LUẬN VĂN: Phát triển cho vay cá nhân tại Tổng công ty tài chính cổ phần Dầu khí Việt Nam doc - Pdf 12



LUẬN VĂN:

Phát triển cho vay cá nhân tại
Tổng công ty tài chính cổ phần
Dầu khí Việt Nam
Lời nói đầu Trong những năm qua, nền kinh tế Việt Nam đang trên đà phát triển và hội
nhập với thế giới. Việc hội nhập với nền kinh tế thế giới và khu vực của Việt Nam
đạt được nhiều thành tựu đáng khích lệ, khuyến khích các nhà đầu tư trong và ngoài
nước tìm kiếm các lĩnh vực đầu tư hiệu quả, trong đó có mô hình hoạt động của công
ty tài chính. Bên cạnh đó, nhiều tập đoàn, tổng công ty và doanh nghiệp lớn của Việt
Nam đã không ngừng phát triển, do vậy cần có riêng công ty tài chính để phục vụ
nhu cầu và đáp ứng nhu cầu hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như tạo công cụ tài
chính lớn để đầu tư ra ngoài tổng công ty, tập đoàn. Công ty tài chính không những
đã đóng góp một phần không nhỏ vào sự tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ của Việt Nam
trong những năm qua mà còn giúp cải thiện đáng kể đời sống của người dân. Trong
đó, Tổng công ty Tài chính cổ phần Dầu khí Việt Nam, một đơn vị thành viên trong
Tập đoàn Dầu khí quốc gia là một trong những công ty tài chính đầu tiên của Việt


Chương 1 : Cơ sở lý luận về cho vay cá nhân
tại công ty tài chính

1.1 Hoạt động cho vay của công ty tài chính
1.1.1 Khái quát về công ty tài chính
Sự ra đời và phát triển của Công ty Tài chính gắn liền với sự phát triển mạnh
mẽ của nền kinh tế thị trường, sự tiến bộ của khoa học công nghệ và các nhu cầu đa
dạng của con người về các dịch vụ tài chính. Những năm đầu thế kỷ XX, các trung
gian tài chính phi Ngân hàng trong đó có các Công ty Tài chính, được hình thành trên
cơ sở chuyên môn hóa một số hoạt động của Ngân hàng thương mại và tạo nên sự đa
dạng hóa các tổ chức tài chính trong nền kinh tế thị trường. Cho đến thập kỷ 70 có ba

tổ chức tín dụng thành lập bằng vốn tự có của mình và làm chủ sở hữu theo quy
định của pháp luật, hạch toán độc lập và có tư cách pháp nhân.
 Công ty Tài chính liên doanh : là Công ty Tài chính được thành lập bằng vốn
góp giữa bên Việt Nam gồm một hoặc nhiều tổ chức tín dụng, doanh nghiệp
Việt Nam và bên nước ngoài gồm một hoặc nhiều tổ chức tín dụng nước
ngoài, trên cơ sở hợp đồng liên doanh.
 Công ty Tài chính 100% vốn nước ngoài : là Công ty Tài chính được thành lập
bằng vốn của một hoặc của nhiều tổ chức tín dụng nước ngoài theo quy định
của pháp luật Việt Nam.
1.1.2 Họat động cho vay của công ty tài chính
1.1.2.1 Khái niệm
Cho vay là việc công ty tài chính đưa tiền cho khách hàng với cam kết khách
hàng phải hoàn trả cả gốc và lãi trong khoảng thời gian xác định.
Theo quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng do Thống đốc
NHNN Việt Nam ban hành “Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, trong đó tổ chức
tín dụng giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và trong một
khoảng thời gian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.”
1.1.2.2 Các hình thức phân loại cho vay
 Căn cứ theo thời hạn cho vay : cho vay được chia làm 3 loại bao gồm cho vay
ngắn hạn, cho vay trung hạn và cho vay dài hạn.
- Cho vay ngắn hạn : là các khoản vay có thời hạn đến 12 tháng và được sử
dụng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp hay các nhu
cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân.
- Cho vay trung hạn là các khoản vay có thời hạn từ 12 tháng đến 60 tháng và

