MỤC LỤC
STT ................................................................................................................................... 47
1
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt
TKV Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam
CBA Phân tích chi phí lợi ích.
NPV Giá trị hiện tại ròng.
BCR Tỷ suất lợi nhuận.
IRR Tỷ lệ hoàn vốn nội bộ.
TCCP Tiêu chuẩn cho phép.
TCVN Tiêu chuẩn Việt Nam.
WHO Tổ chức y tế thế giới.
TTNT Tài nguyên môi trường.
TTHN Trách nhiệm hữu hạn.
KHCN Khoa học công nghệ
2
DANH MỤC BẢNG BIỂU
STT Tên bảng Trang
Bảng 1.1 Các chỉ tiêu đánh giá của phương pháp CBA 27
Bảng 2.1. Chất lượng nước thải moong khai thác mỏ than Na Dương 52
Bảng 3.1. Khái toán chi phí xây dựng 59
Bảng 3.2. Khái toán chi phí thiết bị. 61
Bảng 3.3. Chi phí quản lý dự án, chi phí đầu tư. 63
Bảng 3.4. Bảng chi phí ban đầu 65
Bảng 3.5. Chi phí vận hành 65
Bảng 3.6. Chi phí của dự án 67
Bảng 3.7. Lợi ích của dự án trong 1 năm 68
Bảng 3.8. Danh mục các lợi ích chưa lượng hóa được 69
Bảng 3.9. Lợi ích và chi phí của dự án. 69
Bảng 3.10. Kết quả tính toán các chỉ tiêu 70
toán một nhà máy nhiệt điện chạy than công suất 1.000 MW hàng năm thải ra môi
trường 5 triệu tấn CO
2
, 18.000 tấn N0
X
, 11.000 - 680.000 tấn phế thải rắn. Trong
thành phần chất thải rắn, bụi, nước thải thường chứa kim loại nặng và chất phóng xạ
độc hại. Hoạt động khai thác than nếu không đi cùng với các biện pháp bảo vệ môi
trường sẽ dẫn đến ô nhiễm, suy thoái môi trường, cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên. Ô
nhiễm môi trường sẽ tác động trực tiếp đến sức khỏe con người, làm suy thoái các hệ
sinh thái.
1. Mục đích nghiên cứu.
Rõ ràng, việc xử lý nước thải mỏ trong hoạt động khai thác than là rất cần
thiết. Tuy nhiên, trên thực tế, ô nhiễm nước thải mỏ vẫn đang là một vấn đề đang ở
mức cảnh báo. Các trạm xử lý nước thải mỏ chưa đáp ứng được nhu cầu xử lý, hiệu
quả vận hành chưa cao. Các nhà đầu tư, khai thác than có khi còn chưa chú trọng một
cách nghiêm túc vấn đề xử lý nước thải mỏ. Thực tế là, môi trường đất, nước, sinh
5
vật, sức khỏe con người… đang ngày càng bị ô nhiễm nặng nề do tác động của nước
thải mỏ, gây ra những hậu quả đáng tiếc về mặt kinh tế, xã hội và môi trường trong
hoạt động khai thác than. Thông qua những kiến thức đã được học cùng với những
kiến thức thu nhận được từ đợt thực tập tại Viện KHCN Mỏ - TKV, tôi chọn đề tài “
đánh giá hiệu quả của dự án trạm xử lý nước thải mỏ than Na Dương”, nhằm mục
đích nêu lên được thực trạng ô nhiễm môi trường nói chung, cũng như tác động của ô
nhiễm nước thải mỏ do hoạt động khai thác than gây ra. Thông qua đánh giá hiệu
quả kinh tế, xã hội và môi trường của việc xây dựng nhà máy nước thải Na Dương để
có những ý kiến đề xuất cho việc xây dựng trạm xử lý nước thải cho hoạt động khai
thác than tại mỏ Na Dương nói riêng và lĩnh vực khai thác than nói chung.
