Lời nói đầu
Trong những năm qua, nền kinh tế Việt Nam đang trên đà phát triển
và hội nhập với thế giới. Việc hội nhập với nền kinh tế thế giới và khu vực
của Việt Nam đạt được nhiều thành tựu đáng khích lệ, khuyến khích các
nhà đầu tư trong và ngoài nước tìm kiếm các lĩnh vực đầu tư hiệu quả,
trong đó có mô hình hoạt động của công ty tài chính. Bên cạnh đó, nhiều
tập đoàn, tổng công ty và doanh nghiệp lớn của Việt Nam đã không ngừng
phát triển, do vậy cần có riêng công ty tài chính để phục vụ nhu cầu và đáp
ứng nhu cầu hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như tạo công cụ tài chính
lớn để đầu tư ra ngoài tổng công ty, tập đoàn. Công ty tài chính không
những đã đóng góp một phần không nhỏ vào sự tăng trưởng kinh tế mạnh
mẽ của Việt Nam trong những năm qua mà còn giúp cải thiện đáng kể đời
sống của người dân. Trong đó, Tổng công ty Tài chính cổ phần Dầu khí
Việt Nam, một đơn vị thành viên trong Tập đoàn Dầu khí quốc gia là một
trong những công ty tài chính đầu tiên của Việt Nam. Tuy là một doanh
nghiệp non trẻ trong lĩnh vực ngân hàng – tài chính nhưng Công ty đã
chứng tỏ được tiềm lực kinh tế cũng như uy tín lớn trên thị trường.
Có thể nói, chưa bao giờ thị trường cho vay cá nhân lại sôi động như
hiện nay với sự tham gia của hàng loạt các ngân hàng thương mại và công
ty tài chính, cả trong nước và ngoài nước. Họ liên tục đưa ra những sản
phẩm mới, đồng thời tăng cường tiện ích cho các sản phẩm hiện có để lôi
kéo khách hàng. Khách hàng đang trở thành những “thượng đế” thực thụ.
Hầu như mọi nhu cầu của khách hàng đều được đáp ứng một cách nhanh
chóng và thuận tiện nhất. Người dân ngày càng có thêm nhiều cơ hội để cải
thiện chất lượng cuộc sống của mình.
PVFC là một trong những công ty tài chính đầu tiên tại Việt Nam
cung cấp các hình thức cho vay cá nhân, tuy nhiên PVFC chưa chú trọng
phát triển hoạt động này. Hơn nữa trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt như
hiện nay, PVFC muốn trở thành một trong những tổ chức tín dụng hàng
đầu trong lĩnh vực cho vay cá nhân thì việc phát triển hoạt động này một
cách an toàn và hiệu quả là giải pháp tốt nhất. Nhận thức được điểu đó,
Ở Việt Nam, đến năm 1998, nền kinh tế thị trường bắt đầu được hình
thành, nhu cầu vốn trong nền kinh tế đòi hỏi ngày một cao vì thế bên cạnh
sự phát triển của các Ngân hàng thương mại thì có sự xuất hiện của các
Công ty Tài chính. Theo khoản 3 Điều 20 Luật các tổ chức tín dụng ban
hành ngày 26/12/1997 thì các Công ty Tài chính là các loại hình tổ chức tín
dụng phi Ngân hàng được thực hiện một số hoạt động Ngân hàng như là
nội dung kinh doanh thường xuyên, nhưng không nhận tiền gửi không kỳ
hạn, không làm dịch vụ thanh toán.
Theo Nghị định 79/CP của Chính phủ ban hành ngày 4/10/2002 về tổ
chức và hoạt động của các Công ty Tài chính, công ty tài chính được hiểu
là loại hình tổ chức tín dụng phi Ngân hàng với chức năng là sử dụng vốn
của công ty để cho vay, đầu tư, cung ứng các dịch vụ tư vấn về tài chính,
tiền tệ và thực hiện một số dịch vụ khác theo quy định của pháp luật, nhưng
không được làm các dịch vụ thanh toán, không được nhận tiền gửi dưới
một năm. Công ty Tài chính được thành lập và hoạt động tại Việt Nam
dưới các hình thức sau:
Công ty Tài chính Nhà nước: là Công ty Tài chính do Nhà nước đầu
tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý hoạt động kinh doanh.
