Phát triển hoạt động thu xếp vốn tại Tổng công ty tài chính Cổ phần Dầu khí Việt Nam - Pdf 10

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa: Ngân hàng - tài chính
Lời mở đầu
Những năm gần đây, nền kinh tế Việt Nam đã có nhiều bước phát triển to lớn,
quá trình hội nhập kinh tế quốc tế được diễn ra mạnh mẽ. Kể từ khi Việt Nam chính
thức gia nhập WTO vào tháng 7/2007 đã đặt ra nhiều thuận lợi cũng như những thách
thức to lớn đối với các doanh nghiệp Việt Nam. Đảng ta với quan điểm phát triển nền
kinh tế nhiều thành phần trong đó kinh tế Nhà nước đóng vai trò chủ đạo, định hướng
cho các thành phần kinh tế khác phát triển, vì vậy Đảng và Nhà nước đã cho phép
thành lập các Tổng công ty 90, 91; khuyến khích các Tổng công ty này tự chủ hơn
trong lĩnh vực tài chính tiền tệ để có thể trở thành các Tập đoàn kinh tế mạnh, đảm
bảo gánh vác trách nhiệm năng nề trong tiến trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất
nước.
Ở nước ta đã xuất hiện nhiều mô hình các Tổng công ty/ Tập đoàn kinh tế
thành lập công ty tài chính cho riêng mình. Trong giai đoạn hiện nay, nhu cầu vốn
của các đơn vị này rất lớn mà chủ yếu là vốn trung và dài hạn để thực hiện các dự án
lớn, hiện đại hóa tài sản cố định phục vụ tốt cho nhu cầu sản xuất kinh doanh, các
công ty tài chính ra đời có nhiệm vụ điều hòa vốn, đáp ứng đầy đủ vốn cho các dự án
của Tổng công ty / Tập đoàn kinh tế và các đơn vị thành viên. 1 số ví dụ như Công ty
tài chính cổ phần Hóa chất thuộc Tập đoàn hóa chất Việt Nam, Công ty tài chính Cổ
phần Điện lực thuộc Tập đoàn Điện lực Việt Nam… Tổng Công ty tài chính Cổ phần
Dầu khí Việt Nam (PVFC) là một đại diện tiêu biểu, một tổ chức tài chính phi ngân
hàng có quy mô lớn và sự hoạt động hiệu quả, với nhiều sản phẩm, dịch vụ tài chính
đa dạng, trong đó mũi nhọn là hoạt động thu xếp vốn, đã góp phần tích cực đối với sự
lớn mạnh của Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam.
Trong quá trình thực tập nghiên cứu tại Tổng công ty tài chính Cổ phần Dầu
khí Việt Nam (PVFC), em xin mạnh dạn lựa chọn đề tài: “ Phát triển hoạt động thu
xếp vốn tại Tổng công ty tài chính Cổ phần Dầu khí Việt Nam”
Bố cục của chuyên đề như sau:
Chương I : Lý luận cơ bản về hoạt động thu xếp vốn của Công ty tài
chính
Chương II : Thực trạng hoạt động thu xếp vốn tại Tổng công ty tài

cung cấp các dịch vụ thanh toán tiện lợi. Đối với người đi vay, họ sẽ thỏa mãn được
nhu cầu vốn kinh doanh tiện lợi, chắc chắn và hợp pháp, chi tiêu, thanh toán mà
không chi phí nhiều về sức lực thời gian cho việc tìm kiếm những nơi cung ứng vốn
riêng lẻ. Đặc biệt là đối với nền kinh tế, chức năng này có vai trò quan trọng trong
việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế vì nó đáp ứng nhu cầu vốn để đảm bảo quá trình tái
sản xuất được thực hiện liên tục và mở rộng quy mô sản xuất. Có thể khẳng định
không có trung gian tài chính thì thị trường tài chính không thể có được lợi ích trọn
vẹn do trung gian tài chính nắm bắt được những chi phí thông tin và chi phí giao dịch
lớn trong nền kinh tế, vì vậy các trung gian tài chính có vai trò rất quan trọng trong
phát triển nền kinh tế.
Một trong những trung gian tài chính lớn nhất và quan trọng nhất của nền kinh
tế là ngân hàng, tuy nhiên vẫn có một số những quy định giới hạn và rào cản nhất
định cho nên trong một số trường hợp, ngân hàng không thể đáp ứng được hết những
nhu cầu về vốn của các cá nhân, tổ chức. Vì vậy các trung gian tài chính khác đã ra
Cao Thị Thanh Tâm Tài chính Doanh nghiệp 48C
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa: Ngân hàng - tài chính
đời, trong đó có công ty tài chính, chuyên môn hoá trong một số lĩnh vực hoạt động
và khắc phục những hạn chế của ngân hàng.
