Luận văn Dịch vụ du lịch ở thành phố Đà Nẵng - Pdf 89

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nghị quyết Đại hội lần thứ XIX Đảng bộ thành phố Đà Nẵng đã xác
định phương hướng, nhiệm vụ và mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội đến năm
2020, trong đó chỉ rõ: Phát triển mạnh du lịch và các dịch vụ mà thành phố có
thế mạnh, làm tiền đề chuyển nền kinh tế thành phố từ cơ cấu “Công nghiệp -
Dịch vụ -Nông nghiệp” sang cơ cấu “Dịch vụ - Công nghiệp - Nông nghiệp"
sau năm 2010. Phấn đấu đến năm 2010 đón 2 triệu lượt du khách, trong đó có
800.000 lượt khách quốc tế và 1,2 triệu khách nội địa. Đồng thời, Bộ Chính trị
(khoá IX) cũng đã ra Nghị Quyết số 33-NQ/TW về xây dựng và phát triển thành
phố Đà Nẵng trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Thực hiện các Nghị
quyết nêu trên, trong những năm qua, đặc biệt là từ khi Thành phố chính thức trở
thành Đô thị loại I trực thuộc Trung ương, ngành du lịch đã có những đóng góp
tích cực vào sự phát triển kinh tế - văn hoá - xã hội Đà Nẵng.
Đà Nẵng nằm ở trung lộ của cả nước, với trên 30km bờ biển xanh,
sạch, đẹp được xếp vào Top 1 trong số 06 bãi biển đẹp nhất hành tinh; có sân
bay, cảng biển quốc tế và những điều kiện hết sức thuận lợi về giao thông
đường sắt, đường bộ, là trung điểm của 05 Di sản văn hoá trong số 6 di sản
văn hoá thế giới của Việt Nam được UNESCO công nhận là Cố đô Huế, nhã
nhạc cung đình Huế, Động Phong Nha, phố cổ Hội An và Thánh địa Mỹ Sơn
- trung điểm của “Hành trình Di sản” của du lịch Việt Nam. Trong phạm vi
khu vực và thế giới, Đà Nẵng là một trong những cửa ngõ quan trọng của
miền Tây và các nước vùng Đông Bắc Á. Vị trí địa lý đặc biệt thuận lợi của tự
nhiên giúp cho Đà Nẵng có điều kiện phát triển các ngành kinh tế một cách
nhanh chóng và bền vững, trong đó có ngành du lịch.
Trong điều kiện chuyển đổi hoạt động kinh doanh dịch vụ theo hướng
xã hội hoá mạnh mẽ và hội nhập kinh tế quốc tế, ngành du lịch nước ta nói
chung và du lịch Đà Nẵng nói riêng đang đứng trước cơ hội và thách thức lớn.
Ngành dịch vụ du lịch còn non trẻ, mới được chuyển sang từ hoạt động phục
vụ nhiệm vụ chính trị đối ngoại là chủ yếu, tính chuyên nghiệp trong nghiệp vụ
còn thấp, cơ sở đào tạo chuyên ngành còn thiếu và yếu, cơ sở vật chất phục vụ

- Nguyễn Thị Hồng Lâm (2005), Kinh tế du lịch ở tỉnh Thanh Hoá
-Thực trạng và giải pháp phát triển, Luận văn Thạc sĩ Kinh tế, Học viện
CTQG Hồ Chí Minh...
Cho đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu liên quan đến dịch vụ
du lịch ở thành phố Đà Nẵng một cách toàn diện về lý luận và thực tiễn dưới
góc độ khoa học kinh tế chính trị. Vì vậy, sự lựa chọn đề tài "Dịch vụ du lịch
tại Thành phố Đà Nẵng" là cần thiết và không trùng lặp với các công trình
khoa học đã được công bố.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1. Mục đích: Trên cơ sở lý luận về dịch vụ du lịch, luận văn phân
tích, đánh giá thực trạng dịch vụ du lịch Đà Nẵng và đề xuất một số giải pháp
nhằm phát triển dịch vụ du lịch ở thành phố Đà Nẵng, trong thời gian từ nay
đến năm 2020.
