Phát triển hoạt động thu xếp vốn tại Tổng công ty tài chính Cổ phần Dầu khí Việt Nam - Pdf 10

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa: Ngân hàng - tài chính
Lời mở đầu
Những năm gần đây, nền kinh tế Việt Nam đã có nhiều bước phát triển to lớn,
quá trình hội nhập
inh tế quốc tế được diễn ra mạnh mẽ. Kể từ khi Việt Nam chính thức gia nhập WTO
vào tháng 7/2007 đã đặt ra nhiều thuận lợi cũng như những thách thức to lớn đối với
các doanh nghiệp Việt Nam. Đảng ta với quan điểm phát triển nền kinh tế nhiều
thành phần trong đó kinh tế Nhà nước đóng vai trò chủ đạo, định hướng cho các
thành phần kinh tế khác phát triển, vì vậy Đảng và Nhà nước đã cho phép thành lập
các Tổng công ty 90, 91; khuyến khích các Tổng công ty này tự chủ hơn trong lĩnh
vực tài chính tiền tệ để có thể trở thành các Tập đoàn kinh tế mạnh, đảm bảo gánh
vác trách nhiệm năng nề trong tiến trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước.
Ở nước ta đã xuất hiện nhiều mô hình các Tổng công ty/ Tập đoàn kinh tế
thành lập công ty tài chính cho riêng mình. Trong giai đoạn hiện nay, nhu cầu vốn
của các đơn vị này rất lớn mà chủ yếu là vốn trung và dài hạn để thực hiện các dự án
lớn, hiện đại hóa tài sản cố định phục vụ tốt cho nhu cầu sản xuất kinh doanh, các
công ty tài chính ra đời có nhiệm vụ điều hòa vốn, đáp ứng đầy đủ vốn cho các dự án
của Tổng công ty / Tập đoàn kinh tế và các đơn vị thành viên. 1 số ví dụ như Công ty
tài chính cổ phần Hóa chất thuộc Tập đoàn hóa chất Việt Nam, Công ty tài chính Cổ
phần Điện lực thuộc Tập đoàn Điện lực Việt Nam… Tổng Công ty tài chính Cổ phần
Dầu khí Việt Nam (PVFC) là một đại diện tiêu biểu, một tổ chức tài chính phi ngân
hàng có quy mô lớn và sự hoạt động hiệu quả, với nhiều sản phẩm, dịch vụ tài chính
đa dạng, trong đó mũi nhọn là hoạt động thu xếp vốn, đã góp phần tích cực đối với sự
lớn mạnh của Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam.
Trong quá trình thực tập nghiên cứu tại Tổng công ty tài chính Cổ phần Dầu
khí Việt Nam (PVFC), em xin mạnh dạn lựa chọn đề tài: “ Phát triển hoạt động thu
xếp vốn tại Tổng công ty tài chính Cổ phần Dầu khí Việt Nam”
Bố cục của chuyên đề như sau:
Chương I : Lý luận cơ bản về hoạt động thu xếp vốn của Công ty tài
chính
Chương II : Thực trạng hoạt động thu xếp vốn tại Tổng công ty tài

người gửi tiền, họ thu được lợi từ khoản vốn tạm thời nhàn rỗi dưới hình thức lãi tiền
gửi mà ngân hàng trả cho họ. Hơn nữa còn đảm bảo sự an toàn về khoản tiền gửi và
cung cấp các dịch vụ thanh toán tiện lợi. Đối với người đi vay, họ sẽ thỏa mãn được
nhu cầu vốn kinh doanh tiện lợi, chắc chắn và hợp pháp, chi tiêu, thanh toán mà
không chi phí nhiều về sức lực thời gian cho việc tìm kiếm những nơi cung ứng vốn
riêng lẻ. Đặc biệt là đối với nền kinh tế, chức năng này có vai trò quan trọng trong
việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế vì nó đáp ứng nhu cầu vốn để đảm bảo quá trình tái
sản xuất được thực hiện liên tục và mở rộng quy mô sản xuất. Có thể khẳng định
không có trung gian tài chính thì thị trường tài chính không thể có được lợi ích trọn
vẹn do trung gian tài chính nắm bắt được những chi phí thông tin và chi phí giao dịch
lớn trong nền kinh tế, vì vậy các trung gian tài chính có vai trò rất quan trọng trong
phát triển nền kinh tế.
Một trong những trung gian tài chính lớn nhất và quan trọng nhất của nền kinh
tế là ngân hàng, tuy nhiên vẫn có một số những quy định giới hạn và rào cản nhất
định cho nên trong một số trường hợp, ngân hàng không thể đáp ứng được hết những
nhu cầu về vốn của các cá nhân, tổ chức. Vì vậy các trung gian tài chính khác đã ra
Cao Thị Thanh Tâm Tài chính Doanh nghiệp 48C
3
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa: Ngân hàng - tài chính
đời, trong đó có công ty tài chính, chuyên môn hoá trong một số lĩnh vực hoạt động
và khắc phục những hạn chế của ngân hàng.
Công ty tài chính là một tổ chức kinh doanh tiền tệ, có những hoạt động chủ
yếu và thường xuyên là:
- Huy động vốn từ phát hành kỳ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi và các
loại giấy tờ có giá khác; nhận tiền gửi có kỳ hạn từ một năm trở lên của tổ chức, cá
nhân; tiếp nhận vốn uỷ thác của Chính phủ, các tổ chức và cá nhân trong và ngoài
nước.
- Cho vay ngắn hạn, trung và dài hạn, cho vay theo hình thức uỷ thác của
Chính Phủ, cá nhân và tổ chức; cho vay tiêu dùng...
- Chiết khấu, tái chiết khấu, cầm cố thương phiếu và các giấy tờ có giá khác

