----------
BÀI TIỂU LUẬN
Đề tài : Giải pháp chủ yếu tạo lập vốn
cho hoạt động sản xuất kinh doanh ở
Công ty cổ phần May Thăng Long
đứng vững và phát triển của công ty trong môi trường cạnh tranh ngày càng
trở lên khốc liệt. Vì vậy tạo lập vốn luôn là vấn đề quan trọng hàng đầu
trong công tác quản trị tài chính doanh nghiệp của công ty.
Chuyên đề tốt nghiệp 2
Trên cơ sở nhận thức về mặt lý luận và quá trình thực tập ở công ty
cổ phần may Thăng Long, em đã lựa chọn đề tài “ Giải pháp chủ yếu tạo
lập vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh ở Công ty cổ phần May
Thăng Long” làm đề tài nghiên cứu cho chuyên đề này.
Trong chuyên đề em đã tập trung tìm hiểu các hình thức tạo lập vốn
của doanh nghiệp và dựa trên cơ sở nghiên cứu thực trạng tạo lập vốn ở
công ty để đưa ra một số giải pháp tạo lập cho hoạt động sản xuất kinh
doanh của công ty.
Nội dung của chuyên đề gồm 3 phần:
Chương I: Tổng quan về vốn và tạo lập vốn trong công ty cổ phần (CTCP)
Chương II: Thực trạng tạo lập vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh ở
CTCP may Thăng Long
Chương III: Giải pháp chủ yếu tạo lập vốn ở CTCP may Thăng Long.
Do còn nhiều hạn chế về lý luận và nguồn dữ liệu nên các kết quả
phân tích thống kế chưa mang tính tổng quát cao. Em rất mong có sự góp ý
kiến của cô và các bạn nhằm hoàn thiện hơn nữa bản chuyên đề này.
Em xin chân thành cảm ơn PGS.TS Nguyễn Thị Thu Thảo cùng các
anh chị trong phòng kế toán CTCP may Thăng Long đã giúp em hoàn
thành chuyên đề này.
Sinh viên thực hiện
Mai Thị Thu Hằng
phải có vốn.
Vốn kinh doanh của một doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của
toàn bộ tài sản dùng cho kinh doanh:
Chuyên đề tốt nghiệp 4
Về phương diện vật chất vốn bao gồm các loại máy móc, thiết bị,
nhà cửa, kho tàng, vật kiện trúc, vật tư hàng hoá…là các phạm trù gắn với
nền sản xuất hàng hoá.
Vốn có thề là tiền như tiền Việt nam, ngoại tệ, vàng bạc đá quý…Nhưng
tiền chỉ có thể trở thành hàng hoá khi nó được đưa vào lưu thông, sản xuất
kinh doanh. tiền có sự luân chuyển từ hình thái vật chất sang tiền tệ với một
lượng lớn hơn và ngày càng mở rộng.
Ngoài sự tồn tại dưới dạng vật chất nó còn tồn tại dưới dạng là
những tài sản vô hình như quyền sở hữu công nghệ, uy tín của doanh
nghiệp, nhãn mác độc quyền, kinh nghiệm tay nghề, nguồn nhân lực, nguồn
chất xám…Những yếu tố này cũng được coi là vốn.
Đặc trưng của vốn
Trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung, nhà nước can thiệp và kiểm
soát trực tiếp mọi hoạt động của nền kinh tế xã hội. Đồng tiền về mặt lý
thuyết mang đầy đủ năm chức năng như lý luận của Mác ( trao đổi, cất trữ,
lưu thông, thanh toán, quốc tế) nhưng thực tế không đúng như vậy. Nhà
nước thâu tóm tất cả hoạt động của nền kinh tế, quyết định đến các vấn đề
trong kinh tế từ kế hoạch đến các bước thực hiện, nhu cầu về vốn hầu như
không tồn tại.