3.2. Nhiệm vụ: Luận văn có các nhiệm vụ sau:
- Làm rõ một số cơ sở lý luận và thực tiễn về dịch vụ du lịch ở Đà Nẵng.
- Đánh giá thực trạng dịch vụ du lịch Đà Nẵng trong giai đoạn 2001
đến 2005 và những vấn đề đặt ra cần giải quyết.
- Phương hướng và giải pháp phát triển dịch vụ du lịch Đà Nẵng trong
thời gian tới.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu: Dịch vụ du lịch Đà Nẵng trong thời kỳ đổi
mới, nhất là từ khi Thành phố Đà Nẵng trở thành đô thị loại I trực thuộc
Trung ương đến nay.
4.2. Thời gian: Từ 2001 đến 2005.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận: Vận dụng lý luận kinh tế chính trị của chủ nghĩa
Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, chủ trương, đường lối,
chính sách của Đảng, Nhà nước và thành phố Đà Nẵng vào phát triển dịch vụ
du lịch. Đồng thời, kế thừa những kết quả nghiên cứu về lĩnh vực dịch vụ du
lịch của các nhà khoa học có liên quan đến đề tài.

và phát triển dịch vụ du lịch.
Khi điều kiện kinh tế chưa phát triển, người ta coi du lịch như một hiện
tượng xã hội mang tính nhân văn nhằm làm phong phú thêm nhận thức con
người và dịch vụ du lịch là thoả mãn nhu cầu cho tầng lớp trên của xã hội
kiếm được tiền ở một nơi và đi tiêu tiền ở một nơi khác. Điều kiện kinh tế phát
triển hơn, người ta nhận thức được du lịch không còn là một hiện tượng xã
hội đơn thuần mà còn là một hoạt động kinh tế, trong đó những hoạt động
dịch vụ phối hợp với nhau nhằm thoả mãn nhu cầu của con người.
Khi kinh doanh du lịch phát triển, trở thành một hệ thống mang tính
tổng hợp trên phạm vi vùng miền không chỉ của một quốc gia thì người ta coi
du lịch là một ngành công nghiệp với toàn bộ các hoạt động mà mục tiêu là kết
hợp giá trị của các tài nguyên du lịch thiên nhiên và nhân văn với các dịch vụ,
hàng hoá để tạo ra sản phẩm du lịch, đáp ứng nhu cầu của du khách.
Pháp lệnh Du lịch (2/1999) do Uỷ ban Thường vụ Quốc hội nước
CHXHCN Việt Nam quy định: Du lịch là các hoạt động có liên quan đến
chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp
ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời
gian nhất định [39].
Có thể hiểu, du lịch là một phạm trù kép; một mặt có ý nghĩa thông
thường là sự di chuyển của con người với mục đích nghỉ ngơi giải trí, nhưng
mặt khác nó bao hàm hệ quả kinh tế tự thân khi những dịch vụ hỗ trợ và cung
ứng nhằm thoả mãn nhu cầu vật chất và tinh thần cho du khách, trong sự di
chuyển đó.
Với quan niệm trên, sản phẩm du lịch cũng mang những nét đặc trưng
cơ bản không như các sản phẩm vật chất thuần tuý khác. Theo Từ điển du lịch
(Tiếng Đức, Nxb Kinh tế Berlinh, 1984) định nghĩa: "Sản phẩm du lịch là sự
kết hợp những dịch vụ và phương tiện vật chất trên cơ sở khai thác các tiềm
năng du lịch nhằm cung cấp cho du khách một khoảng thời gian thú vị, một
kinh nghiệm du lịch trọn vẹn và sự hài lòng" [35]. Theo nghĩa hẹp, thì sản
phẩm du lịch là những gì du khách bỏ tiền ra mua lẻ hoặc trọn gói trong

thương hiệu, quảng cáo sản phẩm và tham khảo thêm những người đã sử dụng
dịch vụ trước khi quyết định mua dịch vụ cho mình.
