Tài liệu Liên Hiệp Quốc - ESCAP: Hội thảo tập huấn về hỗ trợ và xúc tiến đầu tư - Pdf 90

Hội thảo Tập huấn về Xúc tiến và Hỗ trợ Đầu tư,
Bài 1 Trang 1
Liên Hiệp Quốc – ESCAP

Hội thảo tập huấn về Hỗ trợ và Xúc tiến Đầu tư

Bài 1

“Bối cảnh: Xu hướng đầu tư nước ngoài trên toàn thế giới, Cạnh tranh và
Chức năng Xúc tiến Đầu tư”
Trình bày

Asia Policy Research Co., Ltd., 2003
1. Xu hướng Kinh doanh và Đầu tư nước ngoài (ĐTNN) trên thế giới và trong khu vực;
Vai trò của Hiệp định Mậu dịch Tự do Asian (AFTA): Những ảnh hưởng đối với Khu
vực Đông Dương

Dưới cả hai quan điểm kinh doanh và chính trị, bất kỳ chiến lược xúc tiến đầu tư nào cũng phải
được thiết lập để thích ứng với những xu hướng kinh tế và thương mại hiện tại trong khu vực và
trên toàn thế giới. Và bất kỳ nỗ lực thúc đẩy tính cạnh tranh nào cũng phải liên quan đến việc tạo ra
môi trường kinh doanh cạnh tranh. Đánh giá sau đây về các xu hướng kinh doanh có ảnh hưởng
nhất trong khu vực và toàn cầu sẽ đưa ra bối cảnh trong đó sẽ thực hiện cuộc vận động tăng cường
các dòng đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Đông Dương.

Toàn Cầu Hoá. Quá trình toàn cầu hóa, mức độ phụ thuộc lẫn nhau nhiều hơn của các nền kinh tế,

1990 xuống còn 25% trong năm 2002.

Để tranh thủ được các dòng đầu tư trực tiếp nước ngoài, các nền kinh tế ở Đông Dương sẽ phải điều
chỉnh các nhân tố quyết định mới tác động dòng ĐTNN. Theo truyền thống thì các dòng đầu tư nước
ngoài bị hấp dẫn bởi các thị trường nội địa rộng lớn (thường được bảo vệ bằng các hàng rào thuế
quan cao), các nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào, nhân công rẻ mạt với tay nghề trung bình hoặc
không có kỹ năng. Các xu hướng kinh doanh và kinh tế toàn cầu hiện tại cho thấy rằng các nhân tố
truyền thống này trong việc quyết định địa điểm của dòng đầu tư nước ngoài đã không còn quan
trọng như trước đây nữa, và thay vào đó là một loạt những nhân tố mới.

Tiếp cận các thị trường nội địa rộng lớn nay đã trở nên ít quan trọng hơn với quyết định đầu tư, đó là
kết quả của việc dỡ bỏ các rào cảng thương mại và yêu cầu nội địa tại nhiều nước, mặc dù trong một
số trường hợp thì những sản phẩm chỉ sẵn sàng đến tay người tiêu dùng thông qua đầu tư trực tiếp,
các thị trường nội địa rộng lớn vẫn giữ được sự hấp dẫn của nó (như Trung Quốc, Việt Nam) trong
khi sự tác động của yêu cầu nội địa đã giảm sút là kết quả của những cam kết trong khu vực và toàn
cầu (ví dụ: TRIMS). Việc tiếp cận với các nguồn tài nguyên thiên nhiên là nhân tố chính trong việc
thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng đã giảm sút đáng kể (ngoại trừ dầu lửa và khí đốt) vì sự lớn
mạnh của nền kinh tế tri thức và nền kinh tế giá trị gia tăng dẫn đến sự giảm sút vai trò của các sản
phẩm sơ cấp. Tương tự như vậy, lao động giản đơn với chi phí thấp không còn giữ vị trí quan trọng
như trước đây trong việc thu hút đầu tư nước ngoài vì thậm chí các hoạt động sử dụng nhiều lao
động giản đơn vẫn đòi hỏi phải nâng cấp các kỹ năng và công nghệ mới với định hướng sản xuất
thiên về người tiêu dùng và các thị trường phức tạp hơn.