Xét ở khía cạnh nào đó, các công ty tài chính sẽ chịu áp lực cạnh tranh ở mức
độ thấp hơn so với ngân hàng. Theo cam kết WTO, chỉ có ngân hàng thương mại
nước ngoài và công ty tài chính nước ngoài mới được thành lập công ty tài chính liên
doanh và công ty tài chính 100% vốn đầu tư nước ngoài. Tổ chức tín dụng nước
ngoài chỉ được thành lập công ty tài chính liên doanh hoặc 100% vốn đầu tư nước
ngoài nhưng phải có tổng tài sản trên 10 tỷ USD vào cuối năm trước thời điểm nộp
đơn.
Trong khi ngân hàng hoạt động rộng và huy động vốn chủ yếu từ công chúng
thì công ty tài chính huy động vốn chủ yếu từ nội bộ tập đoàn và nhóm công ty. Vì
thế, rủi ro xảy ra đối với các công ty tài chính chủ yếu là do nội bộ tập đoàn hay
nhóm công ty gánh chịu, rất ít ảnh hưởng tới cộng đồng. Khi các quan hệ kinh tế
trong tập đoàn là minh bạch và tuân thủ đúng pháp luật thì khả năng xảy ra rủi ro là
không lớn.
- Sự điều chỉnh của Chính Phủ: Các công ty tài chính hầu như không phải chịu
sự điều hành chặt chẽ của Chính Phủ, Chính Phủ chỉ điều hành hạn mức tín dụng của
các công ty tài chính cho các cá nhân vay và kỳ hạn hợp đồng nợ, ngoài ra không có
bất kỳ hạn chế về mở chi nhánh, về tài sản có mà các công ty tài chính nắm giữ cũng
như sự thu hút vốn của các công ty tài chính. Điều này đã giúp cho các công ty tài
chính đáp ứng tốt các nhu cầu của khách hàng.
Có thể thấy lợi ích mà công ty tài chính mang lại cho các doanh nghiệp là rất
lớn. Không phải ngẫu nhiên mà trên thế giới, các tập đoàn lớn thường có ít nhất một
công ty tài chính. Công ty tài chính là công cụ để tập đoàn điều tiết vốn và sử dụng
vốn một cách có hiệu quả và thuận lợi nhất. Trong phạm vi nội bộ tập đoàn hoặc
nhóm công ty có quan hệ lợi ích gắn bó, công ty tài chính có thể dễ dàng huy động
các nguồn vốn nhàn rỗi từ các công ty thành viên để tập trung vốn đầu tư. Với tính
nội bộ cao trong hoạt động nghiệp vụ công ty tài chính có thể kiểm soát rủi ro và tập
trung vốn lớn cho các dự án quan trọng trong nội bộ tập đoàn.
Cao Thị Thanh Tâm Tài chính Doanh nghiệp 48C
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa: Ngân hàng - tài chính