Công ty Tài chính cổ phần: là Công ty Tài chính do các tổ chức và cá
nhân cùng góp vốn theo quy định của pháp luật, được thành lập dưới
hình thức Công ty cổ phần.
Công ty Tài chính trực thuộc của tổ chức tín dụng: là Công ty Tài chính
do một tổ chức tín dụng thành lập bằng vốn tự có của mình và làm chủ
sở hữu theo quy định của pháp luật, hạch toán độc lập và có tư cách
pháp nhân.
Công ty Tài chính liên doanh : là Công ty Tài chính được thành lập
bằng vốn góp giữa bên Việt Nam gồm một hoặc nhiều tổ chức tín
dụng, doanh nghiệp Việt Nam và bên nước ngoài gồm một hoặc
nhiều tổ chức tín dụng nước ngoài, trên cơ sở hợp đồng liên doanh.
Công ty Tài chính 100% vốn nước ngoài : là Công ty Tài chính được
yêu cầu khách hàng phải cầm cố hay thế chấp tài sản.
Căn cứ theo mục đích cho vay
- Cho vay kinh doanh bất động sản : bao gồm các khoản cho vay xây
dựng ngắn hạn và giải phóng mặt bằng cũng như các khoản cho vay
dài hạn tài trợ cho việc mua đất canh tác, nhà, trung tâm thương mại .
- Cho vay nông nghiệp : là cho vay nhằm hỗ trợ nông dân trong hoạt
động gieo trồng thu hoạch, bảo quản sản phẩm và để trang trải các chi
phí như phân bón, thuốc trừ sâu, giống cây trồng, thức ăn gia súc.
- Cho vay công nghiệp và thương mại : là loại cho vay ngắn hạn để bổ
sung vốn lưu động cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp,
thương mại, dịch vụ.
- Cho vay đối với các tổ chức tài chính : bao gồm các khoản cho vay
dành cho ngân hàng, công ty bảo hiểm, công ty tài chính và các tổ
chức tài chính khác.
- Cho vay cá nhân : là loại cho vay để đáp ứng nhu cầu của người dân
như mua sắm các vật dụng đắt tiền và các khoản vay để trang trải các
chi phí thông thường của đời sống hoặc nhu cầu kinh doanh, đầu tư.
Căn cứ vào nguồn gốc của khoản vay : gồm 2 loại
- Cho vay trực tiếp : là hình thức cho vay trong đó tổ chức tín dụng
cấp vốn trực tiếp cho người có nhu cầu,đồng thời người đi vay trực
tiếp hoàn trả nợ vay cho tổ chức.
-
-
- Cho vay gián tiếp : là khoản cho vay được thực hiện thông qua việc
mua lại các khế ước hoặc chứng từ nợ đã phát sinh và còn trong thời
hạn thanh toán. Mô hình cho vay gián tiếp được thực hiện như sau:
Công ty tài chính
Khách hàng
nhận vốn vay
Người thanh
hạn theo hợp đồng vay.
Đây là hình thức tài trợ cho mục đích chi tiêu của cá nhân và hộ gia
đình. Các khoản cho vay cá nhân là nguồn tài chính quan trọng giúp người
dân có thể trang trải các nhu cầu trong cuộc sống như nhà ở, phương tiện đi
lại, tiện nghi sinh hoạt, học tập, du lịch, y tế,…trước khi họ có đủ khả năng
về tài chính để hưởng thụ. Như vậy, nhờ các khoản cho vay cá nhân mà
khách hàng thỏa mãn được các nhu cầu nâng cao chất lượng cuộc sống.
1.2.2 Đặc điểm cho vay cá nhân
Cho vay cá nhân có 8 đặc điểm chính
Thứ nhất là đối tượng của khoản cho vay
Mỗi sản phẩm dịch vụ mà công ty tài chính đưa ra đều xác định cho
mình một đối tượng khách hàng cần hướng tới để có thể phục vụ tốt nhất
cho nhu cầu của khách hàng. Tương tự, đối tượng vay của các khoản cho
vay cá nhân là các cá nhân và hộ gia đình. Họ đi vay để đáp ứng nhu cầu
tiêu dùng, mua sắm của bản thân và gia đình, có thể là mua nhà, ô tô, đồ
nội thất, hoặc đi du học, đi du lịch và cũng có thể họ đi vay phục vụ cho
việc kinh doanh.