thường của đời sống hoặc nhu cầu kinh doanh, đầu tư.
 Căn cứ vào nguồn gốc của khoản vay : gồm 2 loại
- Cho vay trực tiếp : là hình thức cho vay trong đó tổ chức tín dụng cấp vốn trực
tiếp cho người có nhu cầu, đồng thời người đi vay trực tiếp hoàn trả nợ vay
cho tổ chức. -
-
- Cho vay gián tiếp : là khoản cho vay được thực hiện thông qua việc mua lại
các khế ước hoặc chứng từ nợ đã phát sinh và còn trong thời hạn thanh toán.
Mô hình cho vay gián tiếp được thực hiện như sau:

1.2 Cho vay cá nhân của công ty tài chính
1.2.1 Khái niệm cho vay cá nhân
Công ty tài chính
Khách hàng
nhận vốn vay
Người thanh
toán nợ
Công ty tài chính Khách hàng
Cơ sở cho vay cá nhân
Cách đây 20-25 năm, khái niệm về cho vay cá nhân còn khá mới đối với các
tổ chức tín dụng Việt Nam cũng như với các tầng lớp dân cư. Nhưng chỉ trong một
vài năm gần đây, hoạt động cho vay cá nhân đã trở thành mục tiêu của nhiều tổ chức
tín dụng.
Cho vay cá nhân được bắt đầu từ yêu cầu đẩy mạnh tiêu thụ hàng hóa của các

Cho vay cá nhân có 8 đặc điểm chính
Thứ nhất là đối tượng của khoản cho vay
Mỗi sản phẩm dịch vụ mà công ty tài chính đưa ra đều xác định cho mình một
đối tượng khách hàng cần hướng tới để có thể phục vụ tốt nhất cho nhu cầu của
khách hàng. Tương tự, đối tượng vay của các khoản cho vay cá nhân là người dân và
hộ gia đình. Họ đi vay để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, mua sắm của bản thân và gia
đình, có thể là mua nhà, ô tô, đồ nội thất, hoặc đi du học, đi du lịch và cũng có thể họ
đi vay phục vụ cho việc kinh doanh.
Thứ hai là nhu cầu vay của khách hàng thường phụ thuộc vào chu kỳ nền kinh
tế
Nhu cầu vay của khách hàng không chỉ phụ thuộc vào tình hình tài chính của
họ mà còn phụ thuộc vào tình hình kinh tế trong những giai đoạn cụ thể. Khác với
cho vay sản xuất kinh doanh, nhu cầu vay luôn cần thiết bất kể nền kinh tế đang ở
trạng thái nào (Khi nền kinh tế tăng trưởng, các doanh nghiệp cần thiết vay để đầu tư,
khi nền kinh tế suy thoái, các doanh nghiệp, nhà sản xuất cần vay để ổn định, phục
hồi sản xuất kinh doanh). Trong khi đó, đối với cho vay cá nhân, khi nền kinh tế tăng
trưởng, sản xuất mở rộng, tỷ lệ thất nghiệp giảm, thu nhập của người dân tăng lên,
đời sống được cải thiện, người dân cảm thấy lạc quan về tương lai, nhu cầu mua sắm
hàng hoá nhờ đó tăng lên, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động cho vay cá nhân phát
triển. Ngược lại, khi nền kinh tế rơi vào suy thoái, khủng hoảng, sản xuất trì trệ nhất
là khi tình trạng thất nghiệp tăng lên làm cho thu nhập và mức sống dân cư giảm sút,
nhu cầu chi tiêu cũng giảm theo, dẫn đến cho vay cá nhân bị thu hẹp. Như vậy cho
vay cá nhân có tính nhạy cảm theo chu kỳ nền kinh tế.
Thứ ba là cho vay cá nhân chưa có lãi suất linh hoạt
Khi hách hàng đi vay, họ thường ít nhạy cảm với lãi suất, họ thường chỉ quan
tâm đến khoản tiền phải trả hàng tháng hơn là mức lãi suất ghi trong hợp đồng. Do
đó, khác với hầu hết các khoản cho vay kinh doanh được điều chỉnh lãi suất theo lãi