hàng là thực hiện món vay cho những người tiêu dùng để mua những món hàng từ
một nhà bán lẻ hoặc một nhà sản xuất riêng. Các công ty tài chính này trực tiếp cạnh
tranh với các ngân hàng về cho vay tiêu dùng và được người tiêu dùng sử dụng bởi vì
các món vay thường được thực hiện nhanh hơn và tiện lợi hơn tại nơi mua hàng.
Cao Thị Thanh Tâm Tài chính Doanh nghiệp 48C
6
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa: Ngân hàng - tài chính
+ Công ty tài chính người tiêu dùng: thực hiện những món vay cho những
người tiêu dùng để mua những món hàng riêng. Các công ty tài chính người tiêu
dùng là các công ty riêng biệt hoặc do các ngân hàng sở hữu. Nói chung, các công ty
này cho những người tiêu dùng nào vay mà không có tín dụng từ những nguồn khác
và thu các lãi suất cao hơn.
+ Các công ty tài chính kinh doanh: cung cấp các dạng tín dụng đặc biệt cho
các doanh nghiệp bằng cách mua những khoản tiền sẽ thu có chiết khấu ( bao thanh
toán ), ngoài ra các công ty tài chính này còn chuyên môn hoá trong việc thuê thiết bị
là những thứ họ mua và sau đó cho các nhà kinh doanh thuê một số năm.
1.1.2 Vai trò của công ty tài chính
Các công ty tài chính từ khi ra đời đã tỏ rõ ưu điểm của nó và ngày càng
khẳng định vị trí quan trọng trong hệ thống tài chính. Công ty tài chính góp phần đem
lại lợi ích trọn vẹn và đầy đủ cho cả những người thừa vốn, những người cần vốn và
cho nền kinh tế.
- Công ty tài chính góp phần mang lại lợi ích trọn vẹn cho thị trường tài chính
do hoạt động của nó giúp giảm bớt những chi phí thông tin và chi phí giao dịch cho
nền kinh tế. Để những người cho vay nhận ra được những người muốn vay và để
những người muốn đi vay nhận ra được những người muốn cho vay là một điều khó
khăn và đòi hỏi chi phí đắt tiền. Đồng thời ngoài những chi phí thông tin, quá trình
thực tế cho vay cũng cần đến các chi phí giao dịch... Vì thế, các công ty tài chính với
tính chuyên môn hoá và tinh thông trong nghề nghiệp, sẵn sàng đưa ra những dịch vụ
tài chính tiện lợi với giá rẻ, góp phần đáp ứng đầy đủ, chính xác và kịp thời yêu cầu
giữa người cần vốn và người có vốn, góp phần thúc đẩy quá trình lưu thông tiền tệ

- Bảo lãnh: là nghĩa vụ của công ty tài chính sẽ thanh toán cho bên thụ hưởng
của hợp đồng một khoản đền bù trong phạm vi của số tiền được nêu rõ trong giấy bảo
lãnh nếu bên đối tác không thực hiện hoặc thực hiện không đủ nghĩa vụ của mình
như đã nêu trong hợp đồng.Bảo lãnh giúp giảm thiểu rủi ro cho khách hàng, đồng
thời khách hàng không phải thanh toán ngay cho bên đối tác do đã có bảo lãnh của
công ty tài chính do đó có cơ hội trì hoãn trong việc thanh toán và làm tăng tài sản
lưu thông hiện có.
- Cho thuê: là hoạt động tín dụng trung và dài hạn thông qua việc công ty tài
chính cho thuê máy móc thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác trên
cơ sở hợp đồng cho thuê giữa công ty tài chính và khách hàng. Bên cho thuê là các
công ty tài chính cam kết mua các máy móc thiết bị, phương tiện vận chuyển... theo
yêu cầu của bên thuê và nắm quyền sở hữu đối với tài sản thuê trong suốt quá trình
cho thuê. Bên thuê được sử dụng tài sản thuê, thanh toán tiền thuê trong suốt thời hạn
Cao Thị Thanh Tâm Tài chính Doanh nghiệp 48C
8
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa: Ngân hàng - tài chính
thuê đã được hai bên thoả thuận và không được huỷ bỏ hợp đồng thuê trước thời hạn.
Khi kết thúc thời hạn thuê, bên thuê được chuyển quyền sở hữu, mua lại hoặc tiếp tục
thuê lại các tài sản đó theo các điều kiện đã được hai bên thoả thuận.
1.1.3.2 Hoạt động huy động vốn
Theo luật các tổ chức tín dụng do Ngân hàng Nhà nước ban hành, các công ty
tài chính huy động vốn thông qua các hính thức sau:
- Nhận tiền gửi có kỳ hạn từ 1 năm trở lên của các cá nhân, tổ chức trong và
ngoài nước.
- Phát hành trái phiếu, cổ phiếu, chứng chỉ tiền gửi và các loại giấy tờ có giá
khác.
- Vay vốn từ các tổ chức tín dụng, tổ chức tài chính trong nước, ngoài nước và
các tổ chức tài chính quốc tế.
- Nhận nguồn vốn uỷ thác từ Tổng công ty hoặc Tập đoàn kinh tế mà công ty
tài chính trực thuộc, từ các tổ chức tín dụng, Chính phủ, cá nhân hay tổ chức kinh tế