Thứ hai là nhu cầu vay của khách hàng thường phụ thuộc vào chu kỳ
nền kinh tế
Nhu cầu vay của khách hàng không chỉ phụ thuộc vào tình hình tài
chính của họ mà còn phụ thuộc vào tình hình kinh tế trong những giai đoạn
cụ thể. Trong thời kỳ nền kinh tế phát triển, người dân cảm thấy lạc quan
về tương lai và đặc biệt là về thu nhập được nâng cao của họ, vì vậy, họ
muốn tăng mức hưởng thụ của mình. Ngược lại, khi nền kinh tế rơi vào suy
thoái, khủng hoảng, rất nhiều cá nhân và hộ gia đình cảm thấy không tin
tưởng, đặc biệt là khi thất nghiệp gia tăng và họ sẽ hạn chế chi tiêu. Vì thế
cho vay cá nhân sẽ giảm sút.
Thứ ba là lãi suất và thời hạn trả nợ của cho vay cá nhân
Các khoản cho vay cá nhân phục vụ nhu cầu chi tiêu và kinh doanh
của cá nhân và hộ gia đình trong xã hội. Các cá nhân và hộ gia đình này có
đức. Hơn nữa, việc quản lý các khoản cho vay tiêu dùng với giá trị nhỏ
những số lượng lớn cũng là một vấn đề khó khăn đối với các công ty tài
chính. Do chi phí cho vay cao nên lãi suất áp dụng trong cho vay cá nhân
thường cao hơn lãi suất cho vay thương mại.
Thứ sáu là cho vay cá nhân có độ rủi ro cao
Các khoản cho vay cá nhân là những khoản cho vay mang lại nhiều
rủi ro cho công ty tài chính. Thứ nhất, lãi suất áp dụng đối với cho vay cá
nhân là lãi suất ít thay đổi trong khi những khoản cho vay kinh doanh hiện
nay thường áp dụng lãi suất thay đổi theo điều kiện thị trường. Chính vì
vậy, một khi có sự tăng lên trong lãi suất huy động vốn thì công ty tài chính
sẽ gặp rủi ro lãi suất trong cho vay cá nhân. Thứ hai, nguồn trả nợ của
khách hàng cho khoản vay cá nhân phụ thuộc vào thu nhập của họ nên nếu
khách hàng bị ốm, chết hoặc mất việc thì công ty tài chính sẽ rất khó thu
được nợ.
Thứ bảy là cho vay cá nhân đem lại khả năng sinh lời cao
Do chi phí và rủi ro của khoản cho vay cá nhân là lớn nên hầu hết
các công ty tài chính thường áp dụng lãi suất cao cho khoản vay cá nhân.
Vì vậy, cho vay cá nhân luôn được các công ty tài chính đánh giá là khoản
mục có khả năng sinh lời cao.
Thứ tám là hầu hết các khoản cho vay cá nhân là trung và dài hạn
Có thể thấy rằng, cho vay cá nhân phục vụ chủ yếu cho nhu cầu tiêu
dùng của các cá nhân và hộ gia đình như: mua, xây dựng, sửa chữa nhà,
mua sắm vật dụng gia đình, đi du lịch, đi học. Việc trả nợ các khoản vay cá
nhân này phụ thuộc vào tình hình tài chính của khách hàng, đó là mức thu
nhập ổn định (chủ yếu là tiền lương). Hàng tháng khách hàng còn phải
trang trải cuộc sống nên số tiền mà họ dành dụm để trả nợ không nhiều.Vì
vậy, người vay cần một khoảng thời gian đáng kể mới có thể hoàn trả đầy
đủ cả gốc và lãi của khoản vay. Chẳng hạn, có những khoản vay mua sắm
đồ nội thất có thời hạn từ 12-24 tháng, và những khoản vay mua nhà, thời
hạn lên đến 15 năm.
Doanh thu từ hoạt động cho vay
Doanh thu cho vay là một chỉ tiêu quan trọng phản ánh cho sự tăng
trưởng về số lượng của hoạt động cho vay. Doanh thu là số tiền công ty thu
được từ hoạt động cho vay.