2. Phạm vi nghiên cứu.
Đề tài chọn dự án đầu tư trạm xử lý nước thải mỏ than Na Dương, do Công ty
Chương 1: Tổng quan về đánh giá hiệu quả của các dự án đầu tư cho môi trường.
Chương 2: Tác động môi trường của hoạt động khai thác than và hiện trạngô nhiễm
nước của hoạt động khai thác than tại mỏ Na Dương- Lạng Sơn.
Chương 3: Đánh giá hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường của dự án xây dựng trạm
xử lý nước thải mỏ Na Dương.
Chương 1. TỔNG QUAN VỀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA DỰ ÁN ĐẦU
TƯ CHO MÔI TRƯỜNG.
1.1. Đánh giá hiệu quả của dự án đầu tư và hiệu quả của dự án đầu tư.
1.1.1. Khái niệm dự án đầu tư.
Hiện nay, có nhiều định nghĩa khác nhau về dự án đầu tư, chẳng hạn, ngân
hàng thế giới (WB) định nghĩa dự án đầu tư là tổng thể các chính sách hoạt động
7
và chi phí liên quan với nhau được hoạch định nhằm đạt được những mục tiêu
nhất định trong thời gian nhất định.
Theo quan điểm của Tổ chức phát triển công nghiệp của Liên Hợp
Quốc( UNIDO) thì dự án đầu tư là một đề nghị đầu tư để tạo ra, mở rộng hoặc
phát triển những năng lực nhất định nhằm tăng sản lượng hàng hoá hoặc dịch vụ
tại mộtcộng đồng trong một thời kỳ nhất định.
Có nhiều quan điểm cho rằng, dự án đầu tư phải nhằm vào việc sử dụng có hiệu
quả các yếu tố đầu vào để thu được đầu ra phù hợp với những mục tiêu đã định.
Trong các dự án đầu tư, đầu vào là lao động, nguyên, vật liệu, nhiên liệu, đất đai,
vốn… có thể gọi chung là tài nguyên; đầu ra là các sản phẩm, dịch vụ hoặc nâng
cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ hoặc là sự giảm bớt đầu vào. Sử dụng đầu vào
được hiểu là tổ hợp các giải pháp công nghệ, biện pháp công nghệ, biện pháp tổ
chức quản trị và các chính sách.
Như vậy, theo cách hiểu này thì có thể xem dự án đầu tư là tổng thể các
giải pháp nhằm sử dụng các nguồn tài nguyên hữu hạn hiện có để tạo ra những lợi
ích thiết thực cho nhà đầu tư và xã hội.
1.1.2. Hiệu quả của dự án đầu tư.
Hiệu quả đầu tư là khái niệm dùng để chỉ kết quả so sánh giữa lợi ích đầu tư
Phân loại hiệu quả: Theo cách phân loại chi phí và lợi ích như trên, hiệu quả
của dự án đầu tư có thể phân loại theo các tiêu chí sau:
- Hiệu quả trực tiếp và hiệu quả gián tiếp.
- Hiệu quả tài chính và hiệu quả kinh tế- xã hội.
- Hiệu quả trước mắt và hiệu quả lâu dài.
- Hiệu quả doanh nghiệp, hiệu quả vùng lãnh thổ, hiệu quả quốc gia.
1.1.3. Dự án đầu tư cho môi trường và hiệu quả của dự án đầu tư cho môi
trường.
1.1.3.1. Khái niệm dự án môi trường.
Dự án đầu tư : là tập hợp những đề xuất về việc bỏ vốn để tạo mới mở rộng
hoặc cải tạo các đối tượng nhất định nhằm đạt được tăng trưởng về số lượng, cải tiến
hoặc nâng cao chất lượng của sản phẩm hay dịch vụ nào đó trong một khoảng thời
gian nhất định.
9
Dự án đầu tư cho môi trường : là tập hợp những đề xuất về việc bỏ vốn nhằm
cải tạo môi trường, khắc phục hoặc hạn chế những tác động của hoạt động phát triển
đến môi trường tự nhiên và môi trường xã hội.
