạc bị những biện pháp phận biệt đối xử gây hại, thì nước đó có
quyền khước từ một nghĩa vụ nào đó hoặc có thể có những hành động khẩn
cấp cần thiết, được các nước thành viên khác thừa nhận, đề bảo vệ quyền lợi
cua nền kinh tế trong nước.
- Công khai mọi chính sách thương mại và đầu tư.
Với các điều kiện và nguyên tắc trên, nước “ đi sau” như nước ta có
nhiều thuận lợi, nhất là học hỏi kinh nghiệm của các nước “đi trước”, nhưng
Sự phát triển của kinh tế tri thức dự trên các công nghệ có hàm lượng
khoa hoc kỹ thuật cao, nhất là công nghệ thông tin đã mở ra điều kiện thuận
lợi cho sự đẩy nhanh xu thế toàn cầu hoá, ví dụ như: các công nghệ mới làm
tăng tốc độ giao dịch kinh doanh, rút ngắn khoảng cách về không gian và
thời gian. Công nghệ thông tin đồng thời cũng góp phần nâng cao trình độ
dân trí, tạo điều kiện cho dân chủ phát triển, thúc đẩy nhu cầu mở của, giao
lưu hội nhập.
Tóm lại, chính sự phát triển như vũ bảo của khoa học kỹ thuật đã làm
phá vỡ hàng rào ngăn cách địa giới trong giao dịch của con người trên tất cả
các mặt giãu các quốc gia. Điều này đã đẩy quốc tế hoá nền kinh tế lên một
thời kỳ mới, thời kỳ toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới. Cac quốc gia dù
muốn hay không dều chịu tác động của của quá trình toàn cầu hoá và đương
§Ò ¸n kinh tÕ chÝnh trÞ
nhiên để tồn tại và phát triển trong điều kiện hiện nay không thế không tham
gia quá trình toàn cầu hoá, tức là hội nhập quốc tế.
2.2. Sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế thi trường
Qua trình quốc tế hoá, toàn cầu hoá có sự gắn bó chặt chẽ với tiến
trình phát triển của kinh tế thi trường. Kinh tế thị trường phát triển đã mở ra
điều kiện cho sự gia tăng xu thế quốc tế hoá, thể hiện trên hai khía cạnh
chính: Thứ nhất, kính tế thị trường mở ra cơ sở, điều kiện cho sự phát triển
của lực lượng sản xuất, làm cho quy mô sản xuất không bó hẹp trong phạm
vi cua từng quốc gia mà mang tầm quốc tế, như vậy cũng có nghĩa là thúc
đẩy quá trình phân công lao động quốc tế, gắn các quố gia vào sự ràng buộc
của sản xuất và tiêu thụ. Thứ hai, nền kinh tế thi trường phát triển của các
quốc gia đưa lại cơ chế thống nhất cho sử lý các mối quan hệ, đó là cơ chế
thị trường.
Có thể nói, ngày nay nền kinh tế thế giới thống nhất với cơ chế vận
hành : cơ chế thi trường.
Kinh tế thi trườngcàng phát triển thì sự giao thoa thâm nhập lẫn nhau
giữa các nền kinh tế càng tăng. Sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế thị trường
sản xuất thế giớivào cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 và những năm đầu của thế
kỷ 21 này dưới sự tác động của cuộc cách mạng khoa học kĩ thuậtđã đưa lại
sự phát triển chưa từng có của các công ti xuyên quốc gia.
Đến nay có gần khoảng 60000 công ti xuyên quốc gia đang kiểm soát
2/3 nền thưong mại thế giới, 4/5 nguồn vốn đầu tư trực tiếp ở nước ngoài và
9/10 kết quả nghiên cứu và chuyển giao công nghệ thế giới. Với sức mạnh
như vậy các công ti xuyên quốc gia không những có ưu thế trong phân phối
tài nguyên trên phạm vi thế giới giúp cho việc thúc đẩy phân công lao động
quốc tếđi vào chi tiết hoá mà còn thông qua việc toàn cầu hoá sản xuất và
kinh doanh để đẩy nhanh tiến trình toàn cầu hoá kinh tế.
§Ò ¸n kinh tÕ chÝnh trÞ
Sự phát triển mạnh mẽ của các công ti xuyên quốc gia trên địa phận
toàn cầu đã tạo ra mạng lưói liên kết kinh tế quốc tế. Các quốc gia có thể
tham gia ngay vào dây chuyền sản xuất quốc tế và cũng vì vậy mối quan hệ
phụ thuộc lẫn nhau gia tăng.
Các công ty xuyên quốc gia đã đóng vai trò rất lớn trong việc tăng
mức xuất khẩu, gia tăng mạnh mẽ vốn đầu tư trực tiếp nứoc ngoài vào các
nước đang phát triển đẩy mạnh tiến trinhf hội nhập của nền kinh tế này vào
nền kinh tế thế giới nói chung.
Như vậy sự phát triển và xâm nhập ngày càng mạnh của các công ty
xuyên quốc gia vào các nền kinh tế dân tộc đã góp phần xoá bỏ sự ngăn
cách biệt lập trong phát triển của nhiều quốc gia trên thế giới. Các quốc gia
dân tộc từng bước thamm gia, thích ứng với các chuẩn mực của nền kinh tế
quốc tế đồng thời nó cũng đem lại nét mới từ những bản sắc riêng, bổ sung
vào nền kinh tế toàn cầu làmm gia tăng tính đa dạng của nó.
2.5 Sự hình thành và phát triển của các định chế toàn cầu và khu
vực.
Các định chế toàn cầu ra đời nhằm đáp ứng đòi hỏi của xu thế quốc tế
hoá, toàn cầu hoá kinh tế. Sự tồn tại và hoạt động của các định chế toàn cầu
và khu vực lại góp phần thúc đẩy sự phát triển hơn nữa của xu thế toàn cầu
ngoài của các quốc gia đã làm cho lưu thông quốc tế bị hạn chế nền kinh tế
thế giới suy thoái mạnh.Nhưng từ sau chiến tranh thế giới thứ haithì các
quốc gia phát triển đã nhận thấy vấn đề cần phải tự do háo thương mại, giảm
các hàng rào thuế quan nhằm bành trướng thế lực ra bên ngoài. Và cho đến
naythì hầu hết các quốc gia trên thế giới đều tiến hành cải cách mở cửa, thực
hiện tư nhân hoá và tự do hoá mở ra không gian mới cho sự gia tăng xu thế
toàn cầu hoá. Đặc biệt trong quá trình cải cách nhiều quốc gia đã chuyển
hướng phát triển kinh tế từ hướng nội sang hướng ngoại mà cốt lõi là chuyển
từ công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu sang công nghiệp hoá hướng về xuất
khẩu.