Tài liệu Luận văn tốt nghiệp “Giá và phương pháp tính giá bán sản phẩm của công ty bóng đèn phích nước Rạng Đông” - Pdf 90

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Giá và phương pháp tính giá bán sản
phẩm của công ty bóng đèn phích
nước Rạng Đông
LỜI MỞ ĐẦU

1
Từ khi kinh tế Việt Nam chuyển mình sang nền kinh tế thị trường đã
có rất nhiều sự thay đổi trong cách nghĩ, cách làm của mỗi doanh nghiệp nói
riêng và nền kinh tế nói chung. Giờ đây, doanh nghiệp phải tự mình vật lộn để
tồn tại, phát triển trong một môi trường cạnh tranh đầy gay go không kém
phần quyết liệt. Để tồn tại và phát triển một cách bền vững, không còn cách
nào khác là doanh nghiệp phải tự hoàn thiện mình, hoàn thiện cách thức và
phương pháp sản xuất kinh doanh sao cho đạt hiệu quả nhất. Muốn đạt được
như vậy, doanh nghiệp phải không ngừng lập và thay đổi các chiến lược sản
xuất kinh doanh sao cho phù hợp với từng thời kỳ khác nhau của nền kinh tế.
Tuy nhiên có một chiến lược mà bất biến, xuyên suốt quá trình sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp, đó chính là chiến lược về giá. Định giá bán sao cho
hợp lý, tối ưu là một điều vô cùng quan trọng, nó quyết định sự tồn tại và phát
triển của doanh nghiệp. Chính vì tầm quan trọng đó, sau một thời gian thực
tập tại công ty bóng đèn phích nước Rạng Đông, tôi đã chọn đề tài: “Giá và
phương pháp tính giá bán sản phẩm của công ty bóng đèn phích nước
Rạng Đông” làm đề tài cho chuyên đề thực tập của mình.
Chuyên đề được chia làm 3 chương
Chương 1: Lý luận chung về giá và phương pháp tính giá bán sản phẩm
Chương 2: Thực trạng giá bán sản phẩm của công ty Bóng đèn phích
nước Rạng Đông
Chương 3: Phương hướng và biện pháp hoàn thiện giá và phương pháp tính
giá bán sản phẩm của công ty bóng đèn phích nước Rạng Đông
Tôi xin chân thành cám ơn sự giúp đỡ tận tình của GS – TS Đặng Đình
Đào và các cô chú, anh chị em trong công ty Bóng đèn phích nước Rạng Đông đặc

cả. Ngược lại, giá cả là hình thức, là hiện tượng của giá trị. Giá cả là quan hệ
về lợi ích kinh tế, là tiêu chuẩn để các doanh nghiệp lựa chọn mặt hàng kinh
doanh.
Hiện nay trên thị trường, ngoài cạnh tranh bằng giá cả, có các loại cạnh
tranh khác tiên tiến hơn như cạnh tranh bằng chất lượng, bằng dịch vụ nhưng
giá cả vẫn có một vai trò quan trọng. Hàng hoá sẽ không tiêu thụ được nếu
như không được người tiêu dùng chấp nhận. Người tiêu dùng luôn quan tâm
đến giá cả hàng hoá và coi đó là một tiêu chuẩn chỉ dẫn về chất lượng và các
chỉ tiêu khác của hàng hoá, do vậy xác định một chính sách giá đúng có vai
trò sống còn đối với bất kì một doanh nghiệp nào.
Trong thực tế, cạnh tranh bằng chiến lược sử dụng giá cả là biện pháp
cạnh tranh nghèo nàn nhất, vì khi gặp phải đối thủ có tiềm lực lớn, cạnh tranh
bằng giá cả sẽ không phát huy tác dụng. Trong nhiều trường hợp, sự cạnh
tranh này chỉ dẫn tới việc giảm bớt lợi nhuận của những người bánvà đem lại
lợi ích cho phía người mua.Tuy nhiên cạnh tranh bằng giá cả có thể áp dụng
thành công và có ưu thế trong xâm nhập vào thị trường mới. Đối với thị
trường Việt Nam, thu nhập của dân cư chưa cao, yêu cầu về chất lượng và
chủng loại lại thấp nên cạnh tranh bằng chiến lược giá cả vẫn được coi là vũ
khí lợi hại.
3. Các nhân tố có ảnh hưởng tới giá bán sản phẩm
3.1. Nguyên vật liệu đầu vào
Nguyên vật liệu đầu vào bao gồm nguyên liệu chính, nguyên liệu phụ,
nhiên liệu cho hoạt động của máy móc, có thể là điện nước. Giả sử cá yếu tố
khác ván giữ nguyên nhưng giá nguyên vật liệu đàu vào tăng thì giá bán sản
phẩm sẽ tăng, như vậy quan hệ biến đổi giữa giá của nguyên vật liệu đầu vào
và giá bán sản phẩm là quan hệ tỷ lệ thuận.
3.2. Chi phí sản xuất
4
Sự hiểu biết chính xác về chi phí bỏ ra để sản xuất ra hàng hooặc dịch
vụ là rất quan trọng đối với công ty vì ba lí do sau:

cầu, do sự thoả thuận giữa người mua và người bán. Điều đó mới chỉ đúng
phần nào. Với các doanh nghiệp nếu chỉ mặc thác cho quan niệm đó thì khó
có thể tồn tại được nói gì tới nhu cầu phát triển để mà cạnh tranh, đứng vững
trong thương trường. Thực tế, có thể có nhiều doanh nghiệp không cần quan
tâm nhiều tới giá bán sản phẩm bởi sản phẩm của doanh nghiệp đó được sản
xuất ra để cạnh tranh trên thị trường với mức giá bán có sẵn. Họ chỉ cần quan
tâm tới khối lượng sản xuất ra là bao nhiêu: nhiều hay ít. Nhưng ngay cả
trong trường hợp này, nếu không có chính sách định giá bán cho sản phẩm thì
không thể nào đạt được mục đích cuối cùng của sản xuất là đạt lợi nhuận tối
đa.
Quan điểm định giá bán sản phẩm thông thường xuất phát từ yêu cầu
trang trải bù đắp chi phí có liên quan tới khối lượng sản phẩm hàng hoá tiêu
thụ và đảm bảo có lãi. Nói cách khác, các phương pháp định giá bán sản
phẩm thông thường được dựa vào giá thành sản phẩm (trị giá vốn) của sản
phẩm, hàng hoá, dịch vụ tiêu thụ để cộng thêm một phần chi phí theo mức độ,
tỷ lệ nhất định so với giá thành sản xuất hay trị giá vốn sản phẩm, hàng hoá,
dịch vụ tiêu thụ để tính giá.
Xét về bản chất định giá bán cho sản phẩm là công tác xác định giá bán
cho sản phẩm dựa trên các yếu tố như chi phí, pháp luật, mục tiêu kinh doanh
của doanh nghiệp, đảm bảo mức lợi nhuận…
2. Một số yếu tố có ảnh hưởng tới việc tính giá bán sản phẩm.
Nhìn chung có một số yếu tố sau đây ảnh hưởng tới quá trình định giá
bán hàng hoá của doanh nghiệp:
 Nhu cầu của khách hàng
6
Nhu cầu là yếu tố đầu tiên mà người định giá phải xem xét đến. Mức
giá đặt ra khác nhau thì có ảnh hưởng khác nhau lên mức cầu khác nhau của
khách hàng, đối với sản phẩm của doanh nghiệp. Nhìn chung giá càng thấp thì
cầu càng cao và ngược lại. Để danhg giá mối quan hệ giữa nhu cầu và giá cả
hàng hoá, người ta có thể tính đến hệ số co gián của cầu về giá. Nhiều khi, sự