Mục tiêu cuối cùng của bất kỳ dự án nào cũng là lợi nhuận. Đối với dự án đầu tư
thông thường, lợi nhuận thu được từ việc bỏ vốn đầu tư cho một quá trình sản xuất
kinh doanh hàng hoá dịch vụ. Đối với dự án môi trường lợi ích thu được từ việc đầu
tư để bảo vệ môi trường ( hoặc cải thiện môi trường ), thông thường những lợi ích
này khó định lượng bằng tiền.
1.1.3.2. Hiệu quả tài chính, kinh tế - xã hội, môi trường của dự án.
a. Hiệu quả tài chính :
Hiệu quả tài chính, hay còn gọi là hiệu quả thương mại của dự án được xác định trên
giác độ doanh nghiệp. Đây là bước đầu tiên trong phân tích hiệu quả của một dự án.
Nó đề cập đến việc đánh giá tính khả thi của dự án từ góc độ kết quả tài chính. Bởi
vậy, thu nhập và chi phí của dự án được tính bằng tiền theo giá trị thị trường thực tế.
Nội dung phân tích hiệu quả thương mại của dự án đầu tư gồm có:
- Phân tích hiệu quả vốn đầu tư.
+
p
t
FtD
0
)(
Trong đó: t – các năm trong đời dự án được ký hiệu từ 1 đến n.
p – thời hạn thu hồi vốn.
I, D, F- như đã nêu ở trên.
(3) Giá trị hiện tại ròng ( NPV)
(4) Tỉ lệ lãi nội bộ.( IRR)
(5) Tỷ lệ Lợi ích / Chi phí.( BCR )
( Các chỉ tiêu này sẽ được trình bày kỹ hơn ở phần sau)
Việc lựa chọn phương pháp phụ thuộc vào đặc điểm và mục tiêu của dự án, vào
môi trường kinh tế, vào giai đoạn đánh giá dự án, vào khả năng sẵn có số liệu…
Trong trường hợp có hai hay nhiều dự án so sánh với nhau thì phải sử dụng cùng
một phương pháp đánh giá để đảm bảo tính có thể so sánh được.
Vấn đề đặt ra là làm thế nào để lượng hoá được những lợi ích môi trường để từ đó
thẩm định dự án, xem xét dự án đó mang lại hiệu quả hay không và từ đó đưa ra
quyết định đầu tư đúng đắn.
11
b. Hiệu quả kinh tế- xã hội của dự án.
Mục đích của phân tích hiệu quả kinh tế - xã hội là đánh giá sự đóng góp của
dự án vào tất cả các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Vì vậy, ngoài
các chỉ tiêu NPV, IRR, B/ C…thì giá trị gia tăng VA ( value added) được coi như
một tiêu chuẩn quan trọng nhất để xác định ảnh hưởng của dự án đối với nền kinh tế.
Ngoài ra, người ta còn sử dụng một loạt các chỉ tiêu bổ sung nhằm nêu được những
tác động của dự án lên các khía cạnh riêng biệt của đời sống kinh tế- xã hội trong
phạm vi mà dự án đang xem xét. Chẳng hạn những tác động đến việc làm, phân phối
lợi ích và chi phí, thu nhập ngoại hối, khả năng cạnh tranh quốc tế của sản phẩm…
nhưng các chi phí và lợi ích có tính đến những ảnh hưởng tới môi trường, xã hội.
(3) Chỉ tiêu số lao động bao gồm số lao động có việc làm và số lao động có việc
làm trên một đơn vị vốn đầu tư.
- Số lao động có việc làm : gồm số lao động có việc làm trực tiếp cho dự án và số
lao động có việc làm ở các dự án liên đới. Các dự án liên đới là các dự án khác được
thực hiện do sự đòi hỏi của dự án đang được xem xét.
- Số lao động có việc làm trên một đơn vị vốn đầu tư
(4) Các chỉ tiêu về phân phối thu nhập và công bằng xã hội.