Thứ hai: Tính đồng thời trong sản xuất và tiêu dùng sản phẩm dịch
vụ. Khác với các hàng hoá thông thường có quá trình sản xuất và tiêu dùng
diễn ra ở từng thời gian và địa điểm khác nhau, dịch vụ du lịch được sản
xuất và tiêu dùng thường diễn ra cùng lúc. Chính đặc điểm này quy định
tính thời vụ trong loại hình kinh doanh du lịch và nó làm cho công tác dự
báo của ngành du lịch thực sự trở thành một khoa học giúp các nhà hoạch
định chiến lược nắm được cung - cầu trên thị trường mà có hướng đầu tư
phù hợp. Trên thực tế có nhiều bất cập xảy đến trong quá trình quản lý và
kinh doanh du lịch, nguyên nhân sâu xa chính vì chưa nắm thấu đáo tính
chất đặc thù này.
Thứ ba: Khách hàng là một bộ phận của cả quá trình sản xuất và tiêu
thụ sản phẩm. Tính đặc thù này được quy định bởi sản xuất và tiêu thụ sản
phẩm dịch vụ diễn ra trong một thời gian và không gian nhất định nên không
tạo ra khoảng cách giữa người tiêu dùng và người sản xuất dịch vụ. Nói cách
khác, người tiêu dùng không chỉ hưởng thụ một cách thụ động sản phẩm dịch
vụ được cung ứng, mà họ còn trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất thông
qua việc phản hồi của họ với nhà cung cấp về chất lượng và mức độ hoàn
thiện của sản phẩm. Thậm chí bằng kinh nghiệm và trình độ cảm nhận của
mình, du khách còn là người trực tiếp sáng tạo ra các sản phẩm dịch vụ giúp
cho nhà cung cấp tạo ra những sản phẩm nhằm thoả mãn nhu cầu ngày càng
tăng của người tiêu dùng.
Thứ tư: Quyền sở hữu không được chuyển giao khi mua và bán. Đây là
một đặc thù riêng có của loại hình sản phẩm dịch vụ khi đem trao đổi trên thị
trường. Vì là sản phẩm không thể di chuyển trong không gian, là sản phẩm
phi vật thể và có tính đồng nhất trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, nên
khách hàng chỉ đang mua quyền sử dụng sản phẩm chứ không hề mua được
quyền sở hữu sản phẩm dịch vụ đó. Khi quyền sử dụng của du khách không còn
thì cũng là lúc nhà cung cấp toàn quyền sở hữu đối với sản phẩm dịch vụ đó.

nhập ngoại tệ từ du lịch đạt 25,7 tỷ USD. Khách du lịch nội địa đạt 1,1 tỷ lượt
khách, tạo thu nội địa tương đương 65,7 tỷ USD. Du lịch tạo ra 38,93 triệu
việc làm gián tiếp và trực tiếp cho xã hội [32].
Cả hai cường quốc trên đều có ưu việt nổi trội trong hoạt động du lịch
và có nhiều kinh nghiệm phát triển kinh doanh du lịch. Hai nước này đều luôn
coi du lịch là quốc sách và có nhiều biện pháp nhằm tạo ra chiến lược sản
phẩm du lịch tốt, trong đó coi trọng việc đầu tư đồng bộ các loại hình dịch vụ
giải trí cho du khách.
- Dịch vụ mua sắm: thực tế đây cũng là hình thức giải trí không thể
thiếu trong một chuyến đi du lịch của du khách, được thực hiện thông qua các
siêu thị, cửa hàng, làng nghề truyền thống, hàng mỹ nghệ, tạp hoá, vải lụa...
- Dịch vụ trung gian và bổ sung khác: y tế, công nghệ thông tin,
Internet, sửa chữa... tuy phụ trợ nhưng loại hình dịch vụ này cũng góp phần
làm thoả mãn chuyến đi của du khách và tham gia vào việc tạo nên một sản
phẩm du lịch hoàn chỉnh nơi khách dừng chân.
Ngoài ra, sản phẩm du lịch còn bao gồm cả giá trị tài nguyên thiên
nhiên - một bộ phận cấu thành quan trọng, nó đòi hỏi các nhà chuyên môn
trong quản lý và điều hành phải biết phối hợp và điều tiết quá trình cung ứng
sản phẩm du lịch một cách khoa học thực sự, mới đem lại hiệu quả kinh tế cao
đồng thời thoả mãn được nhu cầu của du khách.
