luận văn khách sạn du lịch đề tài đánh giá chất lượng của du lịch ở thành phố đà nẵng - Pdf 34

z

Chuyên đề tốt nghiệp

GVHD: Th.S. Nguyễn Thị Phương Thảo



LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

CHẤT LƯỢNG CỦA DU LỊCH Ở
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Giáo viên hướng dẫn

: Ths Nguyễn Thị Phương Thảo

Sinh viên thực hiện

: Đỗ Thị Hà Châu

SVTH: Đỗ Thị Hà Châu - Lớp 33k04

Trang 1


Chuyên đề tốt nghiệp

GVHD: Th.S. Nguyễn Thị Phương Thảo

Mục lục


GVHD: Th.S. Nguyễn Thị Phương Thảo

Phần III. Một số kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng du lịch ở TP Đà
Nẵng
1. Hoàn thiện các chỉ tiêu chất lượng dịch vụ
2. Tăng cường công tác quản lý chất lượng du lịch
3. Hoàn thiện công tácnhân sự
4. Hoàn thiện cơ sở vật chất ký thuật
5. Tăng cường chính sách quảng cáo
6. Một số giải pháp của thành phố và Nhà Nước
VI. KẾT LUẬN

SVTH: Đỗ Thị Hà Châu - Lớp 33k04

Trang 3


Chuyên đề tốt nghiệp

GVHD: Th.S. Nguyễn Thị Phương Thảo

LỜI MỞ ĐẦU
Nghị quyết Đại hội lần thứ XIX Đảng bộ thành phố Đà Nẵng đã xác định
phương hướng, nhiệm vụ và mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020, trong
đó chỉ rõ: Phát triển mạnh du lịch và các dịch vụ mà thành phố có thế mạnh, làm tiền
đề chuyển nền kinh tế thành phố từ cơ cấu “Công nghiệp - Dịch vụ -Nông nghiệp”
sang cơ cấu “Dịch vụ - Công nghiệp - Nông nghiệp" sau năm 2010. Phấn đấu đến năm
2010 đón 2 triệu lượt du khách, trong đó có 800.000 lượt khách quốc tế và 1,2 triệu
khách nội địa. Đồng thời, Bộ Chính trị (khoá IX) cũng đã ra Nghị Quyết số 33NQ/TW về xây dựng và phát triển thành phố Đà Nẵng trong thời kỳ công nghiệp hoá,

ngành “công nghiệp mũi nhọn ” trong xu thế phát triển công nghiệp hoá, hiện đại hoá
và hội nhập kinh tế.
Mục đích của đề tài: Dựa vào một số phương pháp đo lường nhằm đánh giá một
số tiêu chuẩn về chất lượng của du lịch thành phố, từ đó thấy được du lịch Đà Nẵng
đang ở vị trí nào và giải pháp nâng cao chất lượng của ngành du lịch Đà Nẵng .
I. Cơ sở lý luận
1. Khái niệm về du lịch
a. Du lịch là gì?
Ngày nay, du lịch đã thực sự trở thành một hiện tượng kinh tế xã hội phổ biến
không chỉ ở các nước phát triển mà còn ở các nước đang phát triển trong đó có Việt
Nam. Tuy nhiên, cho đến nay không chỉ ở nước ta nhận thức về nội dung du lịch vẫn
chưa thống nhất. Do hoàn cảnh (thời gian, khu vực) khác nhau, dưới mỗi góc độ
nghiên cứu khác nhau mỗi người có một cách hiểu về du lịch khác nhau. Đúng như
một chuyên gia du lịch nhận định: “Đối với du lịch có bao nhiêu tác giả nghiên cứu thì
có bấy nhiêu định nghĩa”
Như vậy, có khá nhiều khái niệm Du lịch nhưng tổng hợp lại ta thấy du lịch
hàm chứa các yếu tố cơ bản sau:
-