Đây là một chỉ tiêu quan trọng, nó giúp đánh giá được sự đóng góp của dự án vào
việc thực hiện mục tiêu phân phối và xác định được những tác động của dự án đến
quá trình điều tiết thu nhập theo nhóm dân cư và theo vùng lãnh thổ. Thực chất của
chỉ tiêu này là xem xét giá trị gia tăng của dự án và các dự án liên đới (nếu có) sẽ
được phân phối cho các nhóm đối tượng khác nhau ( bao gồm người làm công ăn
lương, người hưởng lợi nhuận, nhà nước) hoặc giữa các vùng lãnh thổ như thế nào,
có đáp ứng được mục tiêu phát triển kinh tế xa hội trong giai đoạn nhất định hay
không
(5) Chỉ tiêu tiết kiệm và tăng nguồn ngoại tệ.
Tiết kiệm ngoại tệ và tăng nguồn thu ngoại tệ sở hữu nhằm hạn chế dần sự lệ thuộc
vào viện trợ nước ngoài và tạo nên cán cân thanh toán hợp lý là hết sức cần thiết đối
với các nước đang phát triển. Vì vậy đây cũng là một chỉ tiêu rất đáng quan tâm khi
phân tích một dự án đầu tư. Để tính được chỉ tiêu này phải tính được tổng số ngoại
13
tệ tiết kiệm được và tiết kiệm sau đó trừ đi tổng phí tổn về số ngoại tệ trong quá trình
triển khai của dự án.
(6) Các tác động khác của dự án:
Các tác động đến môi trường sinh thái:
Việc thực hiện dự án thường có những tác động nhất định đến môi trường sinh thái.
Các tác động này có thể là tích cực nhưng cũng có thể là tiêu cực. Tác động tích cực
có thể là làm đẹp cảnh quan môi trường, cải thiện điều kiện sống, sinh hoạt cho dân
cư địa phương…Các tác động tiêu cực bao gồm việc ô nhiễm nguồn nước, không khí
Bd: Lợi ích sinh lãi trực tiếp
Be: Lợi ích môi trường
Cd: Chi phí trực tiếp cần thiết cho việc thực hiện dự án
Cp: Chi phí cho các biện pháp phòng chống để bảo vệ môi trường, nếu
được áp dụng
Ce: Chi phí huỷ hoại môi trường do việc thực hiện dự án
Trong nhiều trường hợp, ở các dự án về các lĩnh vực sản xuất và cơ sở hạ tầng, lợi
ích môi trường và chi phí huỷ hoại môi trường do việc thực hiện dự án đều bị bỏ qua
vì bị coi là “ hạng mục kinh tế ngoại lai” và “những hạng mục phí kinh tế ngoại lai”.
Cả hai loại này đều được coi là không thể tính được bằng tiền.
Trong các dự án môi trường, lợi ích sinh lãi trực tiếp tương đương với lợi ích môi
trường, và chi phí cần thiết cho việc thực hiện dự án tương đương với chi phí cho các
biện pháp phòng chống để bảo tồn môi trường. Mục tiêu chính của các dự án môi
trường trước tiên là phải bảo tồn môi trường và sau đó là nâng cao chất lượng môi
trường. Mặt khác chi phí huỷ hoại môi trường do việc thi hành dự án khó mà có thể
phát sinh từ việc thực thi các dự án môi trường. Vì vậy phương trình chi phí - lợi ích
hiệu quả nhất cho các dự án môi trường phải như sau:
NB=Be-Cp
Nếu lợi ích môi trường trong dự án môi trường vẫn không được tính thì cũng không
thể tiến hành bất kỳ công việc phân tích chi phí - lợi ích khi tính toán NB ( lợi ích
ròng do tiến hành kế hoạch/dự án ). Trong bối cảnh và bản chất các lợi ích của dự án
môi trường đánh giá khâu tính lợi ích môi trường là khâu quan trọng nhất.