Công ty tài chính là một tổ chức kinh doanh tiền tệ, có những hoạt động chủ
yếu và thường xuyên là:
- Huy động vốn từ phát hành kỳ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi và các
loại giấy tờ có giá khác; nhận tiền gửi có kỳ hạn từ một năm trở lên của tổ chức, cá
nhân; tiếp nhận vốn uỷ thác của Chính phủ, các tổ chức và cá nhân trong và ngoài
nước.
- Cho vay ngắn hạn, trung và dài hạn, cho vay theo hình thức uỷ thác của
Chính Phủ, cá nhân và tổ chức; cho vay tiêu dùng...
- Chiết khấu, tái chiết khấu, cầm cố thương phiếu và các giấy tờ có giá khác
- Góp vốn, mua cổ phần của các doanh nghiệp và các tổ chức tín dụng khác
- Thực hiện nghiệp vụ cho thuê và thuê mua tài chính
- Đầu tư cho các dự án theo hợp đồng

ngoài chỉ được thành lập công ty tài chính liên doanh hoặc 100% vốn đầu tư nước
ngoài nhưng phải có tổng tài sản trên 10 tỷ USD vào cuối năm trước thời điểm nộp
đơn.
Trong khi ngân hàng hoạt động rộng và huy động vốn chủ yếu từ công chúng
thì công ty tài chính huy động vốn chủ yếu từ nội bộ tập đoàn và nhóm công ty. Vì
thế, rủi ro xảy ra đối với các công ty tài chính chủ yếu là do nội bộ tập đoàn hay
nhóm công ty gánh chịu, rất ít ảnh hưởng tới cộng đồng. Khi các quan hệ kinh tế
trong tập đoàn là minh bạch và tuân thủ đúng pháp luật thì khả năng xảy ra rủi ro là
không lớn.
- Sự điều chỉnh của Chính Phủ: Các công ty tài chính hầu như không phải chịu
sự điều hành chặt chẽ của Chính Phủ, Chính Phủ chỉ điều hành hạn mức tín dụng của
các công ty tài chính cho các cá nhân vay và kỳ hạn hợp đồng nợ, ngoài ra không có
bất kỳ hạn chế về mở chi nhánh, về tài sản có mà các công ty tài chính nắm giữ cũng
như sự thu hút vốn của các công ty tài chính. Điều này đã giúp cho các công ty tài
chính đáp ứng tốt các nhu cầu của khách hàng.
Có thể thấy lợi ích mà công ty tài chính mang lại cho các doanh nghiệp là rất
lớn. Không phải ngẫu nhiên mà trên thế giới, các tập đoàn lớn thường có ít nhất một
công ty tài chính. Công ty tài chính là công cụ để tập đoàn điều tiết vốn và sử dụng
vốn một cách có hiệu quả và thuận lợi nhất. Trong phạm vi nội bộ tập đoàn hoặc
nhóm công ty có quan hệ lợi ích gắn bó, công ty tài chính có thể dễ dàng huy động
các nguồn vốn nhàn rỗi từ các công ty thành viên để tập trung vốn đầu tư. Với tính
nội bộ cao trong hoạt động nghiệp vụ công ty tài chính có thể kiểm soát rủi ro và tập
trung vốn lớn cho các dự án quan trọng trong nội bộ tập đoàn.
Cao Thị Thanh Tâm Tài chính Doanh nghiệp 48C
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa: Ngân hàng - tài chính
1.1.1.2 Phân loại công ty tài chính
Đi đôi với sự phát triển của thị trường tài chính, các công ty tài chính cũng
phát triển đa dạng về loại hình với các chức năng chuyên biệt, phù hợp với nhu cầu
và sự phát triển của nền kinh tế.
- Phân loại căn cứ vào tính độc lập:

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa: Ngân hàng - tài chính
+ Công ty tài chính người tiêu dùng: thực hiện những món vay cho những
người tiêu dùng để mua những món hàng riêng. Các công ty tài chính người tiêu
dùng là các công ty riêng biệt hoặc do các ngân hàng sở hữu. Nói chung, các công ty
này cho những người tiêu dùng nào vay mà không có tín dụng từ những nguồn khác
và thu các lãi suất cao hơn.
+ Các công ty tài chính kinh doanh: cung cấp các dạng tín dụng đặc biệt cho
các doanh nghiệp bằng cách mua những khoản tiền sẽ thu có chiết khấu ( bao thanh
toán ), ngoài ra các công ty tài chính này còn chuyên môn hoá trong việc thuê thiết bị
là những thứ họ mua và sau đó cho các nhà kinh doanh thuê một số năm.