Vì vậy, các nhân tố quyết định mới của vị trí dòng đầu tư trực tiếp nước ngoài đang thay đổi và trở
nên thiết yếu với quá trình tự do hóa kinh tế mạnh mẽ trong một khung pháp lý ổn định, tiến bộ kỹ
thuật nhanh chóng trong các lĩnh vực vận tải, truyền thông, thông tin, các kỹ thuật quản lý và tổ
chức công ty mới. Khả năng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của các nước Đông Dương trong
hiện tại và tương lai sẽ phụ thuộc rất lớn vào khả năng cung cấp các kỹ năng, cơ sở hạ tầng tốt, các
hệ thống tài chính, pháp lý ổn định và hiệu quả cao, những nhà cung cấp có khả năng, và các tổ chức
có khả năng trang bị kỹ thuật tốt.

Sản xuất và công nghệ. Hai xu hướng quan trọng nhất trong sản xuất và công nghệ là vòng đời của
sản phẩm và công nghệ đang bị thu ngắn dần lại, sự thay đổi nhanh chóng trong công nghệ thông tin
và kỹ nghệ truyền thông. Những sự thay đổi đang tăng áp lực lên nhu cầu hợp tác trong vùng trong
khi chuẩn bị công cụ để đón đầu các thay đổi này. Tuy nhiên các quốc gia đang phát triển hiểu rõ
nhu cầu phải cải thiện năng lực của họ trong việc tiếp nhận và hấp thụ công nghệ thông tin và kỹ
nghệ truyền thông, họ thấy rằng họ không thể bắt kịp những tiến bộ vượt bậc trong lĩnh vực này.

Quản lý. Các nguyên tắc quản lý như tính minh bạch, khả năng giải trình kế toán, khả năng dự
đoán, công bằng và dân chủ đang ngày càng được chấp nhận rộng rãi trên phạm vi thế giới. Đặc biết
là cuộc khủng hoảng kinh tế Châu Á nâng cao nhận thức về sự cần thiết của hệ thống quản lý hiệu
quả và khả năng giải trình kế toán, các nhà đầu tư nước ngoài và tổ chức đa phương đang xem xét
các quốc gia có địa điểm đầu tư tiềm năng kỹ càng hơn nữa trong những khu vực này trước khi ràng
buộc các nguồn lực của họ vào đây. Vì vậy, các quốc gia muốn thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài
phải chấp nhận thay đổi hệ thống quản lý doanh nghiệp phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế và phù
hợp với cơ cấu lĩnh vực nhà nước và tư nhân và năng lực thực thi của chính họ.

Sự tăng trưởng của các nhóm trong khu vực và các nhóm phụ cận. Cùng với các xu hướng thiên
về tự do thương mại toàn cầu trong phạm vi WTO, khuôn khổ hợp tác kinh tế trong vùng và vùng
phụ cận đã xuất hiện một cách nhanh chóng trên toàn cầu. Các nhóm bao gồm những thoả thuận
chung chính thức như SAARC và hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á ASEAN và các hình thức ít
trang trọng hơn như tổ chức diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á Thái Bình (APEC), BIMST-EC (Tổ
chức Hợp tác Kinh tế giữa các quốc gia Bangladesh, India, Myanmar, Sri Lanka, ThaiLand) và Tổ
chức Hợp tác Kinh tế Vùng Đồng bằng Sông Mekông. Thông thường thì các hiệp định này cung cấp
những cơ chế hiệu quả các nền kinh tế nhỏ hơn trong nỗ lực hòa nhập vào thị trường toàn cầu và cho
cả những nền kinh tế lớn hơn trong việc tạo ra cơ hội để tận dụng lợi thế quy mô của các nền kinh tế
trong khu vực và vùng phụ cận. Đặc biệt liên quan đến các quốc gia ở Đông Dương, đó là việc thành
lập Khu vực Tự Do Thương mại ASEAN và Khu vực Đầu tư ASEAN mà dự kiến sẽ tạo nên sự thu
hút lớn đối với các nhà đầu tư nước ngoài và cho phép các quốc gia tương đối nhỏ có như
Campuchia và Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào có thể mở rộng thị trường của họ và đẩy mạnh đầu
tư nước ngoài ở một diện rộng hơn.

Lợi ích thu nhập từ thuế - Đầu tư trực tiếp nước ngoài sẽ mở rộng cơ sở thu thuế địa phương và
đóng góp vào thu nhập từ thuế cho Chính phủ. Thậm chí trong trường hợp các nhà đầu tư nước
ngoài được miễn hoàn toàn thuế thu nhập doanh nghiệp, thì Chính phủ cũng có thể tạo ra được
nguồn thu từ thuế thu nhập cá nhân và các lọai thế gián thu khác.

Những tác động tích cực lên đầu tư địa phương – Các dòng đầu tư trực tiếp nước ngoài vào sẽ
khuyến khích sự phát triển của đầu tư trong nước vì các công ty địa phương có thể tiếp cận với các
nguồn phân phối, trở thành những nhà cung ứng và/hoặc là phản ứng lại sự cạnh tranh từ các công ty
nước ngoài.

