Tạp chí Khoa học & Công nghệ
-
Số 4
(
48
) Tp 1
/
Năm 2008
Khoa học Sự sống40
Một số đặc đIểm của thảm thực vật thứ sinh Tại huyện yên thế - bắc giang
Lê Ngọc Công - Giáp Thị Hồng Anh - Bùi Thị Dậu (Trờng ĐH S phạm- ĐH Thái Nguyên)
1. Đặt vấn đề
Bắc Giang là tỉnh thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam với địa hình miền núi và trung du.
Theo số liệu kiểm kê năm 2005, tổng số diện tích đất tự nhiên của tỉnh Bắc Giang là 382.331 ha,
trong đó diện tích đất lâm nghiệp là 129.164 ha, chiếm 33,78%. Bao gồm rừng sản xuất (64.393
ha), rừng phòng hộ (49.953 ha), rừng đặc dụng (14.818 ha). Ngoài ra, còn đất đồi núi cha đợc
sử dụng là 31.966 ha, chiếm 8,36% diện tích tự nhiên. Đặc biệt tại huyện Yên Thế, trong tổng
diện tích 30.125 ha đất tự nhiên, diện tích đất lâm nghiệp là 14.623 ha, nhng những năm gần
đây, do hoạt động khai thác quá mức đ làm cho diện tích thảm thực vật thứ sinh tăng lên. Bài báo
này tôi đề cập đến một số đặc điểm của thảm thực vật thứ sinh tại x Canh Nậu, huyện Yên Thế,
tỉnh Bắc Giang, để tìm hiểu quy luật diễn thế của thảm thực vật và chiều hớng tái sinh rừng.
2. Đối tợng và phơng pháp nghiên cứu
- Đối tợng nghiên cứu là một số kiểu thảm thực vật thứ sinh nh: Thảm cây bụi thấp sau
nơng rẫy, thảm cây bụi cao sau nơng rẫy, rừng non.
- Sử dụng các phơng pháp chủ yếu là tuyến điều tra và ô tiêu chuẩn. Các số liệu đợc xử
lí bằng phơng pháp toán thống kê sinh học.
(
48
) Tp 1
/
Năm 2008 Khoa học Sự sống
41
Thảm cây bụi cao sau nơng rẫy có thời gian phục hồi từ 5- 6 năm. Thành phần loài ở
đây phong phú và đa dạng nhất so với thảm cây bụi thấp sau nơng rẫy và rừng non. Chúng tôi
đ thống kê đợc 81 loài (chiếm tỉ lệ 77,1%) thuộc 72 chi (chiếm 81,8%) của 48 họ (chiếm
90,6% tổng số họ) trong 3 ngành thực vật bậc cao có mạch. Những họ có số loài nhiều nhất (5
loài, chiếm 4,8% tổng số loài) là: họ Cà phê (Rubiaceae) và họ Hòa thảo (Poaceae). Những họ
có 4 loài là: họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) và họ Dâu tằm (Moraceae) Những họ có 3 loài gồm
có: họ Đào lộn hột (Anacardiaceae), họ Cúc (Asteraceae). Những họ có 2 loài gồm: họ Củ nâu
(Dioscoreaceae), họ Gừng (Zingiberaceae) gồm có: Nghệ rừng (Curcuma longa), Sa nhân rừng
(Amomum xanthioides); họ Trúc đào (Apocynaceae) có các loài: Họ Thiên lí (Asclepiadaceae),
họ Long no (Lauraceae), họ Bông (Malvaceae).
Còn lại 27 họ chỉ có một loài duy nhất. Tiêu biểu: họ Ráy (Araceae), họ Huyết dụ
(Asteliaceae), họ Cói (Cyperaceae), họ Tỏi rừng (Haemodoraceae), họ Lá dong (Marantaceae), họ
Thôi ba (Alangiaceae), họ Sau sau (Altingiaceae), họ Trâm bùi (Aquifoliaceae), họ Ngũ gia bì
(Araliaceae)... (bảng 2).
Bảng 2: Số họ, chi, loài ở thảm cây bụi cao sau nơng rẫy
TT Ngành
Họ Chi Loài
Số họ Tỉ lệ % Số chi Tỉ lệ(%) Số loài Tỉ lệ (%)
1 Ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) 43 89,6 67 93,0 74 91,3
Lớp 1 lá mầm (Liliopsida) 9 18,8 14 19,4 15 18,5
Lớp 2 lá mầm (Magnoliopsida) 34 70,8 53 73,6 59 72,8
-
Số 4
(
48
) Tp 1
/
Năm 2008
Khoa học Sự sống42
các loài cây gỗ a sáng dần mất đi, thay vào đó là sự phát triển u thế của các loài cây gỗ a
bóng bởi vì khi rừng khép tán, độ che phủ của các loài càng cao thì sự đào thải những loài kém
thích nghi là điều tất yếu (bảng 3).