kinh nghiệm hoạt động trên thị trường tài chính. Danh mục đầu tư của công ty tài
chính thường là trái phiếu chính phủ, tín phiếu kho bạc, hoặc cổ phiếu của các công
ty tiềm năng bởi đấy đều là những chứng khoán có độ an toàn cao.
- Uỷ thác đầu tư: đây là hình thức đầu tư gián tiếp, theo đó các công ty tài
chính đại diện cho khách hàng đầu tư tài chính vào các cơ hội đầu tư tốt như: cổ phần
của các công ty cổ phần thực hiện IPO, các công ty cổ phần hoặc góp vốn vào các dự
án do khách hàng chỉ định hoặc do công ty tài chính cung cấp.
1.1.3.4 Các hoạt động khác
Ngoài các hoạt động cho vay, huy động vốn, đầu tư, thì công ty tài chính
còn thực hiện một số hoạt động khác như: tư vấn và thu xếp vốn, tư vấn cổ phần hoá,
kinh doanh ngoại hối, vàng; định giá công ty, lập phương án tài chính cho dự án,
nhận uỷ thác vốn, nhận uỷ thác bao thanh toán... Những dịch vụ này đã giúp cho công
ty tài chính thực hiện các hoạt động tương tự như một ngân hàng, trong đó có hoạt
động thu xếp vốn là một loại hình dịch vụ tài chính mới mẻ nhưng có ý nghĩa quan
trọng nhất là đối với các công ty tài chính trực thuộc Tập đoàn kinh tế.
1.1.4 Đặc trưng của các công ty tài chính trực thuộc Tập đoàn kinh tế
Ngày nay, nhiều Tập đoàn kinh tế lớn ở nước ta cũng như trên thế giới đều
thành lập công ty tài chính để phục vụ cho hoạt động của Tập đoàn, và không thể phủ
nhận những lợi ích mà công ty tài chính mang lại cho Tập đoàn kinh tế. Có thể hiểu
về công ty tài chính trực thuộc Tập đoàn kinh tế nhu sau:
- Về bản chất: trong mô hình của Tổng công ty, sự ra đời của công ty tài chính
là dấu hiệu để phân biệt Tổng công ty hoạt động theo mô hình Tập đoàn kinh doanh
với mô hình Tổng công ty kiểu cũ.
- Về tư cách pháp nhân: các công ty tài chính chịu sự quản lý của Tập đoàn
kinh tế về chiến lược phát triển, tổ chức hoạt động và nhân sự; chịu sự quản lý của
Ngân hàng Nhà nước về nội dung và phạm vi hoạt động nghiệp vụ. Công ty tài chính
Cao Thị Thanh Tâm Tài chính Doanh nghiệp 48C
10
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa: Ngân hàng - tài chính
có con dấu riêng, được mở tài khoản tại Ngân hàng Nhà nước, được Tập đoàn kinh tế

bằng vốn vay ngắn hạn ). Tuy nhiên, điều lệ cũng quy định: dư nợ cho vay ngắn hạn
của một khách hàng không quá 10% của công ty tài chính, riêng đối với những khách
hàng là Tập đoàn hay các công ty thành viên thì dư nợ cho vay không quá 15% vốn
Cao Thị Thanh Tâm Tài chính Doanh nghiệp 48C
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa: Ngân hàng - tài chính
tự có của công ty tài chính. Trong trường hợp cho vay trung và dài hạn theo dự án
của Tập đoàn thì phải dựa trên cân đối nguồn vốn thích hợp và căn cứ vào các dự án
đã được cấp và có thẩm quyền phê duyệt với mức cho
vay một dự án không quá 20% vốn tự có của công ty tài chính ( nếu có bảo lãnh của
Hội đồng quản trị thì tỷ lệ này có thể lên đến 30%, nếu vượt qua tỷ lệ này nữa thì
phải được sự chấp thuận bằng văn bản của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước). Nhưng
lãi suất cho vay và huy động vốn của công ty tài chính lại do Tổng giám đốc Tập
đoàn quyết định theo uỷ quyền của Hội đồng quản trị dựa trên khung lãi suất do
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định. Công ty tài chính có thể sử dụng vốn tự
có để hùn vốn, liên doanh hoặc mua cổ phần của các doanh nghiệp thành viên và thực
hiện các nghiệp vụ khác như: tiếp nhận vốn uỷ thác trong và ngoài nước bao gồm cả
nguồn vốn Tập đoàn giao cho để đầu tư vào những công trình dự án của Tập đoàn
hay các doanh nghiệp thành viên. Công ty tài chính cũng có thể làm đại lý phát hành
trái phiếu cho Tập đoàn và các doanh nghiệp thành viên, tư vấn về tiền tệ và quản lý
tài sản khác theo yêu cầu của các doanh nghiệp khác trong Tập đoàn.
Như vậy, khi thực hiện các nghiệp vụ sử dụng vốn tự có của mình, công ty tài
chính đã đại diện cho Tập đoàn tham gia vào việc điều hoà vốn của Tập đoàn. Đây
cũng chính là công cụ chủ yếu để Tập đoàn kinh tế ( đóng vai trò như công ty mẹ ) có
thể chi phối và điều chỉnh hoạt động của các công ty thành viên, tạo mối liên kết chặt
chẽ về tài chính, tạo sức mạnh cho Tập đoàn. Theo mô hình này thì công ty mẹ thực
hiện việc đầu tư vào các công ty thành viên thông qua công ty tài chính. Cùng với sự
lớn mạnh của Tập đoàn kinh tế, công ty tài chính trở thành trung tâm điều phối vốn
hoạt động cho các công ty thành viên thông qua việc nắm giữ phần lớn vốn hoạt động
( trong đó có thể bao gồm cả vốn cổ phần ).