1.1.2 Vai trò của công ty tài chính
Các công ty tài chính từ khi ra đời đã tỏ rõ ưu điểm của nó và ngày càng
khẳng định vị trí quan trọng trong hệ thống tài chính. Công ty tài chính góp phần đem
lại lợi ích trọn vẹn và đầy đủ cho cả những người thừa vốn, những người cần vốn và
cho nền kinh tế.
- Công ty tài chính góp phần mang lại lợi ích trọn vẹn cho thị trường tài chính
do hoạt động của nó giúp giảm bớt những chi phí thông tin và chi phí giao dịch cho
nền kinh tế. Để những người cho vay nhận ra được những người muốn vay và để
những người muốn đi vay nhận ra được những người muốn cho vay là một điều khó
khăn và đòi hỏi chi phí đắt tiền. Đồng thời ngoài những chi phí thông tin, quá trình
thực tế cho vay cũng cần đến các chi phí giao dịch... Vì thế, các công ty tài chính với
tính chuyên môn hoá và tinh thông trong nghề nghiệp, sẵn sàng đưa ra những dịch vụ
tài chính tiện lợi với giá rẻ, góp phần đáp ứng đầy đủ, chính xác và kịp thời yêu cầu
giữa người cần vốn và người có vốn, góp phần thúc đẩy quá trình lưu thông tiền tệ
trong nền kinh tế.
- Thị trường tài chính phát triển khiến cho sự cạnh tranh giữa các định chế tài
chính ngày càng gay gắt, vì thế để tồn tại, bản thân các định chế tài chính trong đó có
công ty tài chính phải đa dạng hoá, nâng cao chất lượng các sản phẩm, dịch vụ tài
chính; thường xuyên thay đổi lãi suất một cách thích hợp làm cho nguồn vốn được tài
trợ cho đầu tư tăng lên mức cao nhất.

- Cho thuê: là hoạt động tín dụng trung và dài hạn thông qua việc công ty tài
chính cho thuê máy móc thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác trên
cơ sở hợp đồng cho thuê giữa công ty tài chính và khách hàng. Bên cho thuê là các
công ty tài chính cam kết mua các máy móc thiết bị, phương tiện vận chuyển... theo
yêu cầu của bên thuê và nắm quyền sở hữu đối với tài sản thuê trong suốt quá trình
cho thuê. Bên thuê được sử dụng tài sản thuê, thanh toán tiền thuê trong suốt thời hạn
Cao Thị Thanh Tâm Tài chính Doanh nghiệp 48C
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa: Ngân hàng - tài chính
thuê đã được hai bên thoả thuận và không được huỷ bỏ hợp đồng thuê trước thời hạn.
Khi kết thúc thời hạn thuê, bên thuê được chuyển quyền sở hữu, mua lại hoặc tiếp tục
thuê lại các tài sản đó theo các điều kiện đã được hai bên thoả thuận.
1.1.3.2 Hoạt động huy động vốn
Theo luật các tổ chức tín dụng do Ngân hàng Nhà nước ban hành, các công ty
tài chính huy động vốn thông qua các hính thức sau:
- Nhận tiền gửi có kỳ hạn từ 1 năm trở lên của các cá nhân, tổ chức trong và
ngoài nước.
- Phát hành trái phiếu, cổ phiếu, chứng chỉ tiền gửi và các loại giấy tờ có giá
khác.
- Vay vốn từ các tổ chức tín dụng, tổ chức tài chính trong nước, ngoài nước và
các tổ chức tài chính quốc tế.
- Nhận nguồn vốn uỷ thác từ Tổng công ty hoặc Tập đoàn kinh tế mà công ty
tài chính trực thuộc, từ các tổ chức tín dụng, Chính phủ, cá nhân hay tổ chức kinh tế
trong và ngoài nước...
Các công ty tài chính không được huy động vốn bằng cách vay vốn từ cửa sổ
chiết khấu của Ngân hàng Nhà nước giống như các Ngân hàng thương mại; bù lại,
các công ty tài chính không phải duy trì một tỷ lệ dự trữ bắt buộc mà chỉ phải duy trì
các tỷ lệ đảm bảo an toàn nhất định ( tỷ lệ đảm bảo về vốn tự có, tỷ lệ an toàn vốn tối
thiểu, giới hạn tín dụng đối với khách hàng, tỷ lệ về khả năng chi trả, tỷ lệ tối đa của
vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn, giới hạn góp vốn, mua cổ
phần ) và các quỹ dự phòng theo quy định của Ngân hàng Nhà nước. Ở Việt Nam,

còn thực hiện một số hoạt động khác như: tư vấn và thu xếp vốn, tư vấn cổ phần hoá,
kinh doanh ngoại hối, vàng; định giá công ty, lập phương án tài chính cho dự án,
nhận uỷ thác vốn, nhận uỷ thác bao thanh toán... Những dịch vụ này đã giúp cho công
ty tài chính thực hiện các hoạt động tương tự như một ngân hàng, trong đó có hoạt
động thu xếp vốn là một loại hình dịch vụ tài chính mới mẻ nhưng có ý nghĩa quan
trọng nhất là đối với các công ty tài chính trực thuộc Tập đoàn kinh tế.