Sự tăng trưởng tuyệt đối về doanh thu được xác định bằng hiệu số
giữa doanh thu hoạt động cho vay cá nhân năm nay so với doanh thu hoạt
động cho vay cá nhân năm trước. Sự tăng trưởng tương đối về doanh thu
được xác định bằng tỷ lệ phần trăm giữa sự tăng trưởng tuyệt đối về doanh
thu với doanh thu hoạt động cho vay cá nhân năm trước.
Doanh số cho vay
Doanh số cho vay được tính bằng cách cộng dồn các khoản cho vay
trong một kỳ kế toán, đó là tổng số tiền mà công ty đã cho vay trong kỳ.
Chỉ tiêu này phản ánh lượng vốn mà công ty đã giải ngân cho các cá nhân.
Nó thể hiện xu hướng hoạt động cho vay của doanh nghiệp mở rộng hay
thu hẹp. Tuy nhiên, con số này chỉ phản ánh chủ yếu về mặt lượng trong
hoạt động cho vay của công ty. Nếu doanh số cho vay năm sau cao hơn
năm trước thì hoạt động cho vay của công ty được phát triển hơn.
Sự tăng trưởng doanh số cho vay tuyệt đối được tính bằng hiệu số
giữa doanh số cho vay của công ty trong năm nay với doanh số cho vay của
công ty trong năm trước. Chỉ tiêu này cho biết sự tăng trưởng về lượng
trong doanh số cho vay là bao nhiêu. Sự tăng trưởng doanh số cho vay
tương đối được tính bằng tỷ lệ phấn trăm giữa sự tăng trưởng doanh số cho
vay tuyệt đối với doanh số cho vay trong năm trước. Chỉ tiêu này cho biết
tốc độ tăng trưởng của doanh số cho vay hàng năm.
Doanh số thu nợ
Doanh số thu nợ được tính bằng cách cộng dồn các khoản thu nợ
trong một kỳ kế toán. Chỉ tiêu này phản ánh lượng vốn mà công ty tài
chính cho cá nhân vay đã được đòi lại bao nhiêu.
Sự tăng trưởng doanh số thu nợ bao gồm sự tăng trưởng tuyệt đối và
sự tăng trưởng tương đối. Sự tăng trưởng doanh số thu nợ tuyệt đối được
nợ của công ty tính đến thời điểm xác định.
Đây là chỉ tiêu phản ánh thực trạng và chất lượng của các khoản cho
vay cá nhân. Chỉ tiêu này lớn cho thấy sự không hiệu quả trong hoạt động
cho vay cá nhân của công ty tài chính. Còn nếu giá trị của chỉ tiêu này nhỏ,
tức là hoạt động cho vay cá nhân của công ty đang được vận hành rất tốt.
Tỷ trọng cho vay cá nhân trong tổng dư nợ cho vay
Chỉ tiêu này cho chúng ta thấy được các khoản cho vay cá nhân
chiếm bao nhiều phần trăm trong tổng số cho vay của công ty. Chỉ tiêu này
lớn có nghĩa là công ty có thế mạnh trong hoạt động cho vay cá nhân. Đồng
thời, nó còn thể hiện rằng đối tượng khách hàng mà công ty đang hướng tới
là các cá nhân và hộ gia đình. Ngược lại, nếu chỉ tiêu này nhỏ thì nó cho
thấy rằng tiềm lực trong cho vay cá nhân của ngân hàng là thấp, hoặc có
thể các khoản cho vay cá nhân không nằm trong chính sách cho vay của
công ty. Tại những công ty như vậy, có thể đối tượng khách hàng mà họ
hướng tới là những người đến vay nhằm mục đích kinh doanh.
Tỷ trọng về lợi nhuận cho vay cá nhân trong tổng lợi nhuận cho vay
Nhìn vào chỉ tiêu này, chúng ta thấy được kết quả kinh doanh của
hoạt động cho vay cá nhân mà công ty đang triển khai. Nếu chỉ tiêu này lớn
và đang tăng lên một cách ổn định thì tức là cho vay tiêu dùng hiện là một
hoạt động trọng tâm của công ty, đồng thời kết quả do hoạt động này đem
lại là rất khả quan. Các cá nhân và hộ gia đình là những đối tượng khách
hàng quan trọng mà công ty đang hướng tới. Còn nếu chỉ tiêu này thấp, có
nghĩa là công ty không chú trọng nhiều đến hoạt động cho vay cá nhân.