Xác định mức giá cho các sản phẩm,dịch vụ cụ thể trong kinh doanh
không phải là tuỳ ý.Việc định giá phải đảm bảo các mục tiêu đã được đặt ra
của doanh nghiệp.Để thoả mãn yêu cầu này, các mức gía phải được định ra
trên cơ sở các mục tiêu đã được xác định rõ ràng. Tuỳ theo yêu cầu, đặc điểm
cụ thể về điều kiện hoạt động và sản phẩm đưa ra thị trường, mức giá phải
đảm bảo giải quyết tốt mối quan hệ hữu cơ giữa các yêu cầu:
- Phát triển doanh nghiệp (thị phần).
- Khả năng bán hàng (doanh số).
- Thu nhập (lợi nhuận).
Khi định giá, không phải ba mục tiêu trên được giải quyết đồng bộ.
Trong nhiều trường hợp, khi thoả mãn tốt yêu cầu này thì có thể lại hạn chế
khả năng thoả mãn yêu cầu khác và ngược lại. Chính vì vậy, doanh nghiệp
cần phải lựa chọn đúng mục tiêu cần theo đuổi thông qua mức giá.
Trong thực tế, doanh nghiệp có thể lựa chọn mục tiêu định giá của mình từ
các mục tiêu chính sau:
3.1. Định giá nhằm đảm bảo mức thu nhập định trước
Mục tiêu đặt ra cho việc định giá là dảm bảo mức lợi nhuận cụ thể,
chính xác từ giá bán sản phẩm, dịch vụ, khoản lợi nhuận này được ấn định
trước nhằm thu được một khoản tiền đủ để thoả mãn nhu cầu thu hồi vốn hoặc
tái đấu tư có trọng điểm. Nó thường được xác định trong giá bán như một tỉ lệ
phần trăm (%) của doanh số bán hay của vốn đâud tư. Để đảm bảo mức thu
nhập định trước có thể dẫn tới việc lựa chọn sản phẩm kinh doanh (tiếp tục
hay loại bỏ khối danh mục kinh doanh hay phát triển sản phẩm mới). Trong
8
nhiếu trường hợp, mục tiêu làm giá này xuất hiện với tư cách là mong muốn
có tính chủ quan của người định giá.
3.2. Định giá nhằm đảm bảo tối đa hoá lợi nhuận
Mục tiêu này yêu cầu xác định mớc giá sao cho có thể đạt được lợi
nhuận cao nhất khi bán hàng. Để đạt được mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận có
thể có các con đường khác nhau. Người ta có thể đặt giá ở mức cao nhất cho

mức giá khác nhau trong những giai đoạn phát triển khác nhau của chu kỳ
sống của một sản phẩm cũng như tác động đến các nhóm khách hàng khác
nhau (nhạy cảm hay không nhạy cảm giá) để có thể kiểm soát tốt thị trường
(điều này liên quan đến chiến lược “hớt phần ngon” của thị trường hoặc
“lách” thị trường)
3.5. Định giá nhằm mục tiêu cạnh tranh đối đầu
Mục tiêu của việc xác định mức giá là đưa ra một mức giá “tốt nhất”
dưới con mắt của khách hàng so với các đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp.
Trong trường hợp sản phẩm có tiêu chuẩn chất lượng đồng nhất hoặc khá rõ
ràng, một mức giá luôn hạ hơn so với đối thủ cạnh tranh có khả năng tạo ra
một hình ảnh tốt về doanh nghiệp để hấp dẫn họ. Điều này đặc biệt quan trọng
đối với những khách hàng nhạy cảm về giá và nhu cầu về sản phẩm co giãn.
Giá có tính cạnh tranh cho phép thúc đẩy tăng trưởng “cầu hướng vào doanh
nghiệp” để duy trì và tăng trưởng doanh số bán. Tuy nhiên, việc làm giá này
luôn luôn mạo hiểm. Một mức giá thấp không hợp lý sẽ dẫn đến giảm sút lợi
nhuận hoặc thua lỗ. Mặt khác có thể dẫn đến cuộc cạnh tranh mang tính “tiêu
diệt” gây thiệt hại cho hệ thống những người bán và có thể vi phạm pháp luật
khi sử dụng biện pháp “phá giá”. Tốt nhất, không nên sử dụng mục tiêu này
nếu không đủ điều kiện hoặc cho phép.
3.6. Định giá nhằm mục tiêu cạnh tranh không mang tính giá cả
Xác định mức giá theo mục tiêu này được thực hiện trên cơ sở kết hợp
vai trò của giá với các tham số khác của marketing hỗn hợp trong kinh doanh.
10
Doanh nghiệp đảm bảo tính cạnh tranh trên thị trường không phải bằng giá.
Các khả năng cạnh tranh với đối thủ được thực hiện trên cơ sở đưa ra các sản
phẩm, dịch vụ có chất lượng tốt nhất, đáp ứng đồng bộ nhu cầu của khách
hàng, đúng thời gian, đúng địa điểm… Trong trường hợp này, giá có thể xác
định ở mức cao khi đưa sản phẩm chất lượng cao (chiến lược giá cao/ chất
lượng cao); giá có thể hỗ trợ bởi các chính sách xúc tiến bán…
4. Các chính sách định giá

