Phát triển cho vay cá nhân tại Tổng công ty tài chính cổ phần Dầu khí Việt Nam - Pdf 88

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
PVFC Tổng công ty Tài chính cổ phần Dầu khí Việt Nam
NHNN Ngân hàng Nhà nước
NHTM Ngân hàng thương mại
CIC Trung tâm thông tin tín dụng NHNN
CTCG Chứng từ có giá
TCTD Tổ chức tín dụng
CBNV Cán bộ nhân viên
DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Các bảng biểu
Bảng 2.1 Cơ cấu tổ chức bộ máy của PVFC
Bảng 2.2 Kết quả kinh doanh của PVFC từ 2004-2007
Bảng 2.3 Tình hình dư nợ của PVFC
Bảng 2.4 Tỷ trọng cho vay cá nhân trong tổng dư nợ cho vay tại PVFC
Bảng 2.5 Cơ cấu dư nợ cho vay cá nhân theo tài sản đảm bảo
Bảng 2.6 Cơ cấu cho vay cá nhân theo mục đích vay vốn tại PVFC
Bảng 2.7 Lợi nhuận thu được từ cho vay và cho vay cá nhân
Bảng 2.8 Tỷ lệ nợ quá hạn trong cho vay tiêu dùng của PVFC
Bảng 3.1 Dự kiến hoạt động cho vay cá nhân năm 2009 – 2010
Các biểu đồ
Biểu 2.1 Tổng dư nợ cho vay của PVFC 2006-2008
Biểu 2.2 Cơ cấu dư nợ cho vay cá nhân theo tài sản đảm bảo
Biểu 2.3 Cơ cấu cho vay cá nhân theo mục đích vay năm 2007
Biểu 2.4 Doanh thu và lợi nhuận cho vay cá nhân qua các năm
Biểu 2.5 Tỷ trọng cho vay cá nhân trong tổng dư nợ cho vay tại PVFC
Biểu 3.1 Tỷ trọng hạn mức cho vay cá nhân 2009 của các chi nhánh
Lời nói đầu
Trong những năm qua, nền kinh tế Việt Nam đang trên đà phát triển
và hội nhập với thế giới. Việc hội nhập với nền kinh tế thế giới và khu vực
của Việt Nam đạt được nhiều thành tựu đáng khích lệ, khuyến khích các
nhà đầu tư trong và ngoài nước tìm kiếm các lĩnh vực đầu tư hiệu quả,

tốt nghiệp.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, chuyên đề tốt nghiệp được trình bày
thành 3 chương:
Chương 1 : Cơ sở lý luận về cho vay cá nhân tại công ty tài chính
Chương 2 : Thực trạng cho vay cá nhân tại tổng công ty Tài chính
cổ phần Dầu khí Việt nam
Chương 3 : Giải pháp phát triển cho vay cá nhân tại tổng công ty
Tài chính cổ phần Dầu khí Việt Nam
Chương 1 : Cơ sở lý luận về cho vay cá nhân
tại công ty tài chính
1.1 Hoạt động cho vay của công ty tài chính
1.1.1 Khái quát về công ty tài chính
Sự ra đời và phát triển của Công ty Tài chính gắn liền với sự phát
triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường, sự tiến bộ của khoa học công
nghệ và các nhu cầu đa dạng của con người về các dịch vụ tài chính.
Những năm đầu thế kỷ XX, các trung gian tài chính phi Ngân hàng trong
đó có các Công ty Tài chính, được hình thành trên cơ sở chuyên môn hóa
một số hoạt động của Ngân hàng thương mại và tạo nên sự đa dạng hóa các
tổ chức tài chính trong nền kinh tế thị trường. Cho đến thập kỷ 70 có ba
loại hình Công ty Tài chính hoạt động phổ biến là : Công ty Tài chính tiêu
dùng, Công ty Tài chính bán hàng và Công ty Tài chính kinh doanh.