Chuyển sang cơ chế thị trường mọi hoạt động đều thay đổi, nhà nước
chỉ đóng vai trò điều tiết ở tàm vĩ mô, các doanh nghiệp tự quyết định sản
xuất kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về kết quả sản xuất kinh doanh của
Bốn là: Vốn có giá trị mặt thời gian - điều này cũng có nghĩa là phải
xem xét giá trị thời gian của đồng vốn. Có nhiều yếu tố tác động từ lạm
phát, sự biến động của giá cả…
Năm là: Vốn phải gắn với chủ sở hữu nhất định. Mỗi một đồng vốn đều
có chủ sở hữu nhất định . Trong nền kinh tế thị trường không thể có những
đồng vốn vô chủ, ở đâu có những đồng vốn vô chủ thì ở đó sẽ chi tiêu lãng
phí, kém hiệu quả. Ngược lại chỉ khi xác định rõ chủ sở hữu thì đồng vốn
Chuyên đề tốt nghiệp 6
mới hiệu quả. Cũng tuy theo hình thức đầu tư mà người sở hữu vốn có thể
đồng nhất với người sử dụng vốn, hoặc người sở hữu vốn tách khỏi người
sử dụng vốn. Song dù trong trường hợp nào thì người sở hữu vốn vẫn phải
được ưu tiên đảm bảo quyền lợi và được tôn trọng quyền sở hữu vốn của
mình. Đây là nguyên tắc huy động và quản lý vốn.
Sáu là: Trong nền kinh tế thị trường vốn phải được quan niệm là một
loại hàng hoá đặc biệt. Những người sẵn có thể đưa vốn vào thị trường còn
có những người khác cần có vốn lại tới thị trường này. Quyền sở hữu vốn
không di chyển nhưng quyền sử dụng vốn được chuyển nhượng qua sự
vay, nợ. Người vay phải trả một tỷ lệ lãi xuất tức là họ phải trả gía cho
quyền sử dụng vốn. Như vậy khác với các hàng hoá thông thường khác
hàng hoá vốn khi bị bán đi sẽ không mất quyền sở hữu mà người sở hữu
của nó chỉ mất quyền sử dụng. Người mua được quyền sử dụng vốn trong
thời gian nhất định và phải trả cho người sở hữu vốn một khoản tiền được
gọi là lãi suất.
Bẩy là: trong nền kinh tế thị trường vốn không chỉ biểu hiện bằng tiền
các tài sản hữu hình mà nó còn được biểu hiện bằng giá trị những tài sản vô
hình khác: vị trí địa lý kinh doanh, nhãn hiệu thương mại, bản quyền phát
thiết bị , nhà xưởng, công trình kiến trúc, chi phí mua phát minh sáng chế
… tham gia một cách trực tiếp hay gián tiếp vào quá trình sản xuất kinh
doanh. Tài sản cố định có hai thuộc tính như mọi hàng hoá khác là giá trị
và giá trị sử dụng , nó được mua bán, trao đổi trên thị trường
Đối với các doanh nghiệp khi bước vào hoạt động sản xuất kinh
doanh đều phải ứng trước một lượng tiền tệ nhất định để mua sắm tài sản
cố định, vốn đầu tư để mua sắm tài sản cố định này được goi là vốn cố định
của doanh nghiệp. Chính vì lẽ đó mà sự tuần hoàn và chu chuyển của vốn
cố định lại được giải quyết bởi đặc điểm của tài sản cố định. Quy mô vốn
cố định quyết định quy mô của tài sản cố định.
Tài sản cố định có đặc điểm là tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất
cùng với mức độ hao mòn tài sản cố định sẽ có một phần vốn cố định thể
Chuyên đề tốt nghiệp 8
hiện qua các chu kỳ sản xuất tương ứng với giá trị hao mòn tài sản cố định.
Đến khi tài sản cố định hết giá trị sử dụng thì vốn cố định cũng hoàn thành
một vòng luân chuyển của nó.