Các khoản cho vay cá nhân là những khoản cho vay mang lại nhiều rủi ro cho
công ty tài chính. Thứ nhất, lãi suất áp dụng đối với cho vay cá nhân là lãi suất ít thay
đổi trong khi những khoản cho vay kinh doanh hiện nay thường áp dụng lãi suất thay
đổi theo điều kiện thị trường. Chính vì vậy, một khi có sự tăng lên trong lãi suất huy
động vốn thì công ty tài chính sẽ gặp rủi ro lãi suất trong cho vay cá nhân. Thứ hai,
nguồn trả nợ của khách hàng cho khoản vay cá nhân phụ thuộc vào thu nhập của họ
nên nếu khách hàng bị ốm, chết hoặc mất việc thì công ty tài chính sẽ rất khó thu
được nợ.
Thứ bảy là cho vay cá nhân đem lại khả năng sinh lời cao
Do chi phí và rủi ro của khoản cho vay cá nhân là lớn nên hầu hết cho vay cá
nhân của công ty tài chính thường áp dụng lãi suất cao. Vì vậy, cho vay cá nhân luôn
được các công ty tài chính đánh giá là khoản mục có khả năng sinh lời cao.
Thứ tám là hầu hết các khoản cho vay cá nhân là trung và dài hạn
Có thể thấy rằng, cho vay cá nhân phục vụ chủ yếu cho nhu cầu tiêu dùng của
các cá nhân và hộ gia đình như: mua, xây dựng, sửa chữa nhà, mua sắm vật dụng gia
đình, đi du lịch, đi học. Việc trả nợ các khoản vay cá nhân này phụ thuộc vào tình
hình tài chính của khách hàng, đó là mức thu nhập ổn định (chủ yếu là tiền lương).
Hàng tháng khách hàng còn phải trang trải cuộc sống nên số tiền mà họ dành dụm để
trả nợ không nhiều. Vì vậy, khách hàng cần một khoảng thời gian đáng kể mới có thể
hoàn trả đầy đủ cả gốc và lãi của khoản vay. Chẳng hạn, có những khoản vay mua
sắm đồ nội thất có thời hạn từ 12-24 tháng, và những khoản vay mua nhà, thời hạn
lên đến 15 năm.
1.3 Phát triển cho vay cá nhân của công ty tài chính
1.3.1 Khái niệm
Phát triển cho vay cá nhân là các biện pháp và hoạt động của công ty tài chính
nhằm gia tăng quy mô, khối lượng và số lượng các khoản cho vay cá nhân. Cho vay
cá nhân sẽ tăng lên về doanh số cho vay cũng như tỷ lệ cho vay so với tổng doanh số
cho vay của công ty. trăm giữa sự tăng trưởng tuyệt đối về doanh thu với doanh thu hoạt động cho vay cá
nhân năm trước.
Doanh số cho vay
Doanh số cho vay được tính bằng cách cộng dồn các khoản cho vay trong một
kỳ kế toán, đó là tổng số tiền mà công ty đã cho vay trong kỳ. Chỉ tiêu này phản ánh
lượng vốn mà công ty đã giải ngân cho các cá nhân. Nó thể hiện xu hướng hoạt động
cho vay của doanh nghiệp mở rộng hay thu hẹp. Tuy nhiên, con số này chỉ phản ánh
chủ yếu về mặt lượng trong hoạt động cho vay của công ty. Nếu doanh số cho vay
năm sau cao hơn năm trước thì hoạt động cho vay của công ty được phát triển hơn.
Sự tăng trưởng doanh số cho vay tuyệt đối được tính bằng hiệu số giữa doanh
số cho vay của công ty trong năm nay với doanh số cho vay của công ty trong năm
trước. Chỉ tiêu này cho biết sự tăng trưởng về lượng trong doanh số cho vay là bao
nhiêu. Sự tăng trưởng doanh số cho vay tương đối được tính bằng tỷ lệ phần trăm
giữa sự tăng trưởng doanh số cho vay tuyệt đối với doanh số cho vay trong năm
trước. Chỉ tiêu này cho biết tốc độ tăng trưởng của doanh số cho vay hàng năm.
Doanh số thu nợ
Doanh số thu nợ được tính bằng cách cộng dồn các khoản thu nợ trong một kỳ
kế toán. Chỉ tiêu này phản ánh lượng vốn mà công ty tài chính cho cá nhân vay đã
được đòi lại bao nhiêu.
Sự tăng trưởng doanh số thu nợ bao gồm sự tăng trưởng tuyệt đối và sự tăng
trưởng tương đối. Sự tăng trưởng doanh số thu nợ tuyệt đối được tính bằng hiệu
doanh số thu nợ năm nay và doanh số thu nợ năm trước. Sự tăng trưởng doanh số thu
nợ tương đối được tính bằng tỷ lệ phần trăm giữa sự tăng trưởng doanh số thu nợ
tuyệt đối với doanh số thu nợ năm trước.
Dư nợ cho vay
Dư nợ cho vay phản ánh số tiền mà khách hàng đang nợ tại một thời điểm
nhất định. Dư nợ cho vay được xác định dựa trên số tiền đang cho vay cuối kỳ trên
bảng cân đối kế toán của công ty.