Chuyển giao công nghệ - Đầu tư trực tiếp nước ngoài có thể tạo cơ hội cho một quốc gia tiếp cận
với và phát triển công nghệ thông qua việc chuyển nhượng quyền sở hữu, liên doanh, mậu dịch địa
phương và thành lập các trung tâm nghiên cứu và phát triển ở địa phương

Nâng cao trình độ chuyên môn cho công nhân – Lao động địa phương có thể được tiếp cận với kỹ
thuật chuyên môn và quỹ năng quản lý. Điều này sẽ kích thích năng suất, tinh thần doanh nghiệp và
đẩy mạnh chất lượng giáo dục địa phương.

Cải thiện tình hình xuất khẩu – Đa số đầu tư trực tiếp nước ngoài đều chú trọng xuất khẩu. Với
khả năng tiếp cận dễ dàng của họ với các thị trường nước ngoài và hệ thống phân phối toàn cầu, các
công ty nước ngoài có thể xuất khẩu hiệu quả hơn các công ty nội địa. Nếu như đầu tư trực tiếp nước
ngoài được quản lý một cách đúng đắn, thì nhiều quốc gia có thể sử dụng nó như là một phương tiện
để gia tăng mức xuất khẩu và cải thiện thu nhập ngoại hối.

Nâng cao khả năng cạnh tranh quốc tế của các công ty địa phương – Dựa trên sự tác động qua lại
giữa các công ty có vốn đầu tư nước ngoài, các công ty địa phương có thể nâng cao chất lượng và độ
tin cậy, do đó, sẽ trở nên cạnh cạnh hơn trong thị trường quốc tế. Đại thể hơn, đầu tư trực tiếp nước
ngoài có thể cải thiện khả năng tăng trưởng kinh tế toàn diện nhờ tăng cạnh tranh trong các lĩnh vực
mà một số lượng nhỏ các công ty địa phương chiếm ưu thế. Tuy nhiên, trong hoàn cảnh thị trường
thế giới phát triển quá nhanh chóng như được mô tả ở trên, thì những thách thức lớn nhất của việc

đến việc xây dựng môi trường hoạt động (nhân tố a) cho các công ty trong phạm vi các nền kinh tế
thuộc Đông Dương, cho cả những cá nhân lẫn tập thể được gọi là “nền tảng kinh tế vi mô” (đó là các
nhân tố b và c) có thể phát triển mạnh.

Một mục tiêu chính của phát triển được chấp nhận rộng rãi là tạo ra “điều kiện cho sản lượng tăng
nhanh và liên tục”, cơ sở nói trên cho phép xem xét rõ ràng nền tảng vĩ mô luôn đòi hỏi được phát
triển, và nền tảng vi mô phản ánh các mối quan tâm và các vấn đề của các đơn vị hoạt động kinh
doanh (ví dụ, các doanh nghiệp) tạo ra của cải trong nền kinh tế. Do đó, không hạ thấp tầm quan
trọng của những vấn đề vĩ mô, một cá nhân có thể kiểm tra chi tiết các nhân tố vi mô cần được xem
xét để hỗ trợ các hoạt động của cộng đồng kinh tế; cụ thể là cơ sở hạ tầng, những định chế tiên tiến,
và nguồn nhân lực cần thiết cho các công ty phát triển những chiến lược kinh doanh phức tạp hơn.

Giáo sư Porter mô tả đặc điểm kinh doanh của của môi trường vi mô bằng bốn ảnh hưởng có liên
quan tới nhau:

 Điều kiện nhân tố (đầu vào): Chất lượng và sự chuyên môn hóa của các đầu cơ bản mà các
công ty rút ra được trong cạnh tranh.

 Điều kiện cầu: Sự phức tạp của nhu cầu trong nước và áp lực phải đổi mới từ những người
mua địa phương.

 Những ngành công nghiệp có liên quan và những ngành công nghiệp hổ trợ: Sự sẵn có và
chất lượng của những nhà cung ứng địa phương và các ngành công nghiệp có liên quan.

 Bối cảnh cho chiến lược công ty và sự cạnh tranh: Bối cảnh hình thành đầu tư công ty,
những loại chiến lược được sử dụng, và cường độ cạnh tranh địa phương.

Để hiểu sâu sắc về (và có ảnh hưởng tới) môi trường kinh doanh kinh tế vi mô với mục đích tăng
cường tính cạnh tranh và duy trì sự bền vững, các yếu tố trên cần được xem xét kỹ lưỡng.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status