Tài sản cố định còn được phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau,
cũng tuỳ thuộc vào phương thức quản lý mà doanh nghiệp ứng dụng hợp
lý:
Theo hình thái thể hiện: tài sản cố định bao gồm tài sản cố định hữu
hình và tài sản cố định vô hình.
Tài sản cố định hữu hình là những tài sản biểu hiện bằng các hình
thái vật chất cụ thể như nhà xưởng, máy móc thiết bị, đất đai…
Tài sản cố định vô hình là những tài sản không biểu hiện bằng các
hình thái hiện vật cụ thể. Đó là những khoản chi cho phát minh sáng chế,
nhãn hiệu thương mại, các chi phí đầu tư ban đầu cho việc khảo sát thăm
sản lưu động như thế nào ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp.
Sự vận động của tài sản lưu động được diễn ra theo một qui trình
nhất định : T – H - Sx ….H’ - T’
Giai đoạn 1: T – H: doanh nghiệp bỏ vốn đầu tư mua sắm nguyên
nhiên liệu, các loại đầu vào cho quá trình sản xuất kinh doanh
Giai đoạn 2: Sx …: đây là giai đoạn các vật tư nguyên nhiên liệu đầu
vào được đưa vào quá trình sản xuất, cùng với lao động con người và các
loại máy móc thiết bị cần thiết các đối tượng lao động chuyển sang hình
thái thể hiện vật chất khác là thành phẩm hoặc sản phẩm dở dang hoặc sản
phẩm đã hoàn thành.
Giai đoạn 3: T’ – H’: giai đoạn hàng hoá được kiểm dịch và tung ra
thị trường.
Toàn bộ đối tượng lao động ở giai đoạn 1 và 2 được gọi là tài sản lưu
động. Như vậy vốn lưu động tham gia vào quá trình sản xuất và chuyển qua
Chuyên đề tốt nghiệp 10
nhiều hình thái khác nhau. Lúc đầu là tiền tệ, sau đó là hình thái dự trữ
hàng hóa rồi cuối cùng quay về hình thái tiền tệ ban đầu nhưng với số
lượng lớn hơn.
Vốn lưu động gắn chặt với từng bước thực hiện của hoạt động sản
xuất kinh doanh, như vậy để sử dụngvốn lưu động có hiệu quả thì phải căn
cứ vào thực tế hoạt động sản xuất kinh doan, tiêu thụ sản phẩm của doanh
nghiệp để xây dựng một cơ cấu vốn hợp lý, tránh tình trạng ứ đọng vốn,
hay thiếu vốn.
Trên giác độ nguồn hình thành của vốn:
Vốn được phân chia thành vốn tự có và vốn vay:
nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc không thấp hơn tổng vốn
đầu tư các dự án nếu dùng để đầu tư thực hiện dự án.