Du lịch là một hiện tượng kinh tế xã hội

-

Du lịch là sự di chuyển và tạm thời lưu trú ngoài nay ở thường xuyên

của các cá nhân hoặc tập thể nhằm thỏa mãn các nhu cầu đa dạng của họ.
-

Du lịch là tập hợp các hoạt động kinh doanh phong phú vad đa dạng


tổng hợp có hiệu quả cao về nhiều mặt: nâng cao hiểu biết về thiên nhiên, truyền thống
lịch sử và văn hoá dân tộc, từ đó góp phần tăng thêm tình yêu đất nước; đối với người
nước ngoài là tình hữu nghị với dân tộc mình; về mặt kinh tế, du lịch là lĩnh vực kinh
doah mang lại hiệu quả rất lớn: có thể coi là hình thức xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ
tại chỗ.
Việc phân định rõ ràng hai nội dung cơ bản của khái niệm có ý nghĩa góp phần
thúc đẩy sự phát triển du lịch. Cho đến nay, không ít người, thậm chí ngay cả các cán
bộ, nhân viên đang làm việc trong ngành du lịch, chỉ cho rằng du lịch là một ngành
kinh tế. Do đó, mục tiêu được quan tâm hàng đầu là mang lại hiệu quả kinh tế. Điều đó
cũng có thể đồng nghĩa với việc tận dụng triệt để mọi nguồn tài nguyên, mọi cơ hội để
kinh doanh. Trong khi đó, du lịch còn là một hiện tượng xã hội, nó góp phần nâng cao
dân trí, phục hồi sức khoẻ cộng đồng, giáo dục lòng yêu nước, tính đoàn kết, … Chính
vì vậy, toàn xã hội phải có trách nhiệm đóng góp, hỗ trợ, đầu tư cho du lịch phát triển
như đối với giáo dục, thể thao hoặc một lĩnh vực văn hoá khác.
Theo Pháp lệnh du lịch (do chủ tịch nước CHXNCN Việt Nam công bố ngày
20/02/1999): Du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của
mình nhằm thoả mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời
gian nhất định.

SVTH: Đỗ Thị Hà Châu - Lớp 33k04

Trang 6


Chuyên đề tốt nghiệp

GVHD: Th.S. Nguyễn Thị Phương Thảo

Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư
trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ



Chuyên đề tốt nghiệp

GVHD: Th.S. Nguyễn Thị Phương Thảo

nguyên trong khách sạn… Thậm chí, hầu hết khách sạn được khảo sát đều không có
biện pháp quản lý chất thải độc hại và chỉ 2% trong số đó có ý thức thu hồi pin thải.
Việc quản lý tiếng ồn tại những nơi này cũng là tự phát và cảm tính chứ không có giải
pháp mới có tính lâu dài, bền vững.
Chất lượng dịch vụ du lịch của Việt Nam còn ở mức yếu kém so với các nước
trong khu vực. Mức độ hài lòng của khách quốc tế khi đến Việt Nam kém hơn hẳn các
nước trong khu vực.
Chính vì thế, thực hiện chương trình khuyến mại, giảm giá, đồng thời nâng cao
chất lượng sản phẩm và dịch vụ du lịch là một thách thức không nhỏ. Cần phải thường
xuyên kiểm tra và nâng cao chất lượng trong ngành du lịch, chất lượng du lịch cao sẽ
thu hút được nhiều khách du lịch trong và ngoài nước, nếu chất lượng du lịch kém sẽ
kìm hãm sự phát triển của ngành gây ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế của đất nước.
c. Một số hình thức của du lịch
* Du lịch văn hóa – tâm linh
+ Du lịch tín ngưỡng là một hình thức du lịch phát triển rất mạnh ở nhiều quốc
gia trên thế giới. Du khách theo loại hình du lịch này thường tìm đến các đình, chùa,
các thắng tích tôn giáo để vãn cảnh, cúng bái, cầu nguyện,… Tại đây, du khách sẽ hòa
vào dòng tín đồ để cảm nhận vẻ yên bình, thanh thản ở những thắng tích tôn giáo nổi
tiếng.
Còn du lịch tâm linh gần đây đã hình thành và đang phát triển ở những quốc gia
châu Á, đặc biệt những quốc gia theo Phật giáo như Ấn Độ, Nhật Bản, Trung Quốc,
Thái Lan. Hàng năm, các cơ quan tôn giáo Nhật Bản kết hợp với các công ty lữ hành
tổ chức tour cho trên vài ngàn khách hành hương từ Nhật Bản đến các thánh tích Phật
giáo ở Ấn Độ. Thái Lan, Myanmar. Châu Âu hàng năm cũng đã tổ chức nhiều đoàn du