bị khống chế bởi hạn mức tín dụng theo quy định của Ngân hàng Nhà nước, nên
không thể cung cấp đủ vốn tín dụng cho nhu cầu vốn đầu tư của các dự án. Nhưng bù
lại, các Công ty tài chính lại có ưu thế là có trình độ chuyên môn trong việc tìm kiếm
nguồn vốn, nguồn hỗ trợ cho các dự án và có sự am hiểu về các dự án đặc biệt là các
dự án trong ngành về mặt kỹ thuật.
Có thể hiểu, hoạt động thu xếp vốn là một dịch vụ bao gồm một tập hợp các
nghiệp vụ do Công ty tài chính tiến hành nhằm thu xếp cho khách hàng có được
nguồn vốn với các điều kiện yêu cầu.
1.2.2 Đặc điểm của hoạt động thu xếp vốn
Phân tích các đặc điểm của hoạt động thu xếp vốn sẽ giúp ta hiểu rõ hơn khái
niệm hoạt động thu xếp vốn và vai trò của nó tại các công ty tài chính:
- Hoạt động thu xếp vốn mang tính “ tín dụng” : “thu xếp vốn” là một
thuật ngữ chỉ việc Công ty tài chính tìm kiếm một khoản vốn vay cho chủ đầu tư để
tài trợ cho dự án đi vào hoạt động, trên cơ sở đó Công ty tài chính được hưởng phí
thu xếp vốn, do vậy hoạt động thu xếp vốn mang tính tín dụng chứ không mang tính
đầu tư. Bản chất tín dụng của hoạt động thu xếp vốn còn được thể hiện rõ hơn khi các
Công ty tài chính thực hiện hoạt động thu xếp vốn bằng hình thức đồng tài trợ hoặc
Cao Thị Thanh Tâm Tài chính Doanh nghiệp 48C
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa: Ngân hàng - tài chính
cấp tín dụng trực tiếp bằng nguồn vốn tự có hoặc nguồn vốn uỷ thác của Tổng công
ty hay các tổ chức tín dụng khác, khi này, quan hệ giữa Công ty tài chính và chủ đầu
tư dự án là quan hệ vay mượn trực tiếp, chủ đầu tư phải hoàn trả cả gốc và lãi cho
Công ty tài chính.
- Hoạt động thu xếp vốn là một loại hình dịch vụ tài chính: Bởi vậy mà
hoạt động thu xếp vốn mang tính vô hình, không ổn định và khó xác định chất lượng.
Một đặc điểm khác biệt giữa hoạt động thu xếp vốn và hoạt động cho vay đơn thuần
đó là thu nhập của hoạt động thu xếp vốn chủ yếu là từ phí, có một phần là tiền lãi
( nếu Công ty tài chính thực hiện thu xếp vốn bằng nguồn vốn tự có của mình ), trong
khi đó thu nhập của hoạt động cho vay phần lớn là từ tiền lãi. Phí của hoạt động thu

khách hàng thông qua việc hỗ trợ kịp thời, có hiệu quả với các vấn đề phát sinh trong
quá trình giải ngân. Ngoài ra, khách hàng còn được Công ty tài chính cung cấp các
dịch vụ khác như quản lý khoản vay ( chịu trách nhiệm về các giao dịch thu gốc và
lãi ), dàn xếp thuê mua tài chính nếu khách hàng có nhu cầu...
1.2.3 Nguồn vốn cho hoạt động thu xếp vốn
Nguồn vốn là yếu tố không thể thiếu trong hoạt động thu xếp vốn, việc tìm
kiếm nguồn vốn tài trợ cho các dự án là hết sức quan trọng. Sau đây là sơ đồ minh
hoạ các nguồn vốn mà công ty tài chính có thể huy động:
Cao Thị Thanh Tâm Tài chính Doanh nghiệp 48C
15
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa: Ngân hàng - tài chính
Sơ đồ 1: Nguồn vốn cho hoạt động thu xếp vốn
- Nguồn vốn tự có của Công ty tài chính: đây là cơ sở đầu tiên để công ty tài
chính đưa ra các phương án thu xếp vốn. Khi nhận được hồ sơ đề nghị thu xếp vốn
của khách hàng thì trước tiên công ty tài chính sẽ phải xem xét bản thân công ty tài
chính có khả năng cho vay bao nhiêu và lãi suất cho vay như thế nào, vì điều này phụ
thuộc vào quy mô vốn điều lệ của Công ty tài chính và hạn mức tín dụng mà Ngân
hàng nhà nước quy định. Nếu Công ty tài chính bằng số vốn tự có của mình không
thể đáp ứng được nhu cầu vốn của khách hàng, sẽ phải tìm kiếm nguồn vốn từ bên
ngoài để có thể cung cấp đủ số vốn thu xếp theo yêu cầu của khách hàng.
Vốn tự có của Công ty tài chính bao gồm vốn cấp 1 và vốn cấp 2:
+ Vốn cấp 1: bao gồm vốn điều lệ, quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, quỹ dự
phòng tài chính, quỹ đầu tư phát triển nghiệp vụ và lợi nhuận không chia.
Cao Thị Thanh Tâm Tài chính Doanh nghiệp 48C
Nguồn vốn
huy động từ
các cá nhân,
tổ chức (
không bao
gồm TCTD)