Từ thập kỷ 80 trở lại đây, các Công ty Tài chính không ngừng thực
hiện đa dạng hóa hoạt động kinh doanh trên nhiều lĩnh vực như thuê mua,
đầu tư tài chính, phát hành và kinh doanh chứng khoán…đồng thời thực
hiện sáp nhập, thôn tính lẫn nhau để tạo thành các Công ty Tài chính có
quy mô hoạt động lớn, nâng cao sức cạnh tranh và hiệu quả kinh doanh.
Ở Việt Nam, đến năm 1998, nền kinh tế thị trường bắt đầu được hình
thành, nhu cầu vốn trong nền kinh tế đòi hỏi ngày một cao vì thế bên cạnh
sự phát triển của các Ngân hàng thương mại thì có sự xuất hiện của các
Công ty Tài chính. Theo khoản 3 Điều 20 Luật các tổ chức tín dụng ban

Cho vay là việc công ty tài chính đưa tiền cho khách hàng với cam
kết khách hàng phải hoàn trả cả gốc và lãi trong khoảng thời gian xác định.
Theo quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng do
Thống đốc NHNN Việt Nam ban hành “Cho vay là một hình thức cấp tín
dụng, trong đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng một khoản tiền để sử
dụng vào mục đích và trong một khoảng thời gian nhất định theo thoả
thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.”
1.1.2.2 Các hình thức phân loại cho vay
 Căn cứ theo thời hạn cho vay : cho vay được chia làm 3 loại bao
gồm cho vay ngắn hạn, cho vay trung hạn và cho vay dài hạn.
- Cho vay ngắn hạn : là các khoản vay có thời hạn đến 12 tháng và
được sử dụng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động của các doanh
nghiệp hay các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân.
- Cho vay trung hạn là các khoản vay có thời hạn từ 12 tháng đến 60
tháng và chủ yếu được sử dụng để đầu tư vào tài sản cố định, cải tiến
thiết bị công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án
có qui mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh.
- Cho vay dài hạn là các khoản vay có thời hạn từ 60 tháng trở lên và
được sử dụng để đáp ứng các nhu cầu dài hạn như xây dựng nhà ở,
xây dựng các xí nghiệp mới và đầu tư vào các dự án có qui mô lớn.
 Căn cứ theo hình thức bảo đảm tiền vay
- Cho vay có tài sản bảo đảm : là hình thức mà khoản vay của khách
hàng được bảo đảm bằng tài sản, cầm cố, thế chấp.Giá trị tài sản bảo
đảm là cơ sở để công ty tài chính xác định số tiền vay.
- Cho vay không có tài sản bảo đảm : là hình thức cho vay mà công ty
tài chính dựa trên uy tín và khả năng tài chính của khách hàng không
yêu cầu khách hàng phải cầm cố hay thế chấp tài sản.
 Căn cứ theo mục đích cho vay
- Cho vay kinh doanh bất động sản : bao gồm các khoản cho vay xây
dựng ngắn hạn và giải phóng mặt bằng cũng như các khoản cho vay

Cho vay cá nhân được bắt đầu từ yêu cầu đẩy mạnh tiêu thụ hàng
hóa của các hộ gia đình kinh doanh nhỏ và nhu cầu tiêu dùng của cá nhân
cũng gia tăng mạnh mẽ như nhu cầu về nhà, xe, đồ gỗ sang trọng hay nhu
cầu du lịch. Điều này làm cho nhu cầu vay của mỗi cá nhân tăng lên và là
điều kiện thuận lợi cho hoạt động cho vay cá nhân phát triển.
Hơn nữa, cho vay cá nhân cũng chính là cách để các công ty tài
chính mở rộng hướng hoạt động của mình, tận dụng tối đa nguồn tiền tích
luỹ được. Nhiều hãng lớn hiện nay khi thiếu vốn đã không tìm đến công ty
tài chính để vay tiền mà họ tự tài trợ chủ yếu thông qua phát hành cổ phiếu
và trái phiếu. Mặt khác, hiện nay, công ty tài chính đang gặp phải sự cạnh
tranh khốc liệt từ phía các tổ chức tài chính khác cũng như các ngân hàng
thương mại trong cho vay làm cho thị phần cho vay các doanh nghiệp của
công ty bị giảm sút, buộc các công ty phải mở rộng sang thị trường cho vay
cá nhân, hướng tới người dân như là một khách hàng tiềm năng.