Bảng 3: Số họ, chi, loài ở trạng thái rừng non
TT Ngành
Họ Chi Loài
Số họ Tỉ lệ % Số chi Tỉ lệ(%) Số loài Tỉ lệ (%)
1 Ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) 30 90,9 46 93,9 51 94,4
2
Lớp 1 lá mầm (Liliopsida) 6 18,2 10 20,4 11 20,4
Lớp 2 lá mầm (Magnoliopsida) 24 72,7 36 73,5 40 74,0
3 Ngành Dơng xỉ (Polypodiophyta) 3 9,1 3 6,1 3 5,6
Tổng số
33
100
49
ở thảm cây bụi cao sau NR, do thời gian phục hồi lâu hơn cho nên số loài trong các
nhóm dạng sống cũng đa dạng hơn. Tại đây cũng xuất hiện 5 nhóm dạng sống. Trong đó, nhóm
cây có chồi trên mặt đất (Ph) vẫn chiếm số lợng lớn hơn cả với 54 loài (chiếm 66,7% tổng số
loài). Nếu nh ở TCB thấp sau NR, kiểu dạng sống cây có chồi trên mặt đất nhỡ và lớn (MM) chỉ
Tạp chí Khoa học & Công nghệ
-
Số 4
(
48
) Tp 1
/
Năm 2008 Khoa học Sự sống
43
xuất hiện 1 loài duy nhất, thì ở trạng thái TCB cao sau NR đ xuất hiện 11 loài (chiếm 13,6%)
của kiểu dạng sống này, đó là các loài: Sau sau (Liquidambar formosana), Thừng mực trâu
(Wrightia pubescens), Núc nác (Oroxylum indicum), Trám trắng (Canarium album), Ràng ràng
xanh (Ormosia pinnata), Dẻ gai ấn Độ (Castanopsis indica), Màng tang (Litsea cubeba), Dung
trắng (Symplocos tonkinensis), Dung mỡ (Symplocos glauca)... Đặc biệt, số loài ở dạng cây có
chồi trên mặt đất nhỏ (Mi) tăng lên rõ rệt: 24 loài (chiếm tỉ lệ 29,6%) với các loài cụ thể nh
sau: Muối (Rhus chinensis), Dâu da xoan (Allospondias lakonensis), Nhựa ruồi (Ilex viridis),
Bứa (Garcinia oblongifolia), Thầu tấu (Aporosa dioica), Ba soi (Macaranga denticulata), Hoắc
quang (Wendlandia paniculata)... Có thể thấy rằng, sự gia tăng số loài của hai dạng sống là cây
có chồi trên mặt đất nhỡ và lớn (MM) và cây có chồi trên mặt đất nhỏ (Mi) đ phản ánh sự phát
triển thích nghi của những loài cây bụi, cây gỗ tiên phong, a sáng, thời gian sống ngắn... trong
trạng thái TCB cao sau NR. Ngoài ra, sự xuất hiện thêm một số loài cây gỗ a bóng, có giá trị kinh
tế cao sẽ là tiền đề cho việc phục hồi thành rừng non sau này.
Chúng tôi cũng thấy sự có mặt của các nhóm dạng sống: Cây có chồi sát mặt đất (Ch),
cây chồi nửa ẩn (He), cây chồi ẩn (Cr) và cây sống 1 năm (Th) với số lợng loài tơng đối lớn
trong TCB cao sau NR này. Nhóm cây có chồi sát mặt đất (Ch) có 6 loài (chiếm 7,4%); nhóm
/
Năm 2008
Khoa học Sự sống44
3. Đặc điểm cấu trúc của các trạng thái thảm thực vật
Nghiên cứu cấu trúc của các trạng thái thảm thực vật (TTV) là một trong những nội dung
quan trọng phản ánh những thay đổi của chúng trong quá trình sinh trởng, phát triển. Cấu trúc
không gian thẳng đứng chính là sự phân bố của thực vật theo tầng. Cấu trúc TTV ở 2 trạng thái
TCB thấp sau NR và TCB cao sau NR chỉ có 2 tầng: Tầng thứ nhất: Cây bụi, cây gỗ nhỏ; tầng thứ
hai: Thảm tơi. Còn ở rừng non, cấu trúc đ đợc phân chia thành 3 tầng rõ rệt. Chúng tôi sẽ đi sâu
phân tích sự phân bố của các loài, các dạng sống trong cấu trúc của từng trạng thái TTV sau đây.
3.1. Thảm cây bụi thấp sau nơng rẫy
Cấu trúc hình thái rất đơn giản, có sự phân hoá thành 2 tầng chính: Tầng 1 là cây bụi, cây
gỗ nhỏ và tầng 2 là thảm tơi.
Tầng 1(tầng cây bụi) gồm các loài có chiều cao từ 1 - 3 m. Tầng này chủ yếu là các loài
cây bụi thấp a sáng nh: Mua thờng (Melastoma normale), Vú bò lá nguyên (Ficus hirta),
Chẻ ba (Euodia lepta), Bọ mẩy (Clerodendrum cyrtophyllum), Trọng đũa (Ardisia crenata), Sim
(Rhodomyrtus tomentosa)... Trong tầng này còn có một số loài cây gỗ mọc rải rác, cha tách
thành tầng riêng biệt.
Thành phần cây gỗ là các loài cây tiên phong, a sáng, thời gian sinh trởng ngắn, chất
lợng gỗ không tốt nh: Muối (Rhus chinensis), Na rừng (Alphonsea tonkinensis), Thầu tấu
(Aporosa dioca), Mua bà (Melastoma sanguineum)... Nhìn chung, cây gỗ ở đây là những cây gỗ
nhỏ, kích thớc D
TB
: 1,7 cm; H
TB