Vốn nợ( nợ phải trả):
Nếu như với vốn chủ sở hữu chủ doanh nghiệp có thể sử dụng mà
không có sự ràng buộc nào thì vốn nợ là khoản vốn mà doanh nghiệp phải
cam kết thanh toán, doanh nghiệp chỉ có quyền sử dụng vốn trong phạm vi
những ràng buộc nhất định mà không có quyền sở hữu. trong mối quan hệ
với vốn nợ thì doanh nghiệp là con nợ, có nghĩa vụ trả lãi số vốn vay và
hoàn trả gốc vay. Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh tuỳ thuộc
vào nhu cầu vốn kinh doanh của doanh nghiệp, doanh nghiệp có thể tiến
hành vay vốn từ nhiều nguồn khác nhau như vay các tổ chức tín dụng (
ngân hàng, công ty tài chính…), từ dân cư trong và ngoài nước, từ các tổ
chức kinh tế xã hội dưới các hình thức như tín dụng ngân hàng, tín dụng
thương mại , …Sử dụng vốn nợ doanh nghiệp có thể tiết kiệm được chi phí
nhờ thuế, nhưng cũng không phải có lợi hoàn toàn, vì bên cạnh đó còn các
yếu tố về khả năng kinh doanh, khả năng trả nợ, tỷ lệ lãi vay…
Chuyên đề tốt nghiệp 12
Mỗi doanh nghiệp tồn tại và phát triển vì nhiều mục tiêu khác nhau
như tối đa hoá lợi nhuận, tối đa hoá doanh thu trong ràng buộc tối đa hoá
lợi nhuận, tối đa hoá hoạt động hữu ích của các nhà lãnh đạo doanh
nghiệp… song tất cả các mục tiêu đó đều nhằm mục đích tối đa hoá giá trị
tài sản cho các chủ sở hữu. Do đó mỗi doanh nghiệp phải có cơ cấu vốn
hợp lý, cân nhắc các yếu tố bên trong và bên ngoài để đưa ra các quyết định
cá nhân, tập thể. Sở hữu cá nhân nếu số vốn đó nằm trong công ty tư nhân.
sở hữu tập thể nếu số vốn đó nằm trong công ty trách nhiệm hữu hạn hay
công ty cổ phần. Vốn trong các doanh nghiệp nhà nước hình thành từ
nguồn vốn do ngân sách nhà nước cấp thuộc sở hữu nhà nước. Nhưng dù ở
hình thức sở hữu nào thì vai trò của vốn cũng không thay đổi.
Với mọi doanh nghiệp dù ở hình thức nào thì muốn hoạt động sản
xuất kinh doanh được đều phải có lượng vốn nhất đinh. Đây là điều kiện
tiên quyết, quan trọng nhất cho sự ra đời tồn tại và phát triển của doanh
nghiệp. Tuỳ theo loại hình kinh doanh mà luật qui định doanh nghiệp phải
có số vốn pháp định nhất định. Tuỳ theo nguồn vốn kinh doanh cũng như
phương thức huy động vốn mà doanh nghiệp có các tên gọi khác nhau như:
doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp nhà nước, công ty cổ phần, công ty
trách nhiệm hữu hạn…Có vốn doanh nghiệp mới có điều kiện để trang bị
các thiết bị, cơ sở vật chất cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh như
văn phòng, phương tiện hoạt động, … cùng với việc ứng dụng khoa học
vào hoạt động sản xuất kinh doanh, vốn cũng quyết định đến khả năng đổi
mới thiết bị, công nghệ, phương pháp quản lý,…của doanh nghiệp trong
suốt quá trình hoạt động.
Số lượng vốn của doanh nghiệp lớn hay nhỏ là một trong những tiêu
thức quan trọng để xếp doanh nghiệp vào qui mô lớn, hay nhỏ và nó cũng
là điều kiện để sử dụng các tiềm năng hiện có cũng như các yếu tố đầu vào
doanh nghiệp. ví dụ khi doanh nghiệp có ít vốn thì chỉ có thể sử dụng các
loại máy móc có công nghệ trung bình và sử dụng nhiều nhân công. Ngược
Chuyên đề tốt nghiệp 14
lại doanh nghiệp có lượng vốn lớn thì có khả năng sử dụng công nghệ hiện
đại, tiết kiệm được nhiều chi phí và nhân công. Ngoài ra vốn của doanh
15
kinh doanh, và nó cũng là chất keo để chắp nối, kết dính các quá trình kinh
tế là dầu nhớt để bôi trơn cỗ máy kinh tế vận động.
Như vậy vai trò của vốn rất quan trọng đối với sự tồn tại và phát
triển của doanh nghiệp, thực tiễn nền kinh tế trong những năm qua cũng chi
thấy doanh nghiệp nào có lượng vốn càng lớn thì càng có thể chủ động
trong kinh doanh. Ngược lại doanh nghiệp nào thiếu vốn kinh doanh không
có chiến lược tài trợ trước mắt cũng như lâu dài thường đánh mất cơ hội
kinh doanh, cũng như vai trò của mình trên thị trường mất bạn hàng thường
xuyên ổn định không tạo ra sức mạnh và hiệu quả tổng hợp trong kinh
doanh.