ngoài. Bởi thế, thu hút khách du lịch tham gia du lịch văn hóa tức là tạo ra dòng chảy
mới và cải thiện cuộc sống của người dân địa phương. Ở những nước kém phát triển
hoặc đang phát triển, nền tảng phát triển phần lớn không dựa vào những đầu tư lớn để
tạo ra những điểm du lịch đắt tiền, mà thường dựa vào nguồn du lịch tự nhiên và sự đa
dạng trong bản sắc dân tộc. Những nguồn lợi này không tạo ra giá trị lớn cho ngành du
lịch, nhưng lại đóng góp đáng kể cho sự phát triển của cộng đồng xã hội. Những quốc
gia phát triển mạnh du lịch văn hóa là Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Trung Quốc, và
một số nước thuộc khu vực Nam Mỹ....
Ở Việt Nam, nhiều hoạt động du lịch văn hóa được tổ chức dựa trên những đặc
điểm của vùng miền. Chương trình Lễ hội Đất Phương Nam (Lễ hội văn hóa dân gian
vùng Đồng bằng Nam bộ), Du lịch Điện Biên (Lễ hội văn hóa Tây Bắc kết hợp với sự
kiện chính trị: 50 năm chiến thắng Điện Biên Phủ), Con đường Di sản miền Trung (Lễ
hội dân gian kết hợp tham quan những di sản văn hóa được UNESCO công nhận)... là
những hoạt động của du lịch văn hóa, thu hút nhiều khách du lịch trong và ngoài nước.
Trong số đó, Festival Huế được xem là hoạt động du lịch văn hóa đặc sắc nhất Việt

SVTH: Đỗ Thị Hà Châu - Lớp 33k04

Trang 9


Chuyên đề tốt nghiệp

GVHD: Th.S. Nguyễn Thị Phương Thảo

Nam. Lễ hội được tổ chức thường xuyên 2 năm một lần, với sự hỗ trợ của Chính phủ
Pháp. Festival Huế 2004 là lần thứ ba VN có dịp giới thiệu với du khách về lễ hội dân
gian của miền Trung, đặc biệt là Nhã nhạc cung đình Huế - một di sản phi vật thể vừa
được UNESCO cộng nhận; và Lễ tế đàn Nam Giao - một lễ hội vương triều thất truyền
từ hàng chục năm nay. Ngoài ra, lễ hội dân gian này còn có sự tham gia của các nước