Trong nền kinh tế hiện đại, tỉ trọng các ngành dịch vụ có xu hướng ngày
càng tăng, ở các nước tiên tiến có khi lên đến 75%, ở Việt Nam chiếm khoảng
40%. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ X
đã chỉ rõ “Cơ cấu ngành trong GDP năm 2010: Khu vực nông nghiệp khoảng
15-16%, công nghiệp -xây dựng 43-44%, dịch vụ 40-41%” [15, tr.188].
1.1.2. Những nhân tố tác động đến sự phát triển dịch vụ du lịch ở
thành phố Đà Nẵng
Phát triển dịch vụ du lịch ở thành phố Đà Nẵng là một tất yếu khách
quan, bởi Đà Nẵng hội tụ đủ những điều kiện, khả năng, thế mạnh là những
nhân tố tác động đến sự phát triển mạnh mẽ lĩnh vực này, như:

nổi tiếng như Bà Nà, Ngũ Hành Sơn, đèo Hải Vân, bán đảo Sơn Trà... và thoả
thích bơi lội trên các bãi biển trải dài hàng chục km, được coi là một trong 6 bãi
biển sạch đẹp nhất của hành tinh. Đà Nẵng còn là trung điểm của “Hành trình Di
sản Văn hoá thế giới”, chỉ trong bán kính chưa đầy 200 km, bạn đã có thể chiêm
ngưỡng vẻ đẹp của 05 Di sản Văn hoá thế giới: Thánh địa Mỹ Sơn, Phố Cổ Hội
An, Cố đô Huế, nhã nhạc cung đình Huế và Di tích Động Phong Nha.
Có thể nói, tiềm năng du lịch của Đà Nẵng là hết sức phong phú và to lớn.
Trong những năm qua, nhất là từ khi Đà Nẵng trở thành Đô thị loại 1
trực thuộc Trung ương, nơi đây được coi là điểm phát triển năng động với tốc
độ cao trong khu vực, có cơ sở hạ tầng hoàn hảo, cơ chế đầu tư thông thoáng
và hệ thống dịch vụ phụ trợ của du lịch ngày càng được cải thiện, phù hợp với
một đô thị phát triển theo hướng hiện đại.
1.1.2.3. Các điều kiện kinh tế - xã hội khác: cũng là một ưu việt của Đà
Nẵng khi định hướng phát triển dịch vụ du lịch:
Về dân số: Thành phố Đà Nẵng có gần 790.000 người và hơn 130.000
sinh viên học sinh đang theo học tại các trường Đại học, Cao Đẳng và dạy
nghề trên địa bàn, ngoài ra phải kể đến trên 40.000 sinh viên, học sinh tốt
nghiệp Đại học, Cao đẳng và dạy nghề ra trường hàng năm, đó là nguồn lao
động dồi dào cho các điểm dịch vụ được mở ra nếu có chính sách thu hút tốt.
Bảng 1.1: Dân số, lao động, xã hội
Đơn vị tính: người
Năm 2000 2002 2003 2004 2005
Dsố (31/12/05) 722.826 747.607 757.270 771.828 790.191
Nguồn LĐ 413.900 432.600 438.962 451.663 487.096
LLg lao động 330.827 348.997 355.820 370.978 386.457
Trong đó:
Công nhân KT 36.000 60.000 66.667 79.760 97.000
Trung học 15.000 20.000 23.333 26.154 29.027
Cao đẳng, ĐH 29.700 40.000 42.667 41.179 56.048
Khác 250.127 228.997 223.153 223.885 204.412

có tác động sâu sắc đến những lĩnh vực khác khác của quá trình tái sản xuất xã
hội. Đồng thời, khách du lịch là người nước ngoài hay trong nước đến, với số
lượng tiền tệ tiêu dùng đem theo tất yếu sẽ làm cho cán cân thanh toán tại địa
phương có sự đổi thay. Và nhờ đó góp phần làm sống động kinh tế vùng du lịch.