1.1.4 Đặc trưng của các công ty tài chính trực thuộc Tập đoàn kinh tế
Ngày nay, nhiều Tập đoàn kinh tế lớn ở nước ta cũng như trên thế giới đều
thành lập công ty tài chính để phục vụ cho hoạt động của Tập đoàn, và không thể phủ
nhận những lợi ích mà công ty tài chính mang lại cho Tập đoàn kinh tế. Có thể hiểu
về công ty tài chính trực thuộc Tập đoàn kinh tế nhu sau:
- Về bản chất: trong mô hình của Tổng công ty, sự ra đời của công ty tài chính
là dấu hiệu để phân biệt Tổng công ty hoạt động theo mô hình Tập đoàn kinh doanh
với mô hình Tổng công ty kiểu cũ.
- Về tư cách pháp nhân: các công ty tài chính chịu sự quản lý của Tập đoàn
kinh tế về chiến lược phát triển, tổ chức hoạt động và nhân sự; chịu sự quản lý của
Ngân hàng Nhà nước về nội dung và phạm vi hoạt động nghiệp vụ. Công ty tài chính
Cao Thị Thanh Tâm Tài chính Doanh nghiệp 48C
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa: Ngân hàng - tài chính
có con dấu riêng, được mở tài khoản tại Ngân hàng Nhà nước, được Tập đoàn kinh tế
cấp vốn điều lệ ban đầu. Hạch toán kinh tế độc lập, tự chủ về tài chính và tự chịu
trách nhiệm về kết quả kinh doanh, hoạt động theo luật doanh nghiệp và quy chế hoạt
động của các tổ chức tín dụng.
- Vêf vai trò, nhiệm vụ: công ty tài chính có nhiệm vụ huy động và cho vay
đáp ứng nhu cầu vốn của Tổng công ty/ Tập đoàn kinh tế và các đơn vị thành viên.
Quan hệ tín dụng giữa công ty tài chính và các đơn vị thành viên của Tập đoàn được
thực hiện theo nguyên tắc có vay có trả. Trường hợp công ty tài chính thực hiện cho
vay đối với các cá nhân, tổ chức cá nhân khác ngoài Tập đoàn phải được sự đồng ý
của Hội đồng quản trị.
Các Tổng công ty muốn mở rộng và phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh

phải được sự chấp thuận bằng văn bản của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước). Nhưng
lãi suất cho vay và huy động vốn của công ty tài chính lại do Tổng giám đốc Tập
đoàn quyết định theo uỷ quyền của Hội đồng quản trị dựa trên khung lãi suất do
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định. Công ty tài chính có thể sử dụng vốn tự
có để hùn vốn, liên doanh hoặc mua cổ phần của các doanh nghiệp thành viên và thực
hiện các nghiệp vụ khác như: tiếp nhận vốn uỷ thác trong và ngoài nước bao gồm cả
nguồn vốn Tập đoàn giao cho để đầu tư vào những công trình dự án của Tập đoàn
hay các doanh nghiệp thành viên. Công ty tài chính cũng có thể làm đại lý phát hành
trái phiếu cho Tập đoàn và các doanh nghiệp thành viên, tư vấn về tiền tệ và quản lý
tài sản khác theo yêu cầu của các doanh nghiệp khác trong Tập đoàn.
Như vậy, khi thực hiện các nghiệp vụ sử dụng vốn tự có của mình, công ty tài
chính đã đại diện cho Tập đoàn tham gia vào việc điều hoà vốn của Tập đoàn. Đây
cũng chính là công cụ chủ yếu để Tập đoàn kinh tế ( đóng vai trò như công ty mẹ ) có
thể chi phối và điều chỉnh hoạt động của các công ty thành viên, tạo mối liên kết chặt
chẽ về tài chính, tạo sức mạnh cho Tập đoàn. Theo mô hình này thì công ty mẹ thực
hiện việc đầu tư vào các công ty thành viên thông qua công ty tài chính. Cùng với sự
lớn mạnh của Tập đoàn kinh tế, công ty tài chính trở thành trung tâm điều phối vốn
hoạt động cho các công ty thành viên thông qua việc nắm giữ phần lớn vốn hoạt động
( trong đó có thể bao gồm cả vốn cổ phần ).