Chuyên đề tốt nghiệp

GVHD: Th.S. Nguyễn Thị Phương Thảo

bãi biển Nha Trang là “bãi biển tồi nhất” trong số 99 bãi biển nổi tiếng của thế giới.
Việc đánh giá biển dựa trên sáu tiêu chí, gồm: chất lượng sinh thái và môi trường; sự
gắn kết giữa văn hóa và xã hội; điều kiện của các khu nhà cổ; đường nét thẩm mỹ; chất
lượng điều hành du lịch và triển vọng trong tương lai.
Theo đó, bãi biển Nha Trang bị “đội sổ” vì tình trạng phát triển thương mại quá
nóng, rất nhiều các nhà hàng và khách sạn được xây dựng bất hợp lý dọc các bãi biển,
lượng khách du lịch quá tải kèm theo sự xuống cấp của môi trường…
Dù còn một số thiếu sót nhưng những danh lam thắng cảnh Việt Nam vẫn nhận
được sự ủng hộ và yêu mến của du khách nước ngoài trong năm vừa qua.
* Du lịch sinh thái
Hiện nay, có nhiều cách hiểu khác nhau về du lịch sinh thái. Gần đây Tổ chức
du lịch thế giới (WTO) và Chương trình môi trường Liên hiệp quốc (UNDP) đề ra các
đặc điểm sau đây của Du lịch sinh thái:
+ Tất cả các hình thức du lịch dựa vào tự nhiên, trong đó động cơ chủ yếu của
khách du lịch là quan sát và đánh giá tự nhiên cũng như các truyền thống văn hóa từ
các khu vực tự nhiên ấy.
+ Nó chứa đựng tính chất giáo dục và giải thích.
+ Thường tổ chức thành các nhóm nhỏ có cùng chuyên môn hay ở cùng một
nơi.
+ Hạn chế ít nhất tác dụng tiêu cực đối với môi trường tự nhiên hay kinh tế văn hóa.
+ Hỗ trợ việc bảo vệ môi trường tự nhiên bằng cách:
> Tạo lãi kinh tế cho các cộng đồng, tổ chức và chính quyền quản lý khu vực tự
nhiên với mục đích bảo vệ.
> Tạo việc làm và thu nhập thêm cho cộng đồng địa phương.
> Tăng sự quan tâm đối với việc bảo vệ các di sản tự nhiên và văn hóa cho dân
địa phương và khách du lịch.

Các chuyên gia ngành Du lịch cũng cho rằng, chúng ta mới chỉ đi những bước đầu tiên
bước vào thị trương MiCE nên chưa có sự phát triển đồng bộ. Việc quảng bá loại hình
này ra nước ngoài nói riêng và du lịch Việt Nam nói chung còn yếu và thiếu tính
chuyên nghiệp.
Về chất lượng phục vụ, các hãng lữ hành Việt Nam có tầm cỡ cũng chỉ mới
dám đảm bảo đúng yêu cầu phía đối tác đặt ra, chưa có sự sáng tạo, hấp dẫn đối với
khách. Các thành phố lớn vẫn chưa có những trung tâm mua sắm đủ sức hấp dẫn du
khách, rồi tình trạng kẹt xe, đường xá xấu, đeo bám khách...cũng khiến khách "ngán
ngẩm".
SVTH: Đỗ Thị Hà Châu - Lớp 33k04

Trang 12


Chuyên đề tốt nghiệp

GVHD: Th.S. Nguyễn Thị Phương Thảo

Mặc dù, trong năm trở lại đây, nhiều Công ty như Saigontourist, Công ty
Thương mại- Dịch vụ TSC, Công ty Du lịch Fiditourist, Hapro Tour...đã mạnh dạn
"nhảy vào" thị trường này nhưng theo nhiều Giám đốc khách sạn, lữ hành, nước ta
chưa có hạ tầng du lịch và đội ngũ nhân lực đáp ứng để tiến đến chuyên nghiệp tổ
chức MICE tour.
2. Du lịch bền vững ?
Du lịch biền vững là : Việc di chuyển và tham quan đến các vùng tự nhiên một
cách có trách nhiệm với môi trường để tận hưởng và đánh giá cao tự nhiên (và tất cả
những đặc điểm văn hoá kèm theo, có thể là trong quá khứ và cả hiện tại) theo cách
khuyến cáo về bảo tồn, có tác động thấp từ du khách và mang lại những lợi ích cho sự
tham gia chủ động về kinh tê-xã hội của cộng đồng địa phương.
(World Conservation Union,1996)