Công ty tài chính
Khách hàng
nhận vốn vay
Người thanh
toán nợ
Bên cạnh đó, một số tầng lớp người dân có thu nhập khá hoặc cao
và tương đối ổn định xuất hiện. Điều này tạo điều kiện cho họ đi vay để
nâng cao mức sống, tăng khả năng được đào tạo,…giúp họ có nhiều cơ hội
tìm kiếm các công việc có mức thu nhập cao hơn.
Khái niệm
Cho vay cá nhân là việc công ty tài chính chuyển tiền cho khách
hàng là cá nhân với cam kết khách hàng phải hoàn trả cả gốc và lãi đúng
hạn theo hợp đồng vay.
Đây là hình thức tài trợ cho mục đích chi tiêu của cá nhân và hộ gia
đình. Các khoản cho vay cá nhân là nguồn tài chính quan trọng giúp người
dân có thể trang trải các nhu cầu trong cuộc sống như nhà ở, phương tiện đi

chính vì nguồn trả nợ lấy từ thu nhập nên khách hàng cũng quan tâm đến
kỳ hạn trả nợ. Chỉ khi nào khách hàng có thu nhập thì lúc đó họ mới có tiền
để trả lãi cho ngân hàng. Thường thì kỳ hạn trả nợ là hàng tháng theo lương
tháng của khách hàng. Tuy nhiên, cũng có những khách hàng tiến hành
hoạt động sản xuất kinh doanh một số mặt hàng nào đó mà kỳ thu tiền của
họ có thể là quý. Khi đó, ngân hàng và các công ty tài chính cần chú ý điều
chỉnh kỳ hạn trả nợ cho phù hợp.
Thứ tư là giá trị mỗi khoản vay không lớn nhưng số lượng lại nhiều
Đối tượng của cho vay cá nhân là các cá nhân và hộ gia đình. Họ vay
để phục vụ nhu cầu tiêu dùng và hoạt động kinh doanh nhỏ nên việc cho
vay phụ thuộc lớn vào thu nhập. Vì vậy, quy mô số tiền vay của những
người này là không nhiều. Một số khoản cho vay bất động sản có thể có qui
mô lớn hơn, lên đến vài tỷ đồng, song nếu so với các khoản cho vay kinh
doanh khác thì chúng vẫn còn nhỏ hơn. Một lý do nữa là do yêu cầu hạn
chế rủi ro của các công ty tài chính, không cho vay nhiều đối với khách
hàng là cá nhân, đặc biệt là các khoản cho vay không có tài sản đảm bảo,
nên các khoản vay cá nhân thường có quy mô không lớn. Tuy nhiên, số
lượng của các khoản vay lại nhiều do nhu cầu tiêu dùng của người dân lớn
và ngày càng gia tăng. Hiện nay, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, thu
nhập cũng như trình độ dân trí đã và đang tăng lên đáng kể, thúc đẩy phát
triển nhu cầu vay để cải thiện, nâng cao chất lượng cuộc sống và mức
hưởng thụ.
Thứ năm là chi phí của khoản cho vay cá nhân cao
Lý do là bởi mỗi khoản cho vay trên một khách hàng thông thường
là nhỏ mà các công ty tài chính vẫn phải tốn nhiều thời gian và nhân lực để
điều tra, thu thập các thông tin về chủ thể vay tiền, tình hình sức khoẻ, đạo
đức. Hơn nữa, việc quản lý các khoản cho vay tiêu dùng với giá trị nhỏ
những số lượng lớn cũng là một vấn đề khó khăn đối với các công ty tài
chính. Do chi phí cho vay cao nên lãi suất áp dụng trong cho vay cá nhân
thường cao hơn lãi suất cho vay thương mại.