1.2. Các phương pháp đánh giá hiệu quả của dự án môi trường.
15
1.2.1. Phương pháp phân tích chi phí hiệu quả.
Bất kỳ một dự án nào khi đưa vào triển khai cũng cần phải được đánh giá về
mặt hiệu quả và tính khả thi của dự án, bằng cách so sánh giữa lợi ích thu được và chi
phí bỏ ra để đầu tư cho dự án. Các dự án đầu tư cho môi trường liên quan đến các chỉ
tiêu về cải tạo và nâng cao chất lượng môi trường, khắc phục ô nhiễm… nên thường
rất khó định lượng được các lợi ích và chi phí. Để khắc phục vấn đề này, người ta sử
trường vì sự phát triển bền vững. Như vậy việc sử dụng phân tích chi phí- lợi ích mở
rộng là tất yếu để có quyết định hợp lý nhằm sử dụng lâu bền các nguyền tài nguyên
khan hiếm, làm giảm hoặc loại bỏ những tác động tiêu cực phát sinh trong hoạt động
phát triển kinh tế -xã hội.
1.3. Phương pháp phân tích chi phí lợi ích đối với một dự án môi trường.
1.3.1. Khái niệm phân tích chi phí lợi ích.
Phân tích lợi ích chi phí là một kỹ thuật phân tích để đi đến quyết định xem
đây có nên tiến hành các dự án đã triển khai hay không hay hiện tại có nên cho triển
khai các dự án được đề xuất hay không. Phân tích lợi ích chi phí cũng được dùng để
đưa ra quyết định lựa chọn giữa hai hay nhiều các đề xuất dự án loại trừ lẫn nhau.
Người ta tiến hành CBA thông qua việc gắn giá trị tiền tệ cho mỗi một đầu vào cũng
như đầu ra của dự án. Sau đó so sánh các giá trị của các đầu vào và các đầu ra. Cơ
bản mà nói, nếu lợi ích dự án đem lại có giá trị lớn hơn chi phí mà nó tiêu tốn, dự án
đó sẽ được coi là đáng giá và nên được triển khai.
Những dự án mà phân tích CBA xếp vào loại đáng được triển khai là những
dự án cho đầu ra có giá trị lớn hơn đầu vào đã sử dụng. Trong trường hợp phải chọn
một dự án trong số nhiều dự án được đề xuất, CBA sẽ giúp chọn được dự án đem lại
lợi ích ròng lớn nhất. Cũng có thể dùng CBA để đánh giá mức độ nhạy cảm của các
đầu ra trong dự án đối với rủi ro và bất chắc.
Mặc dù ý tưởng thì đơn giản song trong thực tế sẽ có nhiều khó khăn để có thể
tiến hành được một CBA có chất lượng. Chỉ đơn giản là việc xác định đâu là chi phí,
17
đâu là lợi ích cũng đã đòi hỏi chúng ta phải cân nhắc kỹ lưỡng. Cũng có thể có nhiều
ý kiến khác nhau xoay quanh vấn đề này. Trong khi một số đầu vào, đầu ra có thể có
các mức giá phổ biến và ổn định thì một số khác lại có mức giá biến đổi trong quá
trình triển khai dự án. Và có thể có một số đầu vào, đầu ra không được đưa ra buôn
bán trên thị trường. Điều này khiến cho chúng ta cần phải đưa ra những phương pháp
định giá khác nhau.
CBA mặc định rằng tất cả các mặt hàng đều có một giá trị tiền tệ nhất định.
Điều này là cần thiết trong việc so sánh giữa đầu vào và đầu ra để quyết định xem
Bước 3: Liệt kê các ảnh hưởng vật chất tiềm năng và lựa chọn chỉ số đo lường
Bước 4: Dự đoán những khả năng biến đổi về lượng và ảnh hưởng cuả chúng trong
suốt quá trình tồn tại của dự án
Bước 5: Lượng hoá bằng tiền đối với tất cả các tác động
Bước 6: Xác định tỷ lệ chiết khấu và khấu hao cho khoảng thời gian để tìm giá trị
hiện tại
Bước 7: Tính tổng lợi ích và chi phí
Bước 8: Tiến hành phân tích độ nhạy
Bước 9: Tiến cử phương án có lợi ích xã hội tốt nhất
1.3.4. Các chỉ tiêu trong phân tích CBA.
1.3.4.1. Lựa chọn các thông số liên quan.
Chọn biến thời gian thích hợp.