Đồng thời, Tập đoàn kinh tế là công ty mẹ phải thực hiện được các yêu cầu
cơ bản sau:
- Về báo cáo tài chính: các công ty con hạch toán độc lập và tự lập các báo cáo
tài chính định kỳ để gửi về công ty mẹ. Trên cơ sở đó, định kỳ công ty mẹ tiến hành
hợp nhất các báo cáo tài chính để lập thành báo cáo tài chính cho toàn bộ Tập đoàn.
- Về đầu tư và quản lý vốn: Thông qua công ty tài chính, vốn của công ty mẹ (
vốn chủ sở hữu và vốn huy động ) được đầu tư vào các công ty con theo chiến lược
của công ty mẹ, đồng thời căn cư vào quy mô hoạt động của từng công ty con. Các
công ty con có trách nhiệm bảo toàn và phát triển vốn cũng như tự chịu trách nhiệm
về hiệu quả sử dụng vốn từ công ty tài chính lẫn vốn huy động được từ bên ngoài.
Cao Thị Thanh Tâm Tài chính Doanh nghiệp 48C

thuật ngữ chỉ việc Công ty tài chính tìm kiếm một khoản vốn vay cho chủ đầu tư để
tài trợ cho dự án đi vào hoạt động, trên cơ sở đó Công ty tài chính được hưởng phí
thu xếp vốn, do vậy hoạt động thu xếp vốn mang tính tín dụng chứ không mang tính
đầu tư. Bản chất tín dụng của hoạt động thu xếp vốn còn được thể hiện rõ hơn khi các
Công ty tài chính thực hiện hoạt động thu xếp vốn bằng hình thức đồng tài trợ hoặc
Cao Thị Thanh Tâm Tài chính Doanh nghiệp 48C
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa: Ngân hàng - tài chính
cấp tín dụng trực tiếp bằng nguồn vốn tự có hoặc nguồn vốn uỷ thác của Tổng công
ty hay các tổ chức tín dụng khác, khi này, quan hệ giữa Công ty tài chính và chủ đầu
tư dự án là quan hệ vay mượn trực tiếp, chủ đầu tư phải hoàn trả cả gốc và lãi cho
Công ty tài chính.
- Hoạt động thu xếp vốn là một loại hình dịch vụ tài chính: Bởi vậy mà
hoạt động thu xếp vốn mang tính vô hình, không ổn định và khó xác định chất lượng.
Một đặc điểm khác biệt giữa hoạt động thu xếp vốn và hoạt động cho vay đơn thuần
đó là thu nhập của hoạt động thu xếp vốn chủ yếu là từ phí, có một phần là tiền lãi
( nếu Công ty tài chính thực hiện thu xếp vốn bằng nguồn vốn tự có của mình ), trong
khi đó thu nhập của hoạt động cho vay phần lớn là từ tiền lãi. Phí của hoạt động thu
xếp vốn được hiểu là khoản tiền “trả công” cho Công ty tài chính khi Công ty tài
chính thực hiện các giao dịch để thu xếp vốn thành công cho các dự án của khách
hàng và các chi phí khác liên quan tới khoản vay trong quá trình giải ngân và thu nợ,
lãi.
- Hoạt động thu xếp vốn có đối tượng là các dự án trung và dài hạn, mức
độ rủi ro cao: là vì các dự án trung và dài hạn thường đòi hỏi tổng số vốn đầu tư ban
đầu lớn, vượt quá khả năng đáp ứng nhu cầu vốn của Công ty tài chính hoặc vượt quá
hạn mức vay mà Ngân hàng nhà nước cho phép. Do đó các dự án này cần một tổ
chức tài chính đứng ra dàn xếp vốn. Ngược lại, hoạt động thu xếp vốn không phù hợp
với các khoản vay ngắn hạn bởi những khoản vay ngắn hạn thường là các khoản vay
tài trợ cho tài sản lưu động, nhu cầu vốn vay không lớn mà các Công ty tài chính có
thể đáp ứng được mà không vi phạm tỷ lệ bảo đảm an toàn vốn tối thiểu mà Ngân
hàng Nhà nước quy định. Mặt khác, hoạt động thu xếp vốn cần nhiều thời gian để

chính có khả năng cho vay bao nhiêu và lãi suất cho vay như thế nào, vì điều này phụ
thuộc vào quy mô vốn điều lệ của Công ty tài chính và hạn mức tín dụng mà Ngân
hàng nhà nước quy định. Nếu Công ty tài chính bằng số vốn tự có của mình không
thể đáp ứng được nhu cầu vốn của khách hàng, sẽ phải tìm kiếm nguồn vốn từ bên
ngoài để có thể cung cấp đủ số vốn thu xếp theo yêu cầu của khách hàng.