cá nhân.Cho vay cá nhân sẽ tăng lên về doanh số cho vay cũng như tỷ lệ
cho vay so với tổng doanh số cho vay của công ty.
Công ty tài chính sẽ phát triển cả về chất và về lượng của hoạt động
cho vay cá nhân, phát triển hoạt động cho vay cá nhân tới nhiều tầng lớp
dân cư trên cả nước. Trước tiên là nâng cao doanh số cho vay và số lượng
các khoản cho vay cá nhân. Tiếp đó, công ty nâng cao chất lượng phục vụ
khách hàng khi rút ngắn thời gian cho vay xuống, giảm bớt các thủ tục cho
vay để khách hàng thuận tiện hơn, đưa ra nhiều gói dịch vụ mới nhằm đáp
ứng nhu cầu vay của người dân.
1.3.2 Các chỉ tiêu phản ánh phát triển cho vay cá nhân của công ty tài chính
1.3.2.1 Các chỉ tiêu phản ánh về lượng
Số lượng các hình thức cho vay cá nhân
Khi xem xét về mức độ phát triển cho vay cá nhân của công ty, yếu
tố đầu tiên được đánh giá chính là số lượng các hình thức cho vay mà công
ty cung cấp. Số lượng các loại hình nhiều cho thấy mức độ tâp trung mở
rộng hoạt động đó của công ty càng lớn. Vì vậy, khi công ty chú trọng tới
việc phát triển hoạt động cho vay cá nhân thì các hình thức cho vay cá nhân
của công ty sẽ có sự đa dạng hơn.
Số lượng khách hàng vay
Để đánh giá mức độ phát triển cho vay cá nhân của công ty, bên
cạnh việc đánh giá số lượng các loại hình cho vay mà công ty cung cấp, số
lượng khách hàng vay cũng là một yếu tố quan trọng. Nếu một công ty có
số lượng các loại hình cho vay cá nhân phong phú nhưng số lượng khách
hàng vay ít thì công ty đó chưa được coi là phát triển trong hoạt động này.
Vì thế, công ty muốn phát triển hoạt động này thì cần phải quan tâm phát
triển số lượng khách hàng.
Doanh thu từ hoạt động cho vay
Doanh thu cho vay là một chỉ tiêu quan trọng phản ánh cho sự tăng
trưởng về số lượng của hoạt động cho vay. Doanh thu là số tiền công ty thu
được từ hoạt động cho vay.

Dư nợ cho vay phản ánh số tiền mà khách hàng đang nợ tại một thời
điểm nhất định. Dư nợ cho vay được xác định dựa trên số tiền đang cho
vay cuối kỳ trên bảng cân đối kế toán của công ty.
Sự tăng trưởng dư nợ cho vay cũng được tính tương tự như sự tăng
trưởng của doanh số thu nợ bao gồm sự tăng trưởng tuyệt đối và sự tăng
trưởng tương đối. Sự tăng trưởng tuyệt đối được tính bằng cách lấy số dư
nợ cho vay cuối kỳ trừ đi số dư nợ cho vay đầu kỳ. Sự tăng trưởng dư nợ
cho vay tương đối được xác định bằng cách lấy tỷ lệ phần trăm của tăng
trưởng dư nợ cho vay tuyệt đối với mức dư nợ cho vay đầu kỳ của ngân hàng.
Nhóm chỉ tiêu về tăng trưởng dư nợ cho vay cho thấy khả năng của
công ty trong việc đáp ứng nhu cầu vốn vay của khách hàng, khả năng cạnh
tranh thu hút khách hàng của công ty.
1. 3.2.2 Các chỉ tiêu phản ánh về chất
Lợi nhuận cho vay
Lợi nhuận cho vay là sự chênh lệch giữa doanh thu hoạt động cho
vay với chi phí của hoạt động này. Sự tăng trưởng về lợi nhuận cho biết
chất lượng trong hoạt động cho vay.