nguồn từ các tổ chức chính phủ và quốc tế. Cần có các chính sách và trợ cấp xã hội để
khuyến khích đầu tư tư nhân vào du lịch xanh, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc
phát triển du lịch bền vững. Để hướng tới ngành du lịch xanh thì xây dựng các chiến
lược phát triển và hoạch định điểm đến là những việc cần làm ngay từ bây giờ.
Hướng đến du lịch bền vững đồng nghĩa với việc tạo thêm việc làm cũng như
thu nhập cho cộng đồng dân cư, đáp ứng nhu cầu du khách về trải nghiệm du lịch
mang tính bền vững, tăng tính cạnh tranh và giảm chi tiêu trong quá trình kinh doanh
du lịch.
Tiêu chuẩn du lịch bền vững toàn cầu hướng tới các mục tiêu chính là hoạch
định phát triển bền vững và hiệu quả, nâng cao lợi ích kinh tế xã hội cho cộng đồng
địa phương, gìn giữ di sản văn hóa và giảm thiểu những ảnh hưởng tiêu cực đối với
môi trường. Để phát triển du lịch bền vững, chúng ta cần quan tâm tới nhiều khía cạnh,
trong đó việc xây dựng chính sách sử dụng tài nguyên một cách hợp lí là một yếu tố
đáng được quan tâm hàng đầu. Ngày 29-12-2010, Tổng cục Du lịch (Bộ VH,TT&DL)
đã chọn được biểu trưng nhãn du lịch sinh thái "Bông sen xanh" dùng để chứng nhận
cho cơ sở lưu trú tại Việt Nam thực hiện tốt các hoạt động bảo vệ môi trường. Trên
thực tế, không quan tâm và thiếu các biện pháp bảo vệ môi trường tại các khách sạn,
nhà nghỉ… đang trở thành "rào cản" ảnh hưởng đến sự phát triển du lịch bền vững.
3. Tác động của phát triển du lịch đến phát triển kinh tế : Phát triển du lịch
mang tính hai mặt :
Một mặt, Có khả năng đóng góp tích cực cho phát triển kinh tế xã hội : Theo
thống kê của Tổ chức Du lịch trên thế giới (UNWTO) và Hiệp hội Lữ hành quốc tế
(WTTC)năm 2000 thu nhập ngành du lịch chiếm tới 10,7% GDP của toàn thế giới. ở
Việt Nam năm 2007 thu nhập ngành du lịch lên đến 11%. Ước tính lượng du khách
quốc tế năm 2010 là 1100 triệu lượt, năm 2020 đạt khoảng 1600 lượt triệu du khách.

SVTH: Đỗ Thị Hà Châu - Lớp 33k04

Trang 14


Đội ngũ làm công tác xúc tiến du lịch còn yếu và thiếu; Nhận thức của nhiều cấp,
nhiều ngành và địa phương về vị trí vai trò của Du lịch trong phát triển kinh tế - xã hội
của đất nước chưa thật sự đầy đủ…
Hoạt động du lịch làm cho môi trường bị xuống cấp và dần mất đi đặc thù của
mỗi địa phương. Ngày nay có nhiều cơ sở lưu trú, dịch vụ du lịch xây dựng trên các

SVTH: Đỗ Thị Hà Châu - Lớp 33k04

Trang 15


Chuyên đề tốt nghiệp

GVHD: Th.S. Nguyễn Thị Phương Thảo

đảo không theo quy hoạch, đã làm tăng nguy cơ xói mòn đường bờ, làm suy thoái hệ
sinh thái biển đảo. Nước thải chưa qua xử lý từ các cơ sở lưu trú, dịch vụ du lịch xả
trực tiếp vào môi trường, làm tăng mức độ hữu cơ nước biển ven bờ.
Ngoài ô nhiễm dầu nước biển ven bờ do các phương tiện tàu thuyền vận tải
khách du lịch, phương tiện vui chơi, thể thao nước, khai thác san hô phục vụ nhu cầu
làm hàng lưu niệm... cũng góp phần làm suy thoái hệ sinh thái nhiệt đới. Hậu quả là
các bãi biển nổi tiếng của Việt Nam đang đối mặt với nguy cơ ô nhiễm môi trường
nước biển nghiêm trọng.
II. Chất lượng của du lịch ở thành phố Đà Nẵng
1. Du lịch biển ở TP Đà Nẵng
Đà Nẵng là một trong số 28 thành phố ven biển của cả nước và là một trong số
14 tỉnh, thành phố có bờ biển của khu vực Miền Trung, có 6/8 quận, huyện của thành
phố tiếp giáp với biển, trong đó có huyện đảo Hoàng Sa. Thành phố có hơn 92 km bờ
biển, với 80% dân số đang sinh sống tại các quận, huyện. Biển đã và sẽ tạo ra vị thế
phát triển cho thành phố Đà Nẵng thông qua các lĩnh vực khai thác thủy sản, du lịch,