có thể thực hiện được chức năng của mình là vận hành và kinh doanh có hiệu quả các
nguồn vốn của ngành trên thị trường tài chính.
- Nguồn vốn từ các TCTN trong và ngoài nước: Đây cũng được coi là nguồn
vốn quan trọng sử dụng trong hoạt động thu xếp vốn. Công ty tài chính huy động vốn
từ các TCTD trong và ngoài nước để tài trợ cho hoạt động thu xếp vốn của mình dưới
2 hình thức chủ yếu là nhận vốn uỷ thác cho vay của các TCTD và mời gọi các
TCTD tham gia vào hoạt động thu xếp vốn cho dự án dưới hình thức đồng tài trợ.
+ Nhận vốn uỷ thác từ các TCTD trong và ngoài nước: Nhờ có nguồn vồn này
mà Công ty tài chính có thể huy động được nguồn vốn lớn trong thời gian dài. Mặt
khác, đây cũng là cơ hội tốt để cho các NHTM nói riêng và các TCTD nói chung có
cơ hội tiếp cận và cho vay các dự án ngành tốt, có hiệu quả kinh tế cao vì Công ty tài
chính là TCTD có sự am hiểu nhất định về ngành khi thẩm định dự án đặc biệt là các
công ty tài chính trực thuộc Tổng công ty/ Tập đoàn.
Cao Thị Thanh Tâm Tài chính Doanh nghiệp 48C
17
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa: Ngân hàng - tài chính
+ Mời gọi các TCTD trong và ngoài nước tham gia vào hoạt động thu xếp vốn
cho dự án dưới hình thức đồng tài trợ: Các TCTD thường lựa chọn hình thức này khi
tham gia hoạt động thu xếp vốn vì rủi ro phải gánh chịu được giảm thiểu.
Theo khoản 1 điều 2 của quyết định số 286/2002/QĐ-NHNN về việc ban hành
Quy chế đồng tài trợ của các TCTD có nêu rõ: “Việc đồng tài trợ của các TCTD là
quá trình tổ chức thực hiện việc cấp tín dụng của bên đồng tài trợ với sự tham gia của
2 hay nhiều tổ chức tín dụng do một tổ chức tín dụng làm đầu mối cho một hoặc một
phần dự án, phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, đầu tư phát triển và đời sống
( gọi tắt là dự án ).” Cũng theo khoản 4 điều 2 của quyết định 286, công ty tài chính
không được phép đứng ra với tư cách là đầu mối đồng tài trợ để thực hiện quản lý, tổ
chức đồng tài trợ và giải quyết các vấn đề phát sinh của các bên tài trợ. Khi có một
hợp đồng thu xếp vốn của khách hàng được thực hiện dưới hình thức đồng tài trợ,
công ty tài chính sẽ phải tổ chức mời chào các tổ chức tín dụng tham gia tài trợ và
nhờ một ngân hàng thương mại đứng ra làm đầu mối đồng tài trợ, có trách nhiệm dự

2
Lãnh đạo
phòng
nghiệp vụ
_ _

2
CBTXV 3
Lãnh đạo
phòng
nghiệp vụ
_ 4
Lãnh đạo
công ty

_

4
CBTXV 5
Cao Thị Thanh Tâm Tài chính Doanh nghiệp 48C
Tiếp nhận hồ sơ đề nghị thu xếp
vốn của khách hàng
Kiểm
19
Kết
thúc
Hướng dẫn khách hàng hoàn thiện
hồ sơ
Thẩm định, lập báo cáo thẩm định
và đề xuất thu xếp vốn hoặc kết