Nhận biết được vai trò của vốn trong kinh doanh, nhưng để có được
lượng vốn cần thiết thì nhất thiết doanh nghiệp phải có các biện pháp tạo
lập hữu hiệu và phù hợp, đồng thời phải có chính sách sử dụng hiệu quả và
hợp lý. Tuy nhiên sử dụng hình thức tạo lập nào, thời hạn dài hay ngắn, chi
phí huy động cao hay thấp… bắt buộc doanh nghiệp phải luôn có sự cân
nhắc, vừa đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh, vừa tối thiểu hoá chi
phí, hạn chế thấp nhất rủi ro nhằm thực hiện được các mục tiêu của mình.
Mặt khác mỗi doanh nghiệp đều có các đặc điểm riêng, có những lợi
thế riêng và những hạn chế nhất định. Chính vì vậy mỗi doanh nghiệp phải
tự đánh giá phân tích những ưu và nhược điểm của mình để tìm ra những
phương thức tạo lập vốn phù hợp nhất hiệu quả nhất phát huy khả năng
tiểm ẩn và hạn chế những nhược điểm.
1.2 Tạo lập vốn, các hình thức tạo lập và các nhân tố ảnh hưởng đến việc
tạo lập vốn
1.2.1 Khái niệm tạo lập vốn
Tuỳ theo từng loại hình doanh nghiệp và đặc điểm kinh doanh mà
mỗi doanh nghiệp có các phương thức tạo lập vốn khác nhau. Nhưng sử
Chuyên đề tốt nghiệp
Chuyên đề tốt nghiệp 17
Đây là vốn ban đầu do các chủ sở hữu đóng góp khi thành lập doanh
nghiệp. Lượng vốn này được tạo lập từ nhiều phương thức khác nhau tuỳ
thuộc vào từng loại hình doanh nghiệp.
- Đối với doanh nghiệp nhà nước: Vốn tự có là vốn do nhà nước cấp
phát và bổ sung. Việc giao vốn cho các doanh nghiệp nhà nước do cục
quản lý vốn và tài sản tại doanh nghiệp trước đây và hiện nay là cục tài
chính doanh nghiệp trực thuộc bộ tài chính đảm nhận có sự chứng kiến của
các đại diện cơ quan ra quyết định thành lập doanh nghiệp. Trong thời kỳ
bao cấp nhà nước tài trợ hầu như toàn bộ vốn kinh doanh cho các xí nghiệp
quốc doanh trong nền kinh tế, nên có hiện tượng ỉ lại vào sự bao cấp của
nhà nước. Hậu quả là làm giảm tính năng động của các xí nghiệp trong việc
chủ động khai thác các nguồn vốn cũng như tìm kiếm các giải pháp để bảo
toàn và sử dụng vốn một cách có hiệu quả. Khi bước sang cơ chế thị trường
đi đôi với việc mở rộng và khuyến khích các thành phần kinh tế khác phát
triển, chính phủ đã xúc tiến các biện pháp đổi mới cơ chế quản lý tài chính
đối với khu vực kinh tế quốc doanh nhằm giảm bớt gánh nặng cho Ngân
sách nhà nước. Các doanh nghiệp chủ động bổ sung phần thiếu hụt bằng
các nguồn tài trợ khác.
- Đối với công ty cổ phần: vốn ban đầu do các cổ đông đóng góp
thông qua việc mua cổ phần. Mỗi cổ đông là một chủ sở hữu của công ty cổ
phần, việc phân chia quyền kiểm soát và lợi nhuận sau thuế căn cứ vào tỉ lệ
vốn góp. Trong công ty cổ phần có nhiều loại cổ phần khác nhau, qui định
quyền và nghĩa vụ của các cổ đông.