1.4 Nhân tố ảnh hưởng tới cho vay cá nhân
1.4.1 Nhân tố chủ quan
1.4.1.1 Chính sách cho vay cá nhân
Cho vay cá nhân là một lĩnh vực khá mới đối với các công ty tài
chính. Mặc dù đây là một thị trường tiềm năng nhưng nó lại chứa đựng
nhiều rủi ro. Vì vậy mỗi công ty tài chính đều xây dựng một chính sách cho
vay cá nhân sao cho phù hợp với chính sách, định hướng phát triển chung
Đã có rất nhiều công ty tài chính xảy ra tổn thất khi trình độ năng lực
của cán bộ nhân viên yếu, đạo đức không tốt. Do vậy, năng lực cán bộ nhân
viên là một trong những yếu tố quan trọng quyết định đến việc phát triển
hoạt động cho vay, đặc biệt là với cho vay cá nhân.
1.4.1.3 Quy trình và thủ tục cho vay
Quy trình và thủ tục cho vay bao gồm các bước và yêu cầu khách
hàng phải đáp ứng để được xem xét cho vay, thời gian và cách thức mà
công ty tài chính giải quyết các khoản vay đó.
Đây là yếu tố tác động trực tiếp tới hoạt động cho vay cá nhân, nó
quyết định đến việc công ty tài chính có thu hút được nhiều hợp đồng cho
vay không. Bởi vì, nếu quy trình và thủ tục cho vay quá phức tạp, rườm rà
qua nhiều bước, làm mất quá nhiều thời gian dẫn đến khách hàng sẽ cảm
thấy bất tiện, nản lòng và không hài lòng. Tuy nhiên nếu quy trình và thủ
tục quá lỏng lẻo, sơ sài, nhất là trong quá trình kiểm tra, thẩm định để tiến
hành cho vay khiến cho công ty không thể nắm đầy đủ thông tin về khách
hàng, dẫn tới công ty sẽ gặp rủi ro mất vốn cũng như khả năng không hoàn
trả vốn vay không đúng hạn. Chính vì vậy, công ty tài chính phải xây dựng
được cho mình một quy trình và thủ tục cho vay gọn nhẹ linh hoạt nhưng
phải chặt chẽ sao cho khách hàng cảm thấy thoải mái trong suốt quá trình
sử dụng dịch vụ tại công ty đồng thời công ty không bỏ lỡ đi cơ hội kinh
doanh của mình và hạn chế những rủi ro đáng tiếc.
1.4.1.4 Hoạt động marketing
Trong nền kinh tế thị trường, quảng cáo và tiếp thị được coi là có
một vị trí quan trọng trong việc kinh doanh. Các sản phẩm dịch vụ của
công ty tài chính cũng vậy. Trong tình hình hiện nay khi ngày càng nhiều
ngân hàng và công ty tài chính mới được thành lập, các ngân hàng nước
ngoài cũng sắp gia nhập thị trường, hoạt động marketing càng trở nên cần
thiết hơn bao giờ hết. Marketing không chỉ đơn giản là quảng cáo. Nó là
tổng hợp của tất cả các hoạt động nhằm hướng sự chú ý của người tiêu
dùng tới sản phẩm của công ty, bao gồm cả hoạt động quảng cáo, tiếp thị,
1.4.2.1 Môi trường kinh tế, văn hóa, xã hội
Môi trường kinh tế có tác động đến sự phát triển của hoạt động cho
vay cá nhân. Nó phục thuộc vào chu kỳ của nền kinh tế.Khi nền kinh tế
tăng trưởng và phát triển thì nhu cầu của mỗi cá nhân cũng tăng lên vì thế
đây là cơ hội tốt cho công ty tài chính phát triển cho vay cá nhân.Ngược lại
khi nên kinh tế trì trệ gây mất lòng tin nghiêm trọng của người dân thì họ
có xu hướng tích lũy, tiết kiệm hơn do đó làm ảnh hưởng tới hoatạ động
cho vay của công ty.