Sự tăng trưởng tuyệt đối về lợi nhuận được xác định bằng hiệu số
giữa lợi nhuận hoạt động cho vay cá nhân năm nay với lợi nhuận hoạt động
cho vay cá nhân năm trước. Sự tăng trưởng tương đối về lợi nhuận được
xác định bằng tỷ lệ phần trăm giữa sự tăng trưởng tuyệt đối về lợi nhuận
với lợi nhuận hoạt động cho vay cá nhân năm trước.
Tỷ lệ nợ quá hạn
Nợ quá hạn là khoản nợ đến hạn trả mà khách hàng không có khả
năng trả nợ, nó phản ánh khối lượn vốn mà công ty có nguy cơ gặp rủi ro
không thu hồi được. Tỷ lệ nợ quá hạn là tỷ số giữa nợ quá hạn với tổng dư
nợ của công ty tính đến thời điểm xác định.
Đây là chỉ tiêu phản ánh thực trạng và chất lượng của các khoản cho
vay cá nhân. Chỉ tiêu này lớn cho thấy sự không hiệu quả trong hoạt động
cho vay cá nhân của công ty tài chính. Còn nếu giá trị của chỉ tiêu này nhỏ,

một tuyên bố về tiêu chuẩn đối với danh mục cho vay của công ty. Một
chính sách cho vay rõ ràng sẽ mang lại nhiều lợi thế và thuận lợi cho công
ty. Một chính sách cho vay được quy định thông thoáng sẽ khuyến khích
hoạt động cho vay cá nhân phát triển. Ngược lại chính sách được quy định
quá khắt khe thì sẽ không khuyến khích người dân vay vốn để phục vụ mục
tiêu cá nhân riêng.
Chính sách cho vay cá nhân có ảnh hưởng quan trọng tới định hướng
hoạt động cho vay cá nhân của công ty tài chính.Nếu chính sách này được
đưa ra một cách hợp lý, có định hướng phát triển lâu dài thì công ty sẽ từng
bước xây dựng để phát triển hoạt động cho vay cá nhân.Nhưng nếu công ty
không chú trọng phát triển mảng hoạt động cho vay này thì những chính
sách mà công ty đưa ra sẽ không tập trung vào hoạt động cho vay cá nhân,
không hướng tới việc phát triển hoạt động này.
1.4.1.2 Năng lực của đội ngũ nhân viên
Nhân viên công ty là người trực tiếp thực hiện các dịch vụ của công
ty tài chính. Vì vậy đội ngũ nhân viên đóng một vai trò quan trọng và là
những người quyết định chất lượng các dịch vụ của công ty. Khi một khách
hàng đến giao dịch tại công ty tài chính thì nhân viên công ty là người
hướng dẫn họ và giúp họ hiểu rõ dịch vụ mà họ đang cần sử dụng. Cán bộ
là người đại diện cho công ty, quyết định tới hình ảnh của công ty khi
khách hàng lần đầu đến giao dịch, sử dụng dịch vụ. Vì vậy yêu cầu đối với
các cán bộ là phải năng động, nhiệt tình, trung thực và luôn làm hài lòng
khách hàng. Điều nãy sẽ giúp cho khách hàng cảm thấy thoải mái khi đến
với ngân hàng, giúp hoạt động cho vay có hiệu quả hơn. Nâng cao năng lực
của đội ngũ cán bộ sẽ giúp công ty tài chính giảm thiểu các rủi ro trong
hoạt động cho vay.
Đã có rất nhiều công ty tài chính xảy ra tổn thất khi trình độ năng lực
của cán bộ nhân viên yếu, đạo đức không tốt. Do vậy, năng lực cán bộ nhân
viên là một trong những yếu tố quan trọng quyết định đến việc phát triển
hoạt động cho vay, đặc biệt là với cho vay cá nhân.

hình ảnh của côngn ty đến với người dân và thu hút khách hàng về cho
công ty. Các công ty tài chính không chỉ quảng cáo về mình cũng như các
sản phẩm của mình trên các tờ rơi, áp phích, các phương tiện thông tin đại
chúng, mà họ cần phải quảng cáo trên chính chất lượng sản phẩm của họ.