Mặt khác, thông qua lĩnh vực lưu thông mà du lịch có ảnh hướng tích cực
đến sự phát triển của những ngành kinh tế như công nghiệp, nông nghiệp và dịch
vụ. Khách du lịch luôn đòi hỏi hàng hóa được phục vụ với chất lượng cao, chủng
loại phong phú và hình thức, mẫu mã đẹp. Như vậy, chính du khách đã giúp phần
định hướng cho sản phẩm được sản xuất ra không chỉ bảo đảm về chất lượng,
chủng loại mà còn cả hình thức, bao bì, nhãn mác... Từ đó khuyến khích chuyên
môn hóa ngày càng sâu sắc và rộng rãi trong các ngành kinh tế của thành phố.
Ảnh hưởng của du khách đối với các ngành: viễn thông, ngân hàng,
thương mại, xây dựng, văn hóa... cũng hết sức to lớn, nhất là trong điều kiện
hội nhập khu vực và quốc tế... Bởi chúng ta biết rằng trong số hàng triệu du
khách đã đến với Đà Nẵng trong nhiều năm qua, ngoài đối tượng du lịch
thuần túy còn có rất đông khách công vụ và thương gia đến tìm kiếm cơ hội
làm ăn. Đối tượng này có nhu cầu đặc biệt cao về công nghệ thông tin, các
điều kiện và phương tiện thanh toán hiện đại cũng như kết cấu hạ tầng thuận
lợi. Việc sử dụng các tài nguyên thiên nhiên vào phục vụ du khách đòi hỏi
phải có sự đầu tư đồng bộ và từ đó cũng kích thích phát triển tương ứng các
ngành kinh tế có liên quan khác của thành phố.
Bảng 1.2: Chỉ số phát triển tổng sản phẩm quốc nội trên địa bàn
thành phố Đà Nẵng(từ 2000-2005)
(Năm trước 100, theo giá so sánh năm 1994)
Đơn vị tính: %
Năm 2000 2002 2003 2004 2005
Tổng số 109,88 112,56 112,62 113,20 113,91
Trong đó:
1. NLTS 102,69 104,33 105,52 104,76 104,86
2. CN, XD 110,82 118,44 121,74 120,32 117,58

Nguồn: Niên giám thống kê Đà Nẵng 2005.
Từ biểu trên cho thấy nguồn thu từ các dịch vụ du lịch mang lại đóng
góp một phần không nhỏ vào tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tại Đà
Nẵng và điều đó cũng làm cho hoạt động kinh doanh du lịch thêm sôi động.
Việc phát triển du lịch còn tạo thêm nhiều công ăn việc làm cho nhân
dân, giúp chuyển đổi nghề nghiệp từng bước cho lực lượng lao động nông
nghiệp chuyển sang lao động có tay nghề, được đào tạo gắn với tính chuyên
nghiệp cao, trong lĩnh vực hoạt động mới - ngành công nghiệp không khói.
1.1.3.3. Dịch vụ du lịch phát triển đóng góp phần quan trọng trong
việc nâng cao đời sống văn hoá, xã hội, cải thiện bộ mặt đô thị Đà Nẵng
Đây là kết quả có ý nghĩa hết sức quan trọng mà hoạt động dịch vụ du
lịch mang lại. Thông qua du lịch, con người mở mang kiến thức, được giao
lưu với các nền văn minh từ nhiều quốc gia, tăng thêm sự hiểu biết và mở ra
những mối quan hệ đoàn kết mang tính quốc tế.
Du lịch còn là phương tiện giáo dục lòng yêu đất nước, giữ gìn và nâng
cao truyền thống dân tộc. Thông qua các chuyến đi tham quan, nghỉ mát, vãn
cảnh giúp con người có điều kiện chiêm ngưỡng vẻ đẹp cảnh quan, tìm hiểu
lịch sử văn hoá dân tộc để từ đó thêm yêu hơn đất nước mình. Hoạt động du lịch
con người sẽ có thêm động lực mới trong học tập, rèn luyện và xác định mục
tiêu cho cuộc sống. Cũng nhờ sự giao lưu mà mỗi người tự nhận thức được giá
trị vật thể và phi vật thể trong nền văn hoá dân tộc mình để từ đó có suy nghĩ
đóng góp vào việc khai thác một cách có hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên
đất nước, đồng thời cũng gìn giữ, tôn tạo bản sắc văn hoá dân tộc mình.