Vốn tự có của Công ty tài chính bao gồm vốn cấp 1 và vốn cấp 2:
+ Vốn cấp 1: bao gồm vốn điều lệ, quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, quỹ dự
phòng tài chính, quỹ đầu tư phát triển nghiệp vụ và lợi nhuận không chia.
Cao Thị Thanh Tâm Tài chính Doanh nghiệp 48C
Nguồn vốn
huy động từ
các cá nhân,
tổ chức (
không bao
gồm TCTD)
Nguồn vốn tự
có của Công
ty tài chính
Nguồn vốn từ
các TCTD
trong và ngoài
nước
Công ty tài chính - Đầu mối thu xếp vốn
Dự án
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa: Ngân hàng - tài chính
+ Vốn cấp 2: bao gồm 50% phần giá trị tăng thêm của tài sản cố định được
định giá theo quy định của pháp luật; 48% phần giá trị tăng thêm của các loại chứng
khoán đầu tư ( kể cả cổ phiếu đầu tư, vốn góp ) được định giá lại theo quy định của
pháp luật; trái phiếu chuyển đổi hoặc cổ phiếu ưu đãi do TCTD phát hành thoả mãn
các điều kiện theo mục 1.2.c khoản 1 điều 3 của quyết định số 457/2005/QĐ-NHNN;

cho dự án dưới hình thức đồng tài trợ: Các TCTD thường lựa chọn hình thức này khi
tham gia hoạt động thu xếp vốn vì rủi ro phải gánh chịu được giảm thiểu.
Theo khoản 1 điều 2 của quyết định số 286/2002/QĐ-NHNN về việc ban hành
Quy chế đồng tài trợ của các TCTD có nêu rõ: “Việc đồng tài trợ của các TCTD là
quá trình tổ chức thực hiện việc cấp tín dụng của bên đồng tài trợ với sự tham gia của
2 hay nhiều tổ chức tín dụng do một tổ chức tín dụng làm đầu mối cho một hoặc một
phần dự án, phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, đầu tư phát triển và đời sống
( gọi tắt là dự án ).” Cũng theo khoản 4 điều 2 của quyết định 286, công ty tài chính
không được phép đứng ra với tư cách là đầu mối đồng tài trợ để thực hiện quản lý, tổ
chức đồng tài trợ và giải quyết các vấn đề phát sinh của các bên tài trợ. Khi có một
hợp đồng thu xếp vốn của khách hàng được thực hiện dưới hình thức đồng tài trợ,
công ty tài chính sẽ phải tổ chức mời chào các tổ chức tín dụng tham gia tài trợ và
nhờ một ngân hàng thương mại đứng ra làm đầu mối đồng tài trợ, có trách nhiệm dự
thảo hợp đồng đồng tài trợ, lấy ý kiên thống nhất của các thành viên tham gia đồng
tài trợ và chịu trách nhiệm đôn đốc các thành viên sử lý các vấn đề phát sinh khi thực
hiện thu xếp vốn ( theo khoản 3 điều 16 của quyết định 286). Đồng tài trợ được áp
dụng trong các trường hợp:
• Nhu cầu xin cấp tín dụng của để thực hiện dự án của bên nhận tài trợ
vượt giới hạn cho vay hoặc bảo lãnh của TCTD theo quy định hiện
hành.
• Khả năng tài chính và nguồn vốn của một TCTD không đáp ứng được
nhu cầu cấp tín dụng của dự án.
• Nhu cầu phân tán rủi ro của TCTD.
• Bên nhận tài trợ có nhu cầu huy động vốn từ nhiều TCTD khác nhau.
+ Ngoài 2 hình thức trên, Công ty tài chính có thể huy động vốn từ các TCTD
trong và ngoài nước thông qua việc phát hành cổ phiếu, trái phiếu...