- Đối với công ty trách nhiệm hữu hạn: vốn góp ban đầu do các bên
tham gia đóng góp theo tỉ lệ thoả thuận và đây là căn cứ để phân chia lợi
nhuận.
Lợi nhuận để lại là một bộ phận lợi nhuận được sử dụng tái đầu tư, mở
rộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Đây là một phương thức tạo
nguồn tài chính quan trọng và hấp dẫn của các doanh nghiệp vì nó giúp cho
doanh nghiệp giảm thiểu được chi phí, giảm bớt sự phụ thuộc vào bên
Chuyên đề tốt nghiệp 19
ngoài. Tuy nhiên nguồn vốn tái đầu tư từ lợi nhuận để lại chỉ có thể thực
hiện được nếu như doanh nghiệp đã và đang hoạt động và có lợi nhuận,
được phép tiếp tục đầu tư. Ngoài ra còn phụ thuộc vào các yếu tố khác.
Chẳng hạn đối với doanh nghiệp nhà nước việc tái đầu tư không chỉ phụ
thuộc vào khả năng sinh lời của bản thân doanh nghiệp mà còn phụ thuộc
vào chính sách khuyến khích tái đầu tư của nhà nước.
Mặt khác đối với công ty cổ phần thì việc để lại lợi nhuận liện quan đến
một số yếu tố rất nhạy cảm. Khi công ty để lại một phần lợi nhuận trong
năm cho tái đầu tư, tức là không dùng số lợi nhuận đó để chia lãi cổ phần,
các cổ đông không được nhận số lợi nhuận đó nhưng bù lại họ có quyền sở
hữu số cổ phần tăng lên của công ty. Như vậy giá trị ghi sổ của các cổ
phiếu sẽ tăng lên cùng với việc tự tài trợ bằng nguồn vốn nội bộ. Điều này
một mặt khuyến khích cổ đông giữ cổ phiếu lâu dài nhưng mặt khác dễ làm
giảm tính hấp dẫn của cổ phiếu trong thời kỳ trước mắt (ngắn hạn) do cổ
đông chỉ nhận được một phần cổ tức nhỏ hơn. Nếu tỷ lệ chi trả cổ tức thấp
hoặc số lãi ròng không đủ hấp dẫn thì cổ phiếu có thể bị giảm sút. Do đó để
đảm bảo mục tiêu tối đa hoá giá trị tài sản của chủ sở hữu mà không làm
giảm giá cổ phiếu trên thị trường, chính sách phân phối cổ tức của công ty
cổ phần phải lưu ý đến một số vấn đề liên quan như:
- Tổng số lợi nhuận ròng trong kỳ
- Mức chia lãi trên một cổ phiếu của các năm trước
lãi
Là nguồn tài trợ dài hạn và ổn định
Rủi ro được tiếp tục phân tán cho các cổ đông mới nên độ
rủi ro tính trên một đồng vốn chủ sở hữu giảm đi
+ đối với người mua:
Có quyền yêu cầu về thu nhập nên công ty hoạt động càng
hiệu quả, cổ tức càng cao do không giới hạn về thu nhập
Có quyền kiểm soát đối với hoạt động của công ty
Chuyên đề tốt nghiệp 21
Trở thành chủ sở hữu công ty, lợi nhuận kỳ vọng từ khoản
đầu tư này cao hơn so với chủ nợ.