Về mặt lý thuyết, phân tích dự án kinh tế đầu tư phải được kéo dài trong thời
gian vừa đủ để có thể bao hàm hết mọi lợi ích và chi phí của dự án. Trong việc lựa
chọn biến thời gian thích hợp, cần lưu ý đến hai nhân tố sau:
- Thời gian tồn tại hữu ích dự kiến của dự án để tạo ra các sản phẩm đầu ra, các lợi
ích kinh tế mà dựa vào đó mà dự án được thiết kế. Khi lợi ích thu được của dự án trở
nên rất nhỏ thì thời gian sống hữu ích của dự án coi như kết thúc.
- Hệ số chiết khấu được sử dụng trong phân tích kinh tế của dự án. Việc lựa chọn hệ
số chiết khấu là hết sức quan trọng vì hệ số chiết khấu có mối quan hệ tỷ lệ nghịch
với việc lựa chọn biến thời gian thích hợp. Hệ số chiết khấu càng lớn thì thời gian
19
hữu ích của dự án sẽ càng giảm bởi vì nó làm giảm giá trị hiện tại ròng của dự án
theo thời gian.
Chiết khấu.
Chiết khấu là một cơ chế mà nhờ đó so sánh chi phí và lợi ích ở các thời điểm khác
nhau trên trục thời gian. Trong sử dụng chiết khấu cần đảm bảo 2 điều kiện sau:
- Mọi biến số đưa vào tính chiết khấu( Chí phí, lợi ích) phải được đưa về cùng một
đơn vị.
- Giá trị một đơn vị chi phí hoặc lợi ích hiện tại lớn hơn một đơn vị lợi ích hoặc chi
+
+−
+
=
∑∑
==
n
t
t
t
n
t
t
t
r
C
C
r
B
NPV
1
0
0
)1()1(
Trong đó:
Bt là lợi ích năm t
Ct là chi phí năm t
Co là chi phí ban đầu
t
t
r
C
C
r
B
C
B
1
0
1
)1(
)1(
Nếu: B/C > 1 Quyết định đầu tư.
B/C = 1 Có thể đầu tư tuỳ thuộc vào mục đích của dự án.
21
B/C <1 Không nên đầu tư.
c, Hệ số hoàn vốn nội tại (IRR-Internal Rate of Return).
Hệ số hoàn vốn nội tại là mức lãi suất mà nếu dùng nó làm tỷ suất chiết khấu thì giá
trị hiện tại ròng bằng 0.
Việc đưa ra quyết định đầu tư được thực hiện trên cơ sở so sánh hệ số hoàn vốn nội
tại (IRR) với hệ số chiết khấu. Dự án chỉ được chấp nhận khi IRR ? r. Trong trường
hợp phải lựa chọn thì dự án nào có IRRmax và lớn hơn r sẽ được chọn.
IRR được sử dụng khá phổ biến. Giá trị IRR sau khi tính toán được so sánh với lãi
suất hoặc hệ số chiết khấu.
IRR > lãi suất hoặc hệ số chiết khấu thì dự án có lãi
IRR = lãi suất hoặc hệ số chiết khấu thì dự án hoà vốn
IRR < lãi suất hoặc hệ số chiết khấu thì dự án bị lỗ
thay đổi. Nhưng những vấn đề chính yếu lại liên quan đến sự mong muốn tương đối
của các phương án. Có phải dự án trở nên không thể chấp nhận được về mặt kinh tế
( hoặc có thể chấp nhận) khi dữ liệu thay đổi hay không? Tương tự, khi dữ liệu thay
đổi, sự sắp xếp hạng các dự án có thay đổi không?