Du lịch còn được coi là sứ giả của hoà bình và tình hữu nghị bởi nhờ
các chuyến giao lưu quốc tế, các quốc gia dân tộc sẽ xích lại gần nhau hơn
nhờ sự hiểu biết và học hỏi được ở nhau, từ đó tăng cường thêm mối quan hệ
và tình đoàn kết quốc tế của các quốc gia, các dân tộc trên thế giới. Và cũng
từ đó góp phần cùng nhau tôn tạo bản sắc văn hoá của từng dân tộc và những
di sản văn hoá chung của toàn nhân loại.
Với ý nghĩa đó, du lịch Đà Nẵng được coi là có lợi thế đặc biệt bởi nằm

thời, cũng tạo nên động lực cho sự phát triển của du lịch trong những thập
niên của thế kỷ XXI ở thành phố Đà Nẵng.
Pháp lệnh Du lịch 1999 và Luật Du lịch được thông qua tại Kỳ họp
thứ 7 Quốc hội nước CHXHCNVN khoá 11 (ngày 14-06-2004) đã khẳng định
tính pháp lý của sự nghiệp phát triển du lịch: “Du lịch là một ngành kinh tế
tổng hợp quan trọng, mang nội dung văn hoá sâu sắc, có tính liên ngành, liên
vùng và xã hội hoá cao, góp phần nâng cao dân trí, tạo việc làm và phát triển
kinh tế - xã hội của đất nước...” [39].
1.2. ĐẶC ĐIỂM VÀ CÁC LOẠI HÌNH DỊCH VỤ DU LỊCH Ở THÀNH
PHỐ ĐÀ NẴNG
1.2.1. Đặc điểm của dịch vụ du lịch ở thành phố Đà Nẵng
Ngành du lịch cũng mang những đặc điểm chung như mọi ngành kinh
tế khác, tuy nhiên do là ngành kinh tế đặc thù nên du lịch có những nét đặc
điểm riêng, cụ thể:
1.2.1.1. Tính nhạy cảm
Do sản phẩm của ngành mang tính tổng hợp cao nên so với các ngành
khác du lịch thể hiện tính chất này rõ hơn. Một chương trình du lịch được nhà
cung cấp chào bán khi thực hiện phải đảm bảo sự chính xác về thời gian,
không gian và cả tính khoa học, giáo dục... để du khách có thể hài lòng về nơi
ăn nghỉ, các chương trình vui chơi giải trí, mua sắm và cảm nhận được nhiều
điều thú vị trong chuyến đi đó. Một sáng kiến nhỏ bất ngờ của hướng dẫn
viên có thể làm tăng hiệu quả chuyến đi nhờ ấn tượng tốt, và ngược lại chỉ
một thay đổi nhiều khi không phải do nhà cung cấp chính mà lỗi từ các
chương trình phụ khác (như việc hoãn huỷ chuyến bay của Hàng không...)
khiến cho cảm nhận về chuyến du lịch chịu ảnh hưởng trực tiếp.
Những biến động chính trị, kinh tế, xã hội khác cũng là nguyên nhân
trực tiếp hoặc gián tiếp tác động đến hiệu quả hoạt động của du lịch, như đại
dịch SARS, dịch cúm gia cầm, chiến tranh hoặc tình hình an ninh chính trị
mất ổn định...
Trong những năm qua Đà Nẵng được coi là điểm đến lý tưởng cho du

khách đều trở thành một công đoạn trong chuỗi các dịch vụ mà ngành phải
cung ứng; như ăn uống, mua sắm, đi lại tham quan, lưu trú... và người làm du
lịch phải cung cấp một cách đầy đủ trung thực và chính xác các thông tin về
nhà hàng, các trung tâm thương mại, siêu thị, phương tiện giao thông, bản đồ
các điểm tham quan, khí hậu thời tiết, lộ trình đường đi, hệ thống khách sạn
phù hợp với du khách...