hành thẩm định và lập báo cáo thẩm định trình Lãnh đạo Phòng nghiệp vụ.
Trong báo cáo thẩm định, CBTXV đề xuất việc có hay không thực hiện dịch
vụ thu xếp vốn cho khách hàng (có nêu rõ lý do). Lãnh đạo Phòng nghiệp vụ có trách
nhiệm xem xét báo cáo thẩm định và quyết định việc kết thúc giao dịch thu xếp vốn
hoặc tiếp tục lập phương án thu xếp vốn.
- Bước 3: Lập phương án thu xếp vốn
Trong trường hợp Lãnh đạo Phòng nghiệp vụ quyết định tiếp tục lập phương
án thu xếp vốn. Việc khảo sát nguồn có thể được thực hiện bằng văn bản hoặc bằng
Cao Thị Thanh Tâm Tài chính Doanh nghiệp 48C
20
Theo dõi và thu phí thu xếp vốn
Thanh lý các hợp đồng, kết thúc và
lưu hồ sơ
Phòng kế hoạch
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa: Ngân hàng - tài chính
giao dịch miệng. Trong trường hợp chưa có được cam kết chính thức bằng văn bản
của các chủ nguồn về việc cam kết tài trợ ( trong trường hợp có sử dụng nguồn khác
ngoài nguồn PVFC cho vay trực tiếp), CBTXV có trách nhiệm lập ít nhất một
phương án thu xếp vốn dự phòng.
- Bước 4: Trình lãnh đạo Công ty phương án thu xếp vốn
Lãnh đạo Phòng nghiệp vụ có trách nhiệm kiểm tra, thông qua và trình đề xuất
về việc thu xếp vốn cũng như các phương án thu xếp vốn đề xuất thực hiện.
Lãnh đạo Công ty là người đưa ra quyết định cuối cùng về việc có hay không
thực hiện dịch vụ thu xếp vốn cũng như ra quyết định phương án thu xếp vốn lựa
chọn thực hiện.
- Bước 5: Triển khai phương án thu xếp vốn được duyệt
Tổ nghiệp vụ dưới sự chỉ đạo của Lãnh đạo Phòng nghiệp vụ, chủ động thực
hiện phương án thu xếp vốn được phê duyệt, kịp thời báo cáo Lãnh đạo Công ty
những khó khăn, vướng mắc nảy sinh và đề xuất phương án khắc phục, giải quyết.
- Bước 6: Thu phí thu xếp vốn

xếp vốn qua từng năm là khó khăn bởi có 2 cách tính phí thu xếp vốn. Nếu phí thu
xếp vốn được tính theo một tỷ lệ phần trăm của dư nợ thực tế và thu theo kỳ thu lãi
khoản vay của khách hàng thì phí thu xếp vốn của dự án được thu xếp vốn trong năm
trước có thể bị tính nằm trong phí thu xếp vốn của năm sau. Vì vây, nếu dựa vào chỉ
tiêu này khó có thể đánh giá quy mô hoạt động thu xếp vốn là lớn hay nhỏ, tăng hay
giảm, vì vậy nên phân tích kết hợp chỉ tiêu này và hai chỉ tiêu đã được nêu ở trên.
1.2.5.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả thu xếp vốn
- Số lượng các dự án trong ngành được thực hiện thu xếp vốn/ Tổng số dự án
trong ngành cần thu xếp vốn: tuy chỉ tiêu này không đánh giá được hết hiệu quả của
hoạt động thu xếp vốn của Công ty tài chính trực thuộc Tập đoàn kinh tế bởi hoạt
động thu xếp vốn không chỉ bó hẹp trong phạm vi ngành, nhưng chỉ tiêu này có ý
nghĩa rất quan trọng khi đánh giá hiệu quả thu xếp vốn của Công ty tài chính trực
thuộc Tập đoàn kinh tế bởi một trong những mục đích chính khi thành lập Công ty tài
chính là thu xếp vốn cho các dự án trong ngành. Vì thế, chỉ tiêu này cao chứng tỏ
mức độ hiệu quả, mức độ hoàn thành kế hoạch đặt ra của hoạt động thu xếp vốn càng
cao.
- Số tiền được giải ngân và sử dụng đúng mục đích/ Tổng giá trị vốn được thu
xếp: chỉ tiêu này đánh giá khá chính xác hiệu quả hoạt động thu xếp vốn, cho biết
trong tổng số vốn được thu xếp đã có bao nhiêu tiền được giải ngân đáp ứng kịp thời
tiến độ của dự án và được sử dụng đúng mục đích như đã cam kết trong hợp đồng tín
dụng. Tỷ lệ này càng cao thì hiệu quả hoạt động thu xếp vốn càng cao và ngược lại.
- Số dự án thực hiện thu xếp thành công / Tổng số dự án được thực hiện thu
xếp vốn: Một dự án được coi là thu xếp vốn thành công khi giá trị thu xếp vốn được
thu xếp đúng như thoả thuận trong Hợp đồng thu xếp vốn. Khi tỷ lệ này càng cao thì
số dự án thực hiện thu xếp vốn thành công chiếm phần lớn trong tổng số các dự án
Cao Thị Thanh Tâm Tài chính Doanh nghiệp 48C
22
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa: Ngân hàng - tài chính
được thực hiện thu xếp vốn. Chỉ tiêu này đánh giá khá tốt hiệu quả hoạt động thu xếp
vốn.