Bên cạnh những thuận lợi rất hấp dẫn thì cổ phiếu thông thường
cũng có những hạn chế:
+ đối với nhà phát hành:
Quyền kiểm soát bị chia sẻ
Do rủi ro của việc sử dụng vốn từ phát hành cổ phiếu thấp
nên khả năng sinh lời sẽ giảm đi
Chi phí vốn cao hơn chi phí nợ vì đây là chi phí cao nhất
trong các loại vốn huy động
Chi phí vốn chủ sỏ hữu là chi phí sau thuế nên không được
lợi từ khoản tiết kiệm nhờ thuế
+ đối với người mua:
Quyền yêu cầu về thu nhập và tài sản là sau cùng
Rủi ro gánh chịu là cao hơn so với chủ nợ ( rủi ro không
thu hồi được vốn đầu tư)
- Cổ phiếu ưu tiên: loại cổ phiếu này thường chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ
bởi vì sử dụng nguồn này doanh nghiệp có những ưu thế hơn sử dụng vốn
chủ sở hữu, ở một số điểm sau:
- Khả năng sinh lời của khoản nợ lớn hơn khả năng sinh lời của vốn
chủ sở hữu do rủi ro sử dụng nợ cao hơn tức là lợi nhuận kì vọng cao hơn.
- Các khoản lãi phải trả cho khoản nợ là đối tượng khấu trừ thuế ( chi
phí trước thuế ) nên doanh nghiệp sẽ được hưởng khoản tiết kiệm nhờ thuế.
- Chi phí nợ nhỏ hơn chi phí vốn chủ sở hữu ( đối với doanh nghiệp
tại một thời điểm nhất định)
Chuyên đề tốt nghiệp 23
Do sử dụng nợ có những ưu thế trên nên các doanh nghiệp thường
khai thác triệt để nguồn này để tạo đòn bẩy tài chính khuyếch đại thu nhập
cho chủ sở hữu.
Tín dụng ngân hàng
Có thể nói rằng vốn vay ngân hàng là một trong những nguồn vốn
quan trọng nhất không chỉ đối với sự phát triển của bản thân các doanh
nghiệp mà còn đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Nguồn vốn này xuất
hiện từ sớm trong lịch sử và tiếp tục khẳng định ưu thế của nó cho đến
ngày hôm nay và cả tương lai. Không một doanh nghiệp nào không vay
vốn ngân hàng nếu doanh nghiệp đó muốn tồn tại vững chắc trên thương
trường. Trong quá trình hoạt động các doanh nghiệp thường vay ngân hàng
để đảm bảo nguồn tài chính cho các hoạt động sản xuất kinh doanh đặc biệt
là đảm bảo có đủ vốn cho các dự án mở rộng hoặc đầu tư chiều sâu của
doanh nghiệp.
Cùng với sự phát triển kinh tế nhiều loại hình ngân hàng đã ra đời
với nhiều loại hình dịch vụ để thu hút ngày càng nhiều khách hàng. Ngay
trong nghiệp vụ cho vay của ngân hàng cũng đã rất đa dạng. Doanh nghiệp
cho doanh nghiệp nhưng trong một số trường hợp điều đó cũng làm cho
doanh nghiệp có cảm giác bị “kiểm soát”.
- Lãi suất vay vốn (chi phí sử dụng vốn): lãi suất phản ánh chi phí sử
dụng vốn. Yếu tố này phụ thuộc vào tình hình trên thị trường trong từng
thời kỳ. Nếu lãi suất vay quá cao thì doanh nghiệp phải gánh chịu chi phí
sử dụng vốn lớn giảm thu nhập của doanh nghiệp.
Đây là hình thức tạo lập vốn phổ biến và nó chiếm gần 90% nguồn
vốn cho các doanh nghiệp ở nước ta hiện nay. Cùng với nguồn tín dụng
ngân hàng doanh nghiệp còn có thể sử dụng nhiều hình thức khác như tín
dụng thương mại, phát hành trái phiếu (vay trên thị trường chứng khoán )
Tín dụng thương mại
Thông thường quan hệ mua bán giữa các doanh nghiệp không kết thúc
ngay ở một thời điểm, nghĩa là dòng tiền tài chính xuất hiện chậm hơn