Họ phải làm sao cho khách hàng đến với công ty cảm thấy những gì họ
thấy trên ti vi, báo đài, tờ rơi, áp phích là đúng sự thật. Có như vậy, khách
hàng mới quay lại và gắn bó với công ty. Bên cạnh đó, những tiện ích,
khuyến mãi cũng như những dịch vụ chăm sóc khách hàng có tác động
quan trọng tới quyết định đến quyết định xin vay của khách hàng.
1.4.1.5 Hệ thống công nghệ thông tin của công ty tài chính
Trước kia, khi mà công nghệ thông tin chưa phát triển thì quá trình
thu thập và xử lý thông tin rất chậm chạp và khách hàng khi giao dịch gặp
nhiều thủ tục rườm rà, mất nhiều thời gian. Tuy nhiên, ngày nay cùng với
quá trình toàn cầu hóa đang diễn ra vô cùng mạnh mẽ là sự phát triển
không ngừng của công nghệ thông tin.Vì thế việc áp dụng công nghệ thông
tin và các ngành kinh tế nói chung và ngành tài chính nói riêng đang diễn
ra ngày một nhanh chóng và rộng khắp. Công nghệ hiện đại sẽ giúp cho
công ty tài chính tiết kiệm được chi phí, thời gian, công sức của cán bộ cho
vay, quy trình nghiệp vụ được tiến hành một cách nhanh chóng, tạo tâm lý
thoải mái cho khách hàng từ đó giúp cho công ty nâng cạo hiệu quả hoạt
động kinh doanh, tập trung vào việc phát triển và mở rộng thị trường mang
lại lợi thế cạnh tranh. Do đó, một hệ thống công nghệ thông tin hiện đại và
thích hợp là không thể thiếu với các công ty tài chính trong thời buổi hiện
nay. Nó giúp các nhà quản lý thực hiện tốt hơn công việc của mình và giúp
công ty tài chính thoả mãn đầy đủ hơn các nhu cầu của khách hàng.
1.4.2 Nhân tố khách quan
1.4.2.1 Môi trường kinh tế, văn hóa, xã hội
Môi trường kinh tế có tác động đến sự phát triển của hoạt động cho
vay cá nhân. Nó phục thuộc vào chu kỳ của nền kinh tế.Khi nền kinh tế
tăng trưởng và phát triển thì nhu cầu của mỗi cá nhân cũng tăng lên vì thế

một nhân tố quan trọng thúc đẩy cho hoạt động cho vay cá nhân. Đối tượng
vay cá nhân là rất đa dạng. Họ là những cá nhân và hộ gia đình có nhu cầu
chi tiêu phong phú, từ thiết yếu đến cao cấp. Ngày trước, khi cuộc sống của
con người còn gặp nhiều khó khăn thì nhu cầu của mọi người chỉ đơn giản
là ăn no, mặc ấm. Khi chất lượng cuộc sống được nâng cao hơn, nhu cầu
của người dân không chỉ dừng lại ở ngày ba bữa cơm nữa mà họ muốn
được ăn ngon, mặc đẹp, muốn được tiêu dùng những hàng hoá cao cấp hơn
(đồ sang trọng, đi du lịch,…). Hay nói cách khác, nhu cầu của con người
phụ thuộc vào từng giai đoạn cụ thể. Vấn đề ở đây là phải phát hiện được
những nhu cầu đó một cách nhanh chóng để đáp ứng kịp thời nhu cầu của
con người. Như vậy, nhu cầu của khách hàng là căn cứ để các ngân hàng và
công ty tài chính xây dựng chính sách cho vay cá nhân của mình một cách
hợp lý.