với biển. Vấn đề làm cản trở sức hấp dẫn của du lịch biển Đà Nẵng đã được không ít
du khách cho rằng: các dịch vụ vui chơi giải trí ở các khu du lịch biển dường như quá
thiếu và nghèo nàn. Bên cạnh đó, chất lượng, giá cả các loại hình kinh doanh dịch vụ
tại các khu du lịch biển cũng cần phải xem lại.
2. Sự phát triển của du lịch Đà Nẵng trong những năm gần đây
a. Sự phát triển của du lịch Đà Nẵng
Trong thời gian qua, ngành du lịch Đà Nẵng đã có những bước chuyển mình rõ
nét mang lại sắc thái mới cho sự phát triển chung của thành phố. Xác định tầm quan
trọng của du lịch trong cơ cấu kinh tế của thành phố, tháng 2-2002, BCH Đảng bộ
thành phố Đà Nẵng đã ban hành Nghị quyết số 03-NQ/TU về ‘Đẩy mạnh phát triển du
lịch thành phố Đà Nẵng trong thời kỳ mới’, đồng thời UBND thành phố cũng xây
dựng Chương trình phát triển du lịch thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2007-2010 nhằm
đẩy mạnh đầu tư, phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của thành phố.
Trong đó, tập trung xây dựng bốn chương trình phát triển du lịch đến năm 2010 gồm:
phát triển nguồn nhân lực du lịch, phát triển sản phẩm du lịch, chương trình về cơ chế
chính sách và xúc tiến, quảng bá du lịch. UBND thành phố cũng đã có chủ trương tiến
hành quy hoạch để kêu gọi đầu tư du lịch, trọng tâm là vệt du lịch biển Mỹ Khê – Non
Nước, khu du lịch Bà Nà, bán đảo Sơn Trà và trung tâm thành phố. Đầu tư phát triển
và nâng cấp các sản phẩm du lịch. Thành phố ưu tiên đầu tư xây dựng hệ thống giao
thông ven biển từ bãi biển Nam Ô đến Non Nước với chiều dài khoảng 50 km được
kết nối qua Cầu Thuận Phước làm đòn bẩy khai thác, phát triển du lịch ven biển theo
quy hoạch. Trong năm 2010, nhiều dự án lớn đã đưa vào khai thác: khu du lịch Sơn
Trà Spa, khu Olalani, khu du lịch SliverShore Hoàng Đạt, Life Resort, khu du lịch
Xuân Thiều, Bà Nà với 1.072 phòng, trung tâm hội nghị, hội thảo, nhà hàng với sức

SVTH: Đỗ Thị Hà Châu - Lớp 33k04

Trang 17



214.137

351.059

2003

513.834

174.453

339.381

2004

649.106

236.459

412.647

2005

659.456

227.826

431.630

2006


2010

1.770.000

370.000

1.400.000

(Nguồn: Số liệu thực trạng phát triển du lịch trong giai đoạn 1995-2010 - Sở
Văn hóa, Thể thao và Du lịch).
Những năm qua, khách du lịch đến Đà Nẵng tăng nhanh và ổn định. Trong giai
đoạn từ năm 2001-2010, lượng khách du lịch đến Đà Nẵng đã đạt được mức tăng
trưởng khá bình quân hằng năm tăng từ 13 đến 15%. Năm 2009, tổng doanh thu
chuyên ngành đạt 900 tỷ đồng, tăng 3% cùng kỳ năm 2008 và vượt kế hoạch 6%. Thu
nhập xã hội từ hoạt động du lịch đạt 2.250 tỷ đồng. Năm 2010, dự kiến đón 1.450.000
lượt khách, trong đó có 350.000 lượt khách quốc tế và 1.100.000 lượt khách nội địa,
tốc độ tăng trưởng bình quân 14%/năm; tổng doanh thu chuyên ngành du lịch ước đạt