Môi trường văn hóa xã hội cũng tác động đáng kể đến cho vay cá
nhân. Môi trường văn hóa xã hội thể hiện ở các tập quán xã hội, tâm lý tiêu
dùng giữa các vùng và vă hóa cộng đồng, trình độ dân trí…Những người
có thu nhập cao và học vấn cao thường có xu hướng tiêu dùng nhiều.Người
dân sống ở khu vực thành thị cũng có thói quen tiêu dùng nhiều cho cuộc
sống hiện tại của họ.Vì vậy đây là những yếu tố thúc đẩy sự phát triển cho
vay cá nhân.
1.4.2.2 Môi trường pháp lý
Tất cả các hoạt động trong xã hội cũng như các cá nhân hay tổ chức
đều chịu sự chi phối của hệ thống pháp luật.Đặc biệt là lĩnh vực kinh doanh
ngân hàng – tài chính là một trong những ngành kinh doanh luôn được đặt
dưới một hệ thống quy định chặt chẽ.Bởi vì ngân hàng – tài chính là lĩnh
vực nhạy cảm là mạch máu của nền kinh tế. Khủng hoảng trong hoạt động
ngân hàng tài chính sẽ gây ra sự suy giảm trầm trọng và có tác động tới
toàn bộ nền kinh tế. Hoạt động ngân hàng tài chính luôn được đặt dưới sự
kiểm soát của Ngân hàng Nhà nước và chịu sự chi phối bởi các qui định
cũng như các chính sách mà ngân hàng nhà nước ban hành cũng như chịu
sự chi phối của Luật các tổ chức tín dụng và các cơ quan cấp cao.
Một khuôn khổ pháp luật được tạo ra giúp cho hoạt động cho vay
diễn ra suôn sẻ an toàn và hiệu quả. Chính vì thế môi trường pháp lý ổn
định sẽ tạo điều kiện cho sự phát triển của hoạt động cho vay cá nhân.
1.4.2.3 Nhân tố thuộc về khách hàng
nhân nói riêng. Nó thường phụ thuộc vào thu nhập của khách hàng. Chính
vì vậy, các công ty tài chính cần hiểu rõ từng nhu cầu của mỗi cá nhân và
khả năng tài chính của họ để tiến hành phân đoạn thị trường một cách hiệu
quả, từ đó đưa ra chính sách phát triển hoạt động cho vay cá nhân một cách
hợp lý.
Chương 2 : Thực trạng phát triển cho vay cá nhân tại tổng
công ty Tài chính cổ phần Dầu khí Việt nam
2.1 Khái quát về PVFC
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Tổng công ty Tài chính
Cổ phần Dầu khí Việt Nam (PVFC)
Tổng Công ty Tài chính Cổ phần Dầu khí Việt Nam (PVFC) tiền
thân là Công ty Tài chính Dầu khí, là một tổ chức tín dụng phi ngân hàng,
được thành lập ngày 30/3/2000 theo Quyết định số 04/2000/QĐ/VPCP do
Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ ký.
Ngày 1/10/2000 Công ty Tài chính dầu khí chính thức đặt trụ sở hoạt
động đầu tiên tại 34B Hàn Thuyên – Hà Nội. Công ty bắt đầu hoạt động từ
ngày 01 tháng 12 năm 2000 theo Giấy phép hoạt động số 12/GP-NHNN
ngày 25/10/2000 của NHNN Việt Nam ban hành kèm theo Quyết định
456/2000/QĐ-NHNN ngày 25/10/ 2000 của Thống đốc NHNN và Giấy
chứng nhận đăng ký kinh doanh số 113108 ngày 23/8/2000 do Sở kế hoạch
và Đầu tư Hà Nội cấp.
Năm 2002, PVFC khai trương hoạt động phòng giao dịch chứng
khoán BSC – PVFC và khai trương website Công ty tại địa chỉ:
.
Năm 2003, thực hiện chủ trương xây dựng Tập đoàn Dầu khí Việt
Nam thành Tập đoàn Công nghiệp – Thương mại – Tài chính Dầu khí với
khả năng tài chính mạnh, công ty đã phát hành thành công Trái phiếu Dầu
khí huy động được 300 tỷ đồng.Trong năm này, PVFC đã khai trương họat
động Chi nhánh Công ty tại thành phố Hồ Chí Minh.
Ngày 5/5/2004, công ty ra mắt Hội đồng quản trị đầu tiên của Công
hình cơ cấu bộ máy hỗn hợp.