cá nhân của công ty đang được vận hành rất tốt.
Tỷ trọng cho vay cá nhân trong tổng dư nợ cho vay
Chỉ tiêu này cho chúng ta thấy được các khoản cho vay cá nhân chiếm bao
nhiều phần trăm trong tổng số cho vay của công ty. Chỉ tiêu này lớn có nghĩa là công
ty có thế mạnh trong hoạt động cho vay cá nhân. Đồng thời, nó còn thể hiện rằng đối
tượng khách hàng mà công ty đang hướng tới là các cá nhân và hộ gia đình. Ngược
lại, nếu chỉ tiêu này nhỏ thì nó cho thấy rằng tiềm lực trong cho vay cá nhân của ngân
hàng là thấp, hoặc có thể các khoản cho vay cá nhân không nằm trong chính sách cho
vay của công ty. Tại những công ty như vậy, có thể đối tượng khách hàng mà họ
hướng tới là những người đến vay nhằm mục đích kinh doanh.
Tỷ trọng về lợi nhuận cho vay cá nhân trong tổng lợi nhuận cho vay
Nhìn vào chỉ tiêu này, chúng ta thấy được kết quả kinh doanh của hoạt động
cho vay cá nhân mà công ty đang triển khai. Nếu chỉ tiêu này lớn và đang tăng lên
một cách ổn định thì tức là cho vay tiêu dùng hiện là một hoạt động trọng tâm của
công ty, đồng thời kết quả do hoạt động này đem lại là rất khả quan. Các cá nhân và
hộ gia đình là những đối tượng khách hàng quan trọng mà công ty đang hướng tới.
Còn nếu chỉ tiêu này thấp, có nghĩa là công ty không chú trọng nhiều đến hoạt động
cho vay cá nhân.
1.4 Nhân tố ảnh hưởng tới cho vay cá nhân
1.4.1 Nhân tố chủ quan
1.4.1.1 Chính sách cho vay cá nhân
Cho vay cá nhân là một lĩnh vực khá mới đối với các công ty tài chính. Mặc
dù đây là một thị trường tiềm năng nhưng nó lại chứa đựng nhiều rủi ro. Vì vậy mỗi
công ty tài chính đều xây dựng một chính sách cho vay cá nhân sao cho phù hợp với