SVTH: Đỗ Thị Hà Châu - Lớp 33k04

Trang 18


Chuyên đề tốt nghiệp

GVHD: Th.S. Nguyễn Thị Phương Thảo

1.015 tỷ đồng, tốc độ tăng doanh thu bình quân 15%/năm và doanh thu xã hội ước đạt
2.537 tỷ đồng. Tuy nhiên trên thực tế, đến hết năm 2010, theo báo cáo “Tình hình
thực hiện kế hoạch năm 2010 và kế hoạch phát triển sự nghiệp văn hóa thể thao và du

Trang 19


Chuyên đề tốt nghiệp

GVHD: Th.S. Nguyễn Thị Phương Thảo

Băngkok,…đến Đà Nẵng và ngược lại, tiếp tục phát huy, giữ gìn môi trường du lịch an
toàn, thân thiện và một số nhiệm vụ khác.
Theo báo cáo của Sở Kế hoạch và Đầu tư Đà Nẵng, tính đến tháng 6/2010, Đà
Nẵng có 55 dự án đầu tư vào lĩnh vực du lịch với tổng vốn 2.835,7 triệu USD (gần
54.000 tỷ đồng), gồm 10 dự án đầu tư nước ngoài (1.212 triệu USD, tương đương
23.000 tỷ đồng) và 45 dự án đầu tư trong nước (1.623,7 triệu USD, tương đương
31.000 tỷ đồng). Từ năm 2007 đến nay, tại Đà Nẵng đã có một số khách sạn được đầu
tư lớn đưa vào hoạt động, điển hình như Hoàng Anh Gia Lai Plaza tại khu vực trung
tâm thành phố, khách sạn Green Plaza được đầu tư mới, khang trang, tọa lạc bên bờ
sông Hàn và một loạt khách sạn mới đưa vào hoạt động, đã làm thay đổi hẳn diện mạo
thành phố. Đến nay, nhóm khách sạn 3 sao theo chuẩn mới như Saigontourane,
Bamboo Green Riverside, Golden Sea, Pacific, Phương Đông, Bạch Đằng, Minh Toàn,
Danang Riverside… đã và đang được đầu tư nâng cấp và triển khai nhiều dịch vụ
nhằm phục vụ tốt hơn nhu cầu của du khách. Hiện tại, các khách sạn, khu resort ven
biển đã đáp ứng được nhu cầu của du khách với số lượng lớn.
Tuy nhiên, do hạn chế về kinh phí và nhất là sự nghèo nàn về ý
tưởng nên ngành du lịch - thương mại TP vẫn chưa tạo được những sản phẩm đặc
trưng, chủ lực; các tuyến điểm được mở rộng, dịch vụ tại đó được cải thiện nhưng chỉ
chủ yếu phục vụ khách nội địa, không gây được ấn tượng mạnh thu hút khách quốc tế.
Sự ô nhiễm môi trường biển ở Đà Nẵng do sự thiếu ý thức của một số khách du lịch;
đồng thời việc xử lý nước thải, rác thải của các dịch vụ phục vụ du lịch, các nhà hàng,
khách sạn trên bờ biển đã làm ảnh hưởng lớn đến môi trường.
Mục tiêu định hướng hướng phát triển của du lịch Đà Nẵng là tạo đột phá để du