Bên cạnh đó, trình độ dân trí của khách hàng cũng có ảnh hưởng đến
việc phát triển cho vay. Trước kia khi trình độ của dân cư còn hạn chế thì
khi cần vốn để giải quyết một việc gì đó thì người dân ít khi nghĩ đến việc
vay vốn bởi vì họ nghĩ để có thể vay được tiền của tổ chức tín dung phải
làm thủ tục phức tạp và tốn nhiều thời gian. Tuy nhiên, hiện nay, khi người
dân có trình độ cao, họ không còn cảm giác ngại ngùng khi đến một tổ
chức tín dụng vay. Hơn nữa, khi nhận thức của người dân ngày càng cao,
họ thường có xu hướng là muốn nâng cao đời sống, hưởng thụ nhiều tiện
nghi cuộc sống hơn. Muốn nâng cao mức hưởng thụ trong cuộc sống hàng
ngày thì họ phải đi vay. Vì thế đây là một trong những điều kiện tốt để phát
triển cho vay cá nhân.
Năng lực tài chính của khách hàng cũng là một nhân tố có ảnh hưởng
đến hoạt động kinh doanh của công ty nói chung và hoạt động cho vay cá
nhân nói riêng. Nó thường phụ thuộc vào thu nhập của khách hàng. Chính
vì vậy, các công ty tài chính cần hiểu rõ từng nhu cầu của mỗi cá nhân và
khả năng tài chính của họ để tiến hành phân đoạn thị trường một cách hiệu
quả, từ đó đưa ra chính sách phát triển hoạt động cho vay cá nhân một cách

Năm 2005, công ty tăng vốn điều lệ lên 300 tỷ đồng, tổng cộng có 7
Phòng giao dịch và 2 chi nhánh đã đi vào hoạt động.Tổng tài sản đạt 6.828
tỷ đồng.
Năm 2007, PVFC chính thức tăng vốn điều lệ lên 3.000 tỷ đồng,
đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong quá trình hoạt động và phát triển của
công ty. Trong năm 2007, PVFC nhận được nhiều giải thưởng như
“Thương hiệu mạnh Việt Nam”, “Cúp vàng thương hiệu và Nhãn hiệu
2007” và nhiều giải thưởng khác.
Theo quyết định số 3002/QĐ-DKVN ngày 22/8/2007 của Tập đoàn
Dầu khí Quốc gia Việt Nam về việc phê duyệt phương án và chuyển Công
ty tài chính Dầu khí thành Tổng Công ty Tài chính cổ phần Dầu khí Việt
nam và Quyết định số 731/QĐ-DKVN ngày 28/1/2008 về việc sửa đổi
khoản 1, khoản 4 Điều 1 Quyết định 3002 ngày 22/08/2007 của Tập đoàn
Dầu khí Quốc gia Việt Nam, Công ty tài chính Dầu khí đã thực hiện cổ
phần hóa và đến thời điểm này đã hoàn tất các thủ tục đăng ký kinh doanh
theo các nội dung sau:
Tên Tiếng Việt : Tổng công ty Tài chính cổ phần Dầu khí Việt Nam.
Tên viết tắt là PVFC.
Vốn điều lệ: 5.000.000.000.000 đồng ( Năm ngàn tỷ đồng chẵn),
tương ứng 500.000.000 cổ phần, mệnh giá một cổ phần là 10.000 đồng,
trong đó : Nhà nước nắm giữ 78%, số cổ phần bán ưu đãi cho CBNV là
0,07%,số cổ phần bán cho nhà đầu tư chiến lược nước ngoài là 10% và số
cổ phần bán đấu giá là 11,93%.
2.1.2 Cơ cấu tổ chức của PVFC
PVFC là một công ty có quy mô lớn với vốn điều lệ 5000 tỷ đồng,
trên 1000 lao động nên mô hình cơ cấu bộ máy mà PVFC lựa chọn là mô
hình cơ cấu bộ máy hỗn hợp.
Mô hình trực tuyến chức năng với cấp quản trị cao nhất là Hội đồng
Quản trị (HĐQT), Ban Tổng Giám đốc (BTGĐ), trưởng các đơn vị trực
thuộc BTGĐ, trưởng các phòng, ban chức năng thuộc các đơn vị trực thuộc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status