Cao Thị Thanh Tâm Tài chính Doanh nghiệp 48C
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa: Ngân hàng - tài chính
1.2.4 Quy trình của hoạt động thu xếp vốn
Sơ đồ 2: Quy trình thu xếp vốn

CBTXV 5
Cao Thị Thanh Tâm Tài chính Doanh nghiệp 48C
Tiếp nhận hồ sơ đề nghị thu xếp
vốn của khách hàng
Kiểm
Kết
thúc
Hướng dẫn khách hàng hoàn thiện
hồ sơ
Thẩm định, lập báo cáo thẩm định
và đề xuất thu xếp vốn hoặc kết
thúc
Kiểm
Kết
thúc
Lập phương án thu xếp vốn cho Dự
án
Kiểm tra
Phê duyệt
Triển khai phương án thu xếp vốn
được duyệt
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa: Ngân hàng - tài chính
CBTXV 6
CBTXV
7
Giải thích nội dung các bước:
- Bước 1: Tiếp nhận hồ sơ đề nghị thu xếp vốn của khách hàng:
Cán bộ thu xếp vốn (CBTXV) có trách nhiệm tiếp cận hồ sơ đề nghị thu xếp
vốn của khách hàng, xem xét hồ sơ này. Bộ hồ sơ thu xếp vốn bao gồm các giấy tờ
quan trọng sau: Giấy đề nghị thu xếp vốn, hồ sơ pháp lý của khách hàng và hồ sơ dự

Lãnh đạo Phòng nghiệp vụ có trách nhiệm kiểm tra, thông qua và trình đề xuất
về việc thu xếp vốn cũng như các phương án thu xếp vốn đề xuất thực hiện.
Lãnh đạo Công ty là người đưa ra quyết định cuối cùng về việc có hay không
thực hiện dịch vụ thu xếp vốn cũng như ra quyết định phương án thu xếp vốn lựa
chọn thực hiện.
- Bước 5: Triển khai phương án thu xếp vốn được duyệt
Tổ nghiệp vụ dưới sự chỉ đạo của Lãnh đạo Phòng nghiệp vụ, chủ động thực
hiện phương án thu xếp vốn được phê duyệt, kịp thời báo cáo Lãnh đạo Công ty
những khó khăn, vướng mắc nảy sinh và đề xuất phương án khắc phục, giải quyết.
- Bước 6: Thu phí thu xếp vốn
+Trên cơ sở các hợp đồng đã ký kết và các giấy tờ có liên quan (khế ước nhận
nợ của Bên vay..) , Phòng nghiệp vụ có trách nhiệm tính Phí thu xếp vốn và lập Tờ
trình thu Phí xếp vốn (nêu rõ tiền, thời gian và phương thức thu phí) trình Lãnh đạo
Công ty quyết định.
+Trên cơ sở phê duyệt của Lãnh đạo Công ty về việc thu Phí xếp vốn., Phòng
kế toán tiến hành thu phí thu xếp vốn.
- Bước 7: Thanh lý hợp đồng thu xếp vốn
Sau khi kết thúc hợp đồng, cán bộ thu xếp vốn sẽ chuyển hồ sơ vào kho dự trữ
theo quy định hiện hành của Công ty.
1.2.5 Các chỉ tiêu đánh giá hoạt động thu xếp vốn
1.2.5.1 Các chỉ tiêu đánh giá quy mô hoạt động thu xếp vốn
- Số lượng dự án mà Công ty tài chính thực hiện thu xếp vốn ( bao gồm cả dự
án trong ngành và ngoài ngành )
- Tổng giá trị vốn được thu xếp
Để đánh giá chính xác hơn về quy mô hoạt động thu xếp vốn, nên kết hợp
đánh giá cả 2 chỉ tiêu trên, bởi nếu chỉ đánh giá riêng biệt từng chỉ tiêu sẽ không toàn
diện. Công ty có nhiều dự án được thu xếp vốn thành công nhưng giá trị thu xếp vốn
của từng dự án lại nhỏ thì quy mô hoạt động thu xếp vốn chưa phải là lớn, hoặc Công
Cao Thị Thanh Tâm Tài chính Doanh nghiệp 48C
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa: Ngân hàng - tài chính

- Số dự án thực hiện thu xếp thành công / Tổng số dự án được thực hiện thu
xếp vốn: Một dự án được coi là thu xếp vốn thành công khi giá trị thu xếp vốn được
thu xếp đúng như thoả thuận trong Hợp đồng thu xếp vốn. Khi tỷ lệ này càng cao thì
số dự án thực hiện thu xếp vốn thành công chiếm phần lớn trong tổng số các dự án
Cao Thị Thanh Tâm Tài chính Doanh nghiệp 48C
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa: Ngân hàng - tài chính
được thực hiện thu xếp vốn. Chỉ tiêu này đánh giá khá tốt hiệu quả hoạt động thu xếp
vốn.
- Phí thu xếp vốn cho các dự án trong ngành/ Phí thu xếp vốn cho toàn bộ các
dự án và phí thu xếp vốn cho các dự án ngoài ngành/ Phí thu xếp vốn cho toàn bộ các
dự án: 2 chỉ tiêu này cũng góp phần đánh giá hiệu quả hoạt động thu xếp vốn cho các
dự án trong ngành và ngoài ngành.