bộ nhân viên yếu, đạo đức không tốt. Do vậy, năng lực cán bộ nhân viên là một trong
những yếu tố quan trọng quyết định đến việc phát triển hoạt động cho vay, đặc biệt là
cho vay cá nhân.
1.4.1.3 Quy trình và thủ tục cho vay
Quy trình và thủ tục cho vay bao gồm các bước và yêu cầu khách hàng phải
đáp ứng để được xem xét cho vay, thời gian và cách thức mà công ty tài chính giải
quyết các khoản vay đó.
Đây là yếu tố tác động trực tiếp tới hoạt động cho vay cá nhân, nó quyết định
đến việc công ty tài chính có thu hút được nhiều hợp đồng cho vay không. Bởi vì,
nếu quy trình và thủ tục cho vay quá phức tạp, rườm rà qua nhiều bước, làm mất quá
nhiều thời gian dẫn đến khách hàng sẽ cảm thấy bất tiện và không hài lòng. Tuy
nhiên nếu quy trình và thủ tục quá lỏng lẻo, sơ sài, nhất là trong quá trình kiểm tra,
thẩm định để tiến hành cho vay khiến cho công ty không thể nắm đầy đủ thông tin về
khách hàng, dẫn tới công ty sẽ gặp rủi ro mất vốn cũng như khả năng không hoàn trả
vốn vay không đúng hạn. Chính vì vậy, công ty tài chính phải xây dựng được cho
mình một quy trình và thủ tục cho vay gọn nhẹ linh hoạt nhưng phải chặt chẽ sao cho
khách hàng cảm thấy thoải mái trong suốt quá trình sử dụng dịch vụ tại công ty đồng
thời công ty không bỏ lỡ đi cơ hội kinh doanh của mình và hạn chế những rủi ro đáng
tiếc.
1.4.1.4 Hoạt động marketing
Trong nền kinh tế thị trường, quảng cáo và tiếp thị được coi là có một vị trí
quan trọng trong việc kinh doanh nói chung và các sản phẩm dịch vụ của công ty tài
chính nói riêng. Trong tình hình hiện nay khi ngày càng nhiều ngân hàng và công ty
tài chính mới được thành lập, các ngân hàng nước ngoài cũng sắp gia nhập thị
trường, hoạt động marketing càng trở nên cần thiết hơn bao giờ hết. Marketing không
chỉ đơn giản là quảng cáo. Nó là tổng hợp của tất cả các hoạt động nhằm hướng sự
chú ý của người tiêu dùng tới sản phẩm của công ty, bao gồm cả hoạt động quảng

1.4.2 Nhân tố khách quan
1.4.2.1 Môi trường kinh tế, văn hóa, xã hội
Môi trường kinh tế có tác động đến sự phát triển của hoạt động cho vay cá
nhân. Nó phục thuộc vào chu kỳ của nền kinh tế. Khi nền kinh tế tăng trưởng và phát
triển thì nhu cầu của mỗi cá nhân cũng tăng lên vì thế đây là cơ hội tốt cho công ty tài
chính phát triển cho vay cá nhân. Ngược lại khi nền kinh tế trì trệ gây mất lòng tin
nghiêm trọng của người dân thì họ có xu hướng tích lũy, tiết kiệm hơn do đó làm ảnh
hưởng tới hoạt động cho vay của công ty.
Môi trường văn hóa xã hội cũng tác động đáng kể đến cho vay cá nhân. Môi
trường văn hóa xã hội thể hiện ở các tập quán xã hội, tâm lý tiêu dùng giữa các vùng
và văn hóa cộng đồng, trình độ dân trí…Những người có thu nhập cao và học vấn
cao thường có xu hướng tiêu dùng nhiều.Người dân sống ở khu vực thành thị cũng có
thói quen tiêu dùng nhiều cho cuộc sống hiện tại của họ.Vì vậy đây là những yếu tố
thúc đẩy sự phát triển cho vay cá nhân.
1.4.2.2 Môi trường pháp lý
Tất cả các hoạt động trong xã hội cũng như các cá nhân hay tổ chức đều chịu
sự chi phối của hệ thống pháp luật. Đặc biệt là lĩnh vực kinh doanh ngân hàng – tài
chính là một trong những ngành kinh doanh luôn được đặt dưới một hệ thống quy
định chặt chẽ. Bởi vì ngân hàng – tài chính là lĩnh vực nhạy cảm là mạch máu của
nền kinh tế. Khủng hoảng trong hoạt động ngân hàng tài chính sẽ gây ra sự suy giảm
trầm trọng và có tác động tới toàn bộ nền kinh tế. Hoạt động ngân hàng tài chính luôn
được đặt dưới sự kiểm soát của Ngân hàng Nhà nước và chịu sự chi phối bởi các qui
định cũng như các chính sách mà ngân hàng nhà nước ban hành cũng như chịu sự chi
phối của Luật các tổ chức tín dụng và các cơ quan cấp cao.
Một khuôn khổ pháp luật được tạo ra giúp cho hoạt động cho vay diễn ra suôn
sẻ an toàn và hiệu quả. Chính vì thế môi trường pháp lý ổn định sẽ tạo điều kiện cho
sự phát triển của hoạt động cho vay cá nhân.