Mô hình trực tuyến chức năng với cấp quản trị cao nhất là Hội đồng
Quản trị (HĐQT), Ban Tổng Giám đốc (BTGĐ), trưởng các đơn vị trực
thuộc BTGĐ, trưởng các phòng, ban chức năng thuộc các đơn vị trực thuộc
Tổng Công ty (TCT), các chi nhánh và văn phòng đại diện. Với các phòng
ban chức năng như phòng Kế toán, Phòng Hành chính quản trị, Phòng Tổ
chức nhân sự và tiền lương, phòng Kế hoạch, phòng Kiểm tra kiểm soát
độc lập, phòng Thẩm định độc lập, phòng Thị trường và phát triển sản
phẩm.
Mô hình cũng kết hợp với cơ cấu bộ phận theo sản xuất như hình
thành các ban ở khối kinh doanh như ban Đầu tư, ban Thu xếp vốn và tín
dụng doanh nghiệp, ban Dịch vụ tài chính doanh nghiệp, ban Quản lý dòng
tiền.Mô hình cũng kết cấu theo địa dư như thành lập các chi nhánh và các
văn phòng đại diện tại nhiều tỉnh, thành nhằm phát triển khách hàng các
tỉnh thành trên cả nước.
Các công ty thành viên của PVFC: Công ty Cổ phần Đầu tư và Tư
vấn Tài chính Dầu khí với vốn điều lệ: 500 tỷ đồng, PVFC góp 49% vốn
điều lệ; Công ty Cổ phần Bất động sản Tài chính Dầu khí, vốn điều lệ: 500
tỷ đồng PVFC góp 49% vốn điều lệ; Công ty Cổ phần Quản lý Quỹ đầu tư
Tài chính Dầu khí, vốn điều lệ: 100 tỷ đồng.PVFC góp 11% vốn điều lệ.
HộI ĐồNG QUảN TRị
BAN TổNG GIáM ĐốC
BAN KIểM SOáT
kIểM TOáN NộI Bộ
kHốI QUảN Lý
văn phòng
phòng hcqt
phòng tcns&tl
phòng kế toán
phòng ktksnb
phân tích
ban
qlrr
t.dụng
&
đ.tư
kHốI KINH DOANH
PHòNG KHáCH
pHòNG KHáCH
PHòNG ĐầU TƯ
CHứNG Từ Có GIá
PHòNG ĐầU TƯ DƯ
pHòNG MUA BáN
Và SáT NHậP
DOANH NGHIệP
pHòNG QL Và KD
CáC SảN PHẩM DầU
PHòNG TổNG
HợP PHÂN TíCH
ban
đầu
tư
PHòNG TXV Và TíN
DụNG Dự áN
PHòNG TíN DụNG
DOANH NGHIệP
PHòNG TổNG HợP
PHÂN TíCH
ban
txv
sài gòn
chi nhánh
hải phòng
PGD
20
PGD
60
chi nhánh
cần thơ
chi nhánh
nam định
PGD
90
PGD
80
chi nhánh
vũng tàu
PGDTT
vũng tàu
chi nhánh
đà nẵng
PGD
52
PGDTT
láng hạ
PGD
10
PGD
12
CáC CÔNG TY
động tín dụng tăng 180%, đặc biệt thu từ hoạt động kinh doanh chứng
khoán đã tăng từ 44,8 tỷ năm 2006 lên 665,8 tỷ năm 2007 kéo theo lợi
nhuận từ hoạt động này tăng 881,4%, trở thành hoạt động có lãi thứ hai của
PVFC trong năm 2007 sau hoạt động tín dụng. Nguyên nhân là do PVFC
đã tăng vốn điều lệ thêm 2.000 tỷ trong năm 2007 và tăng cường các nguồn
vốn huy động từ hoạt động tín dụng.
Nhưng tới năm 2008, hoạt động của PVFC cũng giống như các đơn
vị khác trong lĩnh vực tài chính gặp rất nhiều khó khăn do tác động của
cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu. Tuy nhiên, PVFC đã đạt được kết quả
đáng phấn khởi : doanh thu đạt 4.468 tỷ đồng, trong đó, hoạt động tín dụng
là điểm sáng nhất, với tỷ trọng 46% tổng doanh thu; hoạt động liên ngân
hàng 27%; hoạt động đầu tư 13%; hoạt động khác 14% đồng thời bảo toàn