- Chất lượng thẩm định dự án: Vì hoạt động thu xếp vốn mang tính tín dụng
nên thẩm địng đóng vai trò rất quan trọng khi thực hiện thu xếp vốn. Kết quả thẩm
định sẽ quyết định việc Công ty tài chính có đồng ý thực hiện thu xếp vốn cho dự án
hay không. Như vậy, chất lượng thẩm định tốt, Công ty tài chính đã lựa chọn được
một dự án tốt, có tiềm năng dẫn đến khả năng thực hiện thu xếp vốn thành công cho
dự án là rất cao.
1.2.5.3 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng hoạt động thu xếp vốn
- Quyền lợi của bên nhận tài trợ và bên tài trợ của hoạt động thu xếp vốn: khi
đánh giá quyền lợi của hai bên nhận tài trợ và tài trợ của hoạt động thu xếp vốn có
thể cho biết chất lượng của hoạt động thu xếp vốn. Khi quyền lợi của cả hai bên được
đảm bảo tới mức tối ưu tức Công ty tài chính chịu trách nhiệm đến cùng với các dự
án của bên nhận tài trợ, luôn có những giải pháp xử lý thích hợp với những tình
huống nảy sinh trong quá trình thu xếp vốn cho khách hàng và luôn đảm bảo thu xếp
vốn đầy đủ, tiến trình giải ngân đúng tiến độ, không làm ảnh hưởng đến dự án, đồng
thời Công ty tài chính luôn đảm bảo cung cấp cho bên tài trợ đầy đủ, chính xác
những thông tin về dự án thì khi đó có thể thấy hoạt động thu xếp vốn đạt chất lượng
tốt.
- Quy trình hoạt động thu xếp vốn: Quy trình thu xếp vốn chặt chẽ là một quy

tiền sẽ xem xét số vốn tự có của công ty và số dư trong tài khoản của công ty tại ngân
hàng, nếu như không đủ để thu xếp vốn cho dự án thì sẽ kêu gọi đồng tài trợ hoặc
huy động thêm nguồn vốn uỷ thác cho vay; cán bộ phòng quản lý vốn uỷ thác sẽ khai
thác và tìm kiếm các nguồn tài trợ từ nguồn vốn ủy thác cho vay của các cá nhân, tổ
chức kinh tế và các tổ chức tín dụng, và các cán bộ phòng thẩm định sẽ thực hiện
khâu thẩm định dự án hoặc tái thẩm định... Như vậy, nếu chuyên môn của các cán bộ
khác không vững, sẽ ảnh hưởng tới khả năng tăng cường hoạt động thu xếp vốn. Chỉ
khi các cán bộ được đào tạo chuyên môn vững và có sự phối hợp chặt chẽ giữa các
phòng ban sẽ tác động tốt tới khả năng phát triển hoạt động thu xếp vốn.
- Khả năng Marketing của Công ty tài chính: Marketing giữ vai trò khá quan
trọng trong xu thế phát triển kinh tế hiện nay bởi Marketing là cầu nối giữa hoạt động
của công ty với thị trường, đảm bảo hoạt động của công ty hướng theo nhu cầu của
thị trường. Marketing còn đặc biệt quan trọng hơn nữa khi mà hoạt động thu xếp vốn
là một loại hình dịch vụ tài chính mới. Do đó, nếu các Công ty tài chính có chính
sách Marketing hiệu quả, sáng tạo thì không những bản thân Công ty có thể xác định
Cao Thị Thanh Tâm Tài chính Doanh nghiệp 48C
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa: Ngân hàng - tài chính
thị trường chính và thị trường tiềm năng cho hoạt động thu xếp vốn, hoàn thiện dịch
vụ theo hướng phù hợp với nhu cầu và xu thế phát triển của thị trường, đồng thời góp
phần quảng bá, khuyếch trương dịch vụ thu xếp vốn, kích thích khách hàng sử dụng
dịch vụ.
- Uy tín của Công ty tài chính trong hoạt động thu xếp vốn trên thị trường tài
chính: được biểu hiện bằng sự tin tưởng của các bên nhận tài trợ ( là khách hàng của
hoạt động thu xếp vốn ) và bên tài trợ chấp nhận cho Công ty tài chính trở thành đầu
mối thu xếp vốn. Để nâng cao được uy tín của mình đối với bên nhận tài trợ, các
Công ty tài chính buộc phải hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ thu xếp vốn cho khách
hàng khi đã kí kết hợp đồng, đồng thời chịu trách nhiệm đến cùng khi có các sự cố
xảy ra. Mặt khác, để đảm bảo uy tín của mình với bên tài trợ cho dự án, Công ty tài
chính phải đảm bảo theo dõi, giám sát chặt chẽ quá trình thu xếp vốn, giải ngân và
thu nợ, lãi; đồng thời đảm bảo việc sử dụng vốn đúng mục đích và có hiệu quả của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status