động kinh doanh của công ty nói chung và hoạt động cho vay cá nhân nói riêng. Nó
thường phụ thuộc vào thu nhập của khách hàng. Chính vì vậy, các công ty tài chính
cần hiểu rõ từng nhu cầu của mỗi cá nhân và khả năng tài chính của họ để tiến hành
phân đoạn thị trường một cách hiệu quả, từ đó đưa ra chính sách phát triển hoạt động
cho vay cá nhân một cách hợp lý.
Chương 2 : Thực trạng phát triển cho vay cá nhân
tại tổng công ty Tài chính cổ phần Dầu khí Việt Nam

2.1 Khái quát về PVFC
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Tổng công ty Tài chính
Cổ phần Dầu khí Việt Nam (PVFC)
Tổng Công ty Tài chính Cổ phần Dầu khí Việt Nam (PVFC) tiền thân là Công
ty Tài chính Dầu khí, là một tổ chức tín dụng phi ngân hàng, được thành lập ngày
30/3/2000 theo Quyết định số 04/2000/QĐ/VPCP do Chủ nhiệm Văn phòng Chính
phủ ký.
Ngày 1/10/2000 Công ty Tài chính dầu khí chính thức đặt trụ sở hoạt động
đầu tiên tại 34B Hàn Thuyên – Hà Nội. Công ty bắt đầu hoạt động từ ngày 01 tháng
12 năm 2000 theo Giấy phép hoạt động số 12/GP-NHNN ngày 25/10/2000 của
NHNN Việt Nam ban hành kèm theo Quyết định 456/2000/QĐ-NHNN ngày 25/10/
2000 của Thống đốc NHNN và Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 113108
ngày 23/8/2000 do Sở kế hoạch và Đầu tư Hà Nội cấp.
Năm 2002, PVFC khai trương hoạt động phòng giao dịch chứng khoán BSC
– PVFC và khai trương website Công ty tại địa chỉ: .
Năm 2003, thực hiện chủ trương xây dựng Tập đoàn Dầu khí Việt Nam thành