1.2.1.4. Tính đa ngành
Ngoài những yêu cầu tối thiểu trên cho một chuyến đi, du khách còn
đòi hỏi phải có những dịch vụ không thể thiếu khác như: hệ thống thanh toán
từ dịch vụ của ngành tài chính ngân hàng, hải quan cửa khẩu, sân bay, bưu
điện...Tất thảy đều phải được hoạt động một cách đồng bộ và có mối liên hệ
chặt chẽ với nhau, hướng tới việc thoả mãn nhu cầu cho du khách.
Đồng thời du khách sẽ mất đi cảm giác an tâm khi thiếu sự trợ giúp của
các ngành kinh tế - xã hội khác như bảo hiểm, y tế, giao thông, công an, môi
trường... tại nơi sẽ đến tham quan, du lịch. Trong những năm qua, đặc biệt
trong vài năm trở lại đây, các ngành dịch vụ hỗ trợ này của Đà Nẵng đã có
những tiến bộ vượt bậc so với trước. Điều đó tạo sự đổi mới cho bộ mặt đô thị
của thành phố nhưng đồng thời cũng giúp thỏa mãn nhu cầu được phục vụ
một cách chu đáo nhất của du khách.
Cũng chính những nhu cầu cần được đáp ứng đó của du khách lại có
hiệu quả như một động lực thúc đẩy sự phát triển đối với các ngành kinh tế,
văn hoá, giáo dục, y tế... ở địa phương phát triển.
Đặc điểm tổng hợp và đa ngành trên đòi hỏi sự phối hợp nhịp nhàng
không chỉ giữa các khách sạn, nhà hàng, các xí nghiệp vận chuyển đưa đón
khách... trong nội bộ ngành du lịch mà còn đòi hỏi sự liên kết cao trong khối
các ngành có liên quan. Và trên hết là sự điều phối của chính quyền thành phố
Đà Nẵng. Mọi tính toán lợi ích cục bộ hoặc sự phối hợp không đồng bộ trong
mỗi khâu dịch vụ đều liên quan mật thiết đến tính hiệu quả của không chỉ
riêng ngành du lịch mà còn ảnh hưởng đến hiệu quả chung về nhiều mặt cho
kinh tế - xã hội của địa phương.

Qua thực tế hoạt động của ngành trong nhiều năm, cho thấy rằng loại
hình dịch vụ ở Đà Nẵng phát sinh chủ yếu tuỳ thuộc ở nhu cầu khách đến từ
các loại hình du lịch như tham quan du lịch, hội họp, học tập, nghỉ dưỡng,
hoạt động thể thao, chữa bệnh, sinh thái... Tuy nhiên, có thể tựu trung lại ở
các loại hình dịch vụ chủ yếu sau:
1.2.2.1. Dịch vụ vận chuyển, đưa đón khách
Đó là hệ thống các dịch vụ nhằm mục đích đưa đón khách từ sân bay,
bến cảng hay đang lưu trú ở một địa phương khác có nhu cầu đến tham quan
du lịch hoặc hội họp, học tập... ở Đà Nẵng. Hoặc đưa khách từ nơi cư trú đến
một điểm du lịch hay một số điểm du lịch trong hay ngoài thành phố. Để thực
hiện dịch vụ này, Đà Nẵng có hệ thống các xí nghiệp vận chuyển thuộc các
công ty du lịch dịch vụ của Tổng cục du lịch Việt Nam và của Thành phố
cùng với đội ngũ hùng hậu các công ty, chi nhánh công ty du lịch
Saigontourist, Vietravel, Furama Resort... và các hãng xe chuyên nghiệp như:
Mai Linh, Sông Hàn, Hương Lúa, Airport... với trên 500 xe các loại. Di
chuyển trên sông Hàn hiện tại có Tàu du lịch sông Hàn có sức chứa trên 300
thực khách/chuyến (ngày 02 chuyến). Ngoài ra, còn có các loại hình phục vụ
khác như cano trên biển, lướt sóng...