Kiểm tra độ nhạy sẽ giúp đánh giá những tác động của sự không chắc chắn
bằng cách:
- Nhận ra phạm vi của một ( nhiều) biến số cụ thể trong đó một phương án là đáng
mong muốn về mặt kinh tế.
- Nhận ra giá trị của một ( nhiều) biến cụ thể tại đó sự xếp hạng của phương án thay
đổi.
- Nhận ra giá trị những biến số làm lợi ích xã hội ròng dễ bị ảnh hưởng nhất. Đó là
những biến số gây nên tỷ lệ thay đổi lớn nhất trong lợi ích xã hội ròng
Kiểm tra độ nhạy cũng giúp người phan tích hiểu được cấu trúc kinh tế của dự
án. Những yếu tố gây tác động mạnh mẽ nhất lên sự mong muốn về kinh tế sẽ trở nên
rõ ràng, và những yếu tố có ít ảnh hưởng cũng sẽ rõ ràng hơn. Quy trình đầy đủ về
kiểm tra độ nhạy bao gồm 4 giai đoạn liên tục:
+ Tính lại lợi ích xã hội ròng với bộ dữ liệu khác.
+ Nhận dạng các biến số chủ yếu và mô tả nguồn gốc của sự không chắc chắn.
+ Giải thích lại sự mong muốn tương đối với tất cả dữ liệu về lợi ích xã hội ròng.
23
+ Thu nhập thêm dữ liệu về các biến số chủ yếu, thiết kế lại phương án để giảm thiểu
những ảnh hưởng của sự không chắc chắn, và giám sát mức độ của các biến số chủ
yếu khi dự án tiến hành.
Tiểu kết chương 1.
Như vậy, ở chương 1, tôi đã trình bày về hiệu quả của dự án đầu tư cho môi
trường, các phương pháp tính hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường của một dự án.
Trong đó, do tính ưu việt và phù hợp của phương pháp phân tích chi phí lợi ích
( CBA), tôi đã chọn phương pháp này cho việc đánh giá hiệu quả của dự án xây dựng
trạm xử lý nước thải mỏ than Na Dương. Vì vậy, tôi đã tập trung giới thiệu và phân
tích phương pháp CBA ở chương này. Và sau đây, ở chương 2, tôi sẽ trình bày về các
2
S, NO
x
, CH
4
... Tại các khu vực sàng tuyển, nghiền , chế biến than còn xảy
ra quá trình ôxy hoá dẫn đến suy giảm nồng độ ôxy cần thiết để hô hấp ( <12%).
2.1.2 Tiếng ồn.
Độ ồn, rung do các hoạt động trong khai thác lộ thiên, hầm lò, các nhà máy
tuyển, các nhà máy cơ khí gây nên nhe cá máy khoan, xe goòng, các thiết bị, bãi
nổ mìn, máy xúc, máy gạt, xe vận tải cỡ lớn , các băng tải, quang lật, búa hơi
máy, gò, tiện, sàng, rung, máy nghiền than... Độ ồn ngay sát các thiết bị máy móc
cỡ lớn đang hoạt động thường vượt TCCP 20-40 dB. Các tuyến băng tải, các
đường ô tô chở than, đất đá và nhà máy tuyển là các nguồn gây ô nhiễm mạnh
cùng với phát tán bụi lớn nhất.Tại các khu vực khai thác hầm lò thường có độ ồn
cao vì âm khó phát tán trong các đường lò.
2.1.3. Môi trường nước.
Môi trường nước bị ô nhiễm do hai nguồn chính là nước chảy trên bề mặt,
nước mưa và nước thải từ các khu mỏ. Hầu hết các đơn vị khai thác, sàng tuyển
và chế biến đều thải ra một lượng nước thải rẩt lớn. Đặc biệt, các hoạt động khai
thác than đều nằm trong các khu vực có hệ sinh thái rừng, hệ sinh thái các lưu
vực, môi trường đất...và nằm xen kẽ các khu vực dân cư. Do đặc thù của loại hình
khai thác nên nước thải hầm lò bị axit hoá mạnh, có chất rắn lơ lửng cao, có hàm
25