1.3.1 Nhân tố chủ quan
Cao Thị Thanh Tâm Tài chính Doanh nghiệp 48C
23
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa: Ngân hàng - tài chính
- Khả năng huy động vốn sử dụng cho hoạt động thu xếp vốn: Như đã phân
tích ở trên, nguồn vốn có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với hoạt động thu xếp vốn,
vì vậy nếu như Công ty tài chính huy động được một nguồn vốn dồi dào và đa dạng
thì khả năng tăng cường hoạt động thu xếp vốn là rất lớn.
- Chất lượng cán bộ thu xếp vốn nói riêng và các cán bộ khác nói chung: Con
người là một trong những yếu tố quan trọng nhất mang tới thành công cho doanh
nghiệp. Một doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển đều phải dựa vào yếu tố con
người vì con người không chỉ cấu thành nên doanh nghiệp mà còn góp phần điều
hành, quản lý doanh nghiệp, quyết định tới sự thành bại của doanh nghiệp. Vì vây,
chất lượng nhân sự là nhân tố tác động tới khả năng tăng cường hoạt động thu xếp
vốn. Muốn tăng cường hoạt động thu xếp vốn thì cán bộ phải có trình độ chuyên môn
nhất định, nắm vững nhu cầu thị trường và thị hiếu khách hàng để từ đó tìm kiếm các
dự án mới hấp dẫn, có khả năng thu hút các nhà tài trợ cùng tham gia vào hoạt động
thu xếp vốn. Chất lượng cán bộ nói chung cũng tác động không nhỏ tới khả năng
phát triển hoạt động thu xếp vốn, bởi đây là một hoạt động tổng hợp, đòi hỏi sự tham
gia phối hợp của cán bộ nhiều phòng ban. Cụ thể, khi nhận được giấy đề nghị thu xếp
vốn của khách hàng, cán bộ thu xếp vốn sẽ là người tiếp xúc với khách hàng đầu tiên,
và xem xét tất cả các nguồn lực của công ty tài chính để có thể đưa ra phương án thu
xếp vốn tối ưu cho khách hàng. Hỗ trợ cho cán bộ thu xếp vốn, cán bộ quản lý dòng
tiền sẽ xem xét số vốn tự có của công ty và số dư trong tài khoản của công ty tại ngân
hàng, nếu như không đủ để thu xếp vốn cho dự án thì sẽ kêu gọi đồng tài trợ hoặc
huy động thêm nguồn vốn uỷ thác cho vay; cán bộ phòng quản lý vốn uỷ thác sẽ khai
thác và tìm kiếm các nguồn tài trợ từ nguồn vốn ủy thác cho vay của các cá nhân, tổ
chức kinh tế và các tổ chức tín dụng, và các cán bộ phòng thẩm định sẽ thực hiện
khâu thẩm định dự án hoặc tái thẩm định... Như vậy, nếu chuyên môn của các cán bộ
khác không vững, sẽ ảnh hưởng tới khả năng tăng cường hoạt động thu xếp vốn. Chỉ

trong hoạt động của hệ thống tài chính nói chung, gây khó khăn cho khả năng phát
triển của các Công ty tài chính và dịch vụ thu xếp vốn nói riêng. Ngược lại, đất nước
đang đà phát triển kinh tế thì nhu cầu vốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng, cho sản xuất kinh
doanh, y tế, giáo dục cũng như các dịch vụ giải trí rất lớn, tạo điều kiện cho các Công
ty tài chính phát triển dịch vụ thu xếp vốn của mình.
- Mục tiêu, đường lối phát triển kinh tế xã hội của đất nước: Mục tiêu, đường
lối phát triển kinh tế của đất nước có ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động của các tổ
chức kinh tế nói chung và các tổ chức tài chính nói riêng. Nếu như định hướng phát
triển của đất nước chú trọng vào một số lĩnh vực then chốt thì sẽ khiến cho nhu cầu
đầu tư vốn vào ngành đó rất lớn. Đồng thời, đường lối phát triển nền kinh tế quốc gia
sẽ kéo theo việc quy định sự thắt chặt hay nới lỏng hoạt động của các tổ chức kinh tế
trong đó có Công ty tài chính. Điều này kéo theo sự gia tăng hay hạn chế các dự án
cần thu xếp vốn và những cơ hội cho các Công ty tài chính trong việc tăng cường
hoạt động thu xếp vốn.
Cao Thị Thanh Tâm Tài chính Doanh nghiệp 48C
25

Trích đoạn Đồng tài trợ: Khi khách hàng có nhu cầu vay vốn lớn vượt quá khả năng cung ứng cũng như hạn mức cho vay của PVFC hay của một tổ chức tín dụng nào Thực trạng về nguồn vốn sử dụng cho hoạt động thu xếp vốn tại Tổng Thực trạng về hiệu quả hoạt động thu xếp vốn Đánh giá thực trạng hoạt động thu xếp vốn tại PVFC 1 Thành tựu đạt được Hạn chế và nguyên nhân
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status