2.1.2 Cơ cấu tổ chức của PVFC
PVFC là một công ty có quy mô lớn với vốn điều lệ 5000 tỷ đồng, trên 1000
lao động nên mô hình cơ cấu bộ máy mà PVFC lựa chọn là mô hình cơ cấu bộ máy
hỗn hợp.
Mô hình trực tuyến chức năng với cấp quản trị cao nhất là Hội đồng Quản trị
(HĐQT), Ban Tổng Giám đốc (BTGĐ), trưởng các đơn vị trực thuộc BTGĐ, trưởng
các phòng, ban chức năng thuộc các đơn vị trực thuộc Tổng Công ty (TCT), các chi
nhánh và văn phòng đại diện. Với các phòng ban chức năng như phòng Kế toán,
Phòng Hành chính quản trị, Phòng Tổ chức nhân sự và tiền lương, phòng Kế hoạch,
phòng Kiểm tra kiểm soát độc lập, phòng Thẩm định độc lập, phòng Thị trường và
phát triển sản phẩm.
Mô hình cũng kết hợp với cơ cấu bộ phận theo sản xuất như hình thành các
ban ở khối kinh doanh như ban Đầu tư, ban Thu xếp vốn và tín dụng doanh nghiệp,
ban Dịch vụ tài chính doanh nghiệp, ban Quản lý dòng tiền.Mô hình cũng kết cấu
theo địa dư như thành lập các chi nhánh và các văn phòng đại diện tại nhiều tỉnh,
thành nhằm phát triển khách hàng các tỉnh thành trên cả nước.
Các công ty thành viên của PVFC: Công ty Cổ phần Đầu tư và Tư vấn Tài
chính Dầu khí với vốn điều lệ: 500 tỷ đồng, PVFC góp 49% vốn điều lệ; Công ty Cổ
phần Bất động sản Tài chính Dầu khí, vốn điều lệ: 500 tỷ đồng PVFC góp 49% vốn
điều lệ; Công ty Cổ phần Quản lý Quỹ đầu tư Tài chính Dầu khí, vốn điều lệ: 100 tỷ
đồng. PVFC góp 11% vốn điều lệ.

chi nhánh
tp.hcm
chi nhánh
thăng long
PGDTT
quận 1
PGD
18
chi nhánh
sài gòn
chi nhánh
hải phòng
PGD
20

PGD
60
chi nhánh
cần thơ
chi nhánh
nam định

PGD

90
PGD

80
CáC CÔNG TY
LIÊN KếT

hình kinh doanh của PVFC tăng mạnh qua các năm. Bảng số liệu trên phản ánh quy
mô và tốc độ tăng trưởng tương đối nhanh cả về kết quả hoạt động sản xuất kinh
doanh, quy mô về vốn, tài sản, lợi nhuận và doanh thu tăng nhanh. Năm 2007, đánh
dấu sự tăng trưởng vượt bậc của PVFC về cả doanh thu và lợi nhuận. Hầu hết các
hoạt động kinh doanh của PVFC đều có mức tăng trưởng cao, trong đó, thu từ lãi
tiền gửi tăng 143%, thu từ hoạt động tín dụng tăng 180%, đặc biệt thu từ hoạt động
kinh doanh chứng khoán đã tăng từ 44,8 tỷ năm 2006 lên 665,8 tỷ năm 2007 kéo
theo lợi nhuận từ hoạt động này tăng 881,4%, trở thành hoạt động có lãi thứ hai của
PVFC trong năm 2007 sau hoạt động tín dụng. Nguyên nhân là do PVFC đã tăng
vốn điều lệ thêm 2.000 tỷ trong năm 2007 và tăng cường các nguồn vốn huy động
từ hoạt động tín dụng.
Nhưng tới năm 2008, hoạt động của PVFC cũng giống như các đơn vị khác
trong lĩnh vực tài chính gặp rất nhiều khó khăn do tác động của cuộc khủng hoảng
tài chính toàn cầu. Tuy nhiên, PVFC đã đạt được kết quả đáng phấn khởi : doanh
thu đạt 4.468 tỷ đồng, trong đó, hoạt động tín dụng là điểm sáng nhất, với tỷ trọng
46% tổng doanh thu; hoạt động liên ngân hàng 27%; hoạt động đầu tư 13%; hoạt
động khác 14% đồng thời bảo toàn nguồn vốn; quỹ dự phòng đạt trên 2.143 tỷ

Trích đoạn Định hướng cho vay cỏ nhõn của PVFC trong thời gian tới Đẩy mạnh hoạt động marketing Hiện đại húa cụng nghệ thụng tin Phỏt triển số lượng khỏch hàng Kiến nghị với NHNN
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status