một điểm đến, để khai thác hiệu quả sản phẩm du lịch đa dạng của khu vực trọng điểm
du lịch miền trung và cả nước trong những năm tới.
b. Xu hướng phát triển du lịch của Việt Nam và thế giới
Theo TS. Lưu Đức Hải, Viện chiến lược và phát triển (Bộ Kế hoạch và Đầu tư),
hiện nay trên thế giới phát triển du lịch theo hai xu hướng: Phát triển theo mô hình đa
dạng hoá các sản phẩm du lịch; Phát triển du lịch chỉ tập trung vào khai thác một hoặc
hai tài nguyên du lịch nổi trội nhất. Mặc dù xu hướng thứ nhất được nhiều nước áp
dụng, nhưng trên thực tế, các nước phát triển theo xu hướng thứ hai lại gặt hái được
nhiều thành công hơn, tiêu biểu như Hung-ga-ri, Hy Lạp và một số nước phát triển
khác. Vì vậy, TS. Lưu Đức Hải cho rằng: Việt Nam nên phát triển theo xu hướng thứ
hai, tức là tập trung khai thác nguồn tài nguyên du lịch biển, tài nguyên du lịch núi và
tài nguyên du lịch 7 di sản thiên nhiên, văn hoá thế giới, trong đó ưu tiên vào các khu
du lịch trọng điểm: Phú Quốc; Nha Trang; Vân Đồn - Hạ Long - Cát Bà; Đà Lạt; Tam
Đảo và phụ cận; Huế - Hội An.
Để du lịch Việt Nam phát triển bền vững trong quá trình hội nhập quốc tế, TS.
Nguyễn Minh Phong (Viện nghiên cứu kinh tế - xã hội Hà Nội) đã đưa ra “ba đột
SVTH: Đỗ Thị Hà Châu - Lớp 33k04

Trang 21


Chuyên đề tốt nghiệp

GVHD: Th.S. Nguyễn Thị Phương Thảo

phá”, đó là: Đột phá trong đặc sản hoá và đa dạng hoá sản phẩm du lịch; Đột phá trong
xã hội hoá và hợp tác hoá tổ chức du lịch; Đột phá trong chuyên nghiệp hoá, hiện đại
hoá cơ sở hạ tầng du lịch.
3. Các phương pháp đo lường chất lượng du lịch
a. Phương pháp thống kê : Ứng dụng của phương pháp thống kê trong thực tế

+ Kiểm định giả thiết : Nhằm xác định giả thuyết đặt ra là đúng hay sai so với
thực tế.
Tổng quan, phương pháp này dùng để đưa ra quyết định về một vấn đề của tổng
thể chung trên cơ sở những kết quả của mẫu.
b. Phương pháp điều tra xã hội học
Khảo sát dư luận hay điều tra xã hội học là một công tác đặc thù. Đối với cơ
quan nhà nước, điều tra xã hội học giúp nắm bắt dư luận, tiếp nhận ý kiến, sáng kiến
của người dân để đánh giá hiệu quả của công tác hành chính nhằm điều chỉnh, thực
hiện hoặc trì hoãn một chủ trương, chính sách, để phục vụ nhân dân tốt hơn. Phương
pháp điều tra xã hội học trong đo lường chất lượng du lịch là phương pháp thăm dò ý
kiến của cá nhân tổ chức hay người dân xung quanh địa điểm du lịch cần đánh giá, từ
đó tổng hợp lại đưa ra đánh giá chung về chất lượng du lịch tại nơi nghiên cứu.

SVTH: Đỗ Thị Hà Châu - Lớp 33k04

Trang 23


Chuyên đề tốt nghiệp

GVHD: Th.S. Nguyễn Thị Phương Thảo

Sơ đồ thực tế của một phương pháp nghiên cứu xã hội :
Thực tế xã
hội

Xác định vấn đề
cần nghiên cứu

Tiến hành thu thập

SVTH: Đỗ Thị Hà Châu - Lớp 33k04

Xã hội hóa kết
quả nghiên cứu

Trình bày báo
cáo kết quả
nghiên cứu

Kiểm định giả
thuyết nghiên
cứu

Tập hợp tài liệu
xử lý và phân
tích

Xử lý và phân
tích thông tin

Trang 24


Chuyên đề tốt nghiệp

GVHD: Th.S. Nguyễn Thị Phương Thảo

Một số phương pháp thu thập thông tin trong điều tra xã hội học :
** Điều tra chọn mẫu : Phương pháp điều tra chọn mẫu là loại điều tra không
toàn bộ, vận dụng lý thuyết xác suất chọn ngẫu nhiên một số đơn vị trong tổng thể


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status