1.2.2.2. Dịch vụ lưu trú, ăn uống
Là những dịch vụ bảo đảm cho du khách nghỉ ngơi, ăn uống trong quá
trình thực hiện chuyến du lịch. Hiện tại ở Đà Nẵng có trên 90 nhà nghỉ, khách
sạn. Cùng lúc có thể đón trên 5000 khách với tổng số 2800 phòng nghỉ (trong
đó có trên 500 phòng đạt tiêu chuẩn đón khách quốc tế từ 3-5 sao).
Hệ thống nhà hàng ở Đà Nẵng cũng tương đối phát triển trong một vài
năm trở lại đây, nhất là các nhà hàng được trang bị đảm bảo các tiêu chuẩn
đón khách quốc tế và do nhu cầu thực khách không chỉ dừng ở ăn ngon, ăn no
mà còn phải mang đậm nét văn hoá trong ẩm thực. Các phố Đêm, chợ Đêm,
nhà hàng tự chọn, tự phục vụ... cũng đã mọc lên nhằm phục vụ nhu cầu ẩm
thực đa dạng và phong phú của du khách trong và ngoài thành phố.
1.2.2.3. Dịch vụ vui chơi giải trí

sức thu hút lớn đối với du khách đến từ nhiều vùng miền của đất nước, đồng
thời đây còn là nơi trung chuyển tiếp nhận và đưa đón du khách đến mọi miền
của đất nước, với đặc điểm kinh tế văn hoá, cơ sở hạ tầng phát triển hàng đầu
cả nước, dân cư đông đúc trong đó người Kinh và người Hoa qua bao đời đã
hình thành nên cộng đồng đa tôn giáo và có sự giao thoa về văn hoá sâu sắc
thể hiện ở phong tục, tập quán, sự tồn tại của hàng ngàn di tích, các lễ hội
được tổ chức quanh năm. Từ năm 2002, du lịch ở thành phố Hồ Chí Minh có
tốc độ phát triển tương đối mạnh, khách quốc tế đến thành phố đạt 1.430.000
người, tăng 12,3% so với năm 2001. Số khách sạn trong thành phố, nhất là
các khách sạn đạt tiêu chuẩn chất lượng từ 3 đến 5 sao, có công suất sử dụng
buồng phòng rất cao. Năm 2003 do ảnh hưởng của dịch bệnh SARS nên
lượng khách đến có giảm, chỉ đạt 1.302.000 lượt. Năm 2004, lượng du khách
quốc tế đến với thành phố lại tăng, đạt 1.580.000, tăng 21% so với năm 2003.
Theo thống kê toàn ngành du lịch trong tổng lượng du khách đến với Việt
Nam, thành phố Hồ Chí Minh giữ vị trí số 1 về khả năng thu hút khách. Tính
riêng giai đoạn từ 2001 đến 2004 tỉ trọng đạt được là trên 50% so với khách
được toàn ngành du lịch đưa đón [32].
Theo thống kê mới nhất từ Tổng Cục Du lịch Việt Nam, tính đến 9
tháng đầu năm 2006, cả nước đón hơn 2.683.096 lượt khách du lịch quốc tế,
riêng thành phố Hồ Chí Minh đã đón được 1.670.000 lượt, chiếm 62,3% tổng
lượng khách vào cả nước [32].
Con số thống kê trên đã chứng tỏ sự năng động và biết tập trung mọi
nguồn lực cho phát triển các dịch vụ du lịch nhằm tạo sức hút đối với du
khách của ngành du lịch thành phố. Các nhà nghiên cứu về phát triển kinh tế
du lịch thành phố trong nhiều năm đã tổng kết kinh nghiệm trong công tác
này, như sau:
Thứ nhất: Tranh thủ mọi cơ hội, tập trung sức và lực cho việc đầu tư
vào cơ sở hạ tầng nhằm tạo mọi thuận lợi cho du khách trong và ngoài nước
khi đến với thành phố: từ sân bay Tân Sơn Nhất, đến Bến Cảng Nhà Rồng,
các trục lộ giao thông, đường sắt, đường thuỷ, đường bộ... Tuy thực tế còn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status