4.2. Chính sách giá theo chu kì sống của sản phẩm
Chính sách giá này thường được đưa ra để lựa chọn mức giá cho các
sản phẩm mới. Mức giá cụ thể (cao hay thấp) có thể có ảnh hưởng lớn đến
thời gian cần thiết để vượt qua phân kỳ “xâm nhập thị trường” và khả năng
bán hàng ở các phân kỳ tiếp theo do mức độ hấp dẫn của cạnh tranh và sản
phẩm thay thế. Tuỳ theo điều kiện cụ thể có thể lựa chọn các chính sách khác
nhau:
 Chính sách giá “hớt váng”: Đưa ra mức giá cao nhất – cố gắng bán ở
mức giá cao nhất của thị trường nhằm tăng tối đa việc hớt phần ngon của thị
trường.
Mức giá này thường được áp dụng để chinh phục nhóm khách hàng
không nhạy cảm giá khi có sản phẩm hoàn toàn mới, độc đáo.
 Chính sách giá “xâm nhập”: Đưa ra một mức giá thấp để có thể bán
được hàng hoá với khối lượng lớn trên thị trường.
Chính sách này quy định một mức giá thấp trong thời gian dài, thường
được sử dụng cho các sản phẩm mới nhưng mang tính tương tự (thay thế)
hoặc sản phẩm cải tiến, trên các thị trường mới và đặc biệt trên các thị trường
không lý tưởng (đường cong cầu co giãn nhịp nhàng).
 Chính sách giá “giới thiệu”: Đưa ra mức giá thấp bằng cách cắt giảm
giá tạm thời để lôi kéo sự chú ý và dùng thử của khách hàng.
Chính sách này quy định một mức giá thấp trong thời gian ngắn (tạm
thời) rồi sẽ nâng giá lên ngay sau thời kỳ đưa hàng ra và giới thiệu.
12
 Chính sách giá “theo thị trường”: Đưa ra mức giá trên cơ sở phân tích
các đối thủ cạnh tranh trên thị trường. Chính sách này không chỉ căn cứ vào
mục tiêu của doanh nghiệp và phân tích khách hàng mục tiêu, quyết định vê
giá “cao” hay “thấp” còn tuỳ thuộc vào đặc điểm cạnh tranh trên thị trường.
Mặt bằng giá thị trường (hình thành nên bởi các đối thủ cạnh tranh, cung –
cầu) sẽ dẫn đến quyết định cạnh tranh đối đầu hay cạnh tranh bằng các yếu tố
khác của marketing hỗn hợp trên các phân đoạn khác nhau của thị trường.

Chi phí vận chuyển (C)
(4)
Để xác định mức giá có tính đến chi phí vận chuyển, có hai trường hợp
cơ bản:
+) Địa điểm giao hàng được xác định bởi bên bán
Thông thường, doanh nghiệp (bán) đưa ra giá công bố theo địa điểm
giao hàng đã được xác định trước của mình. Địa điểm này có thể là ở (1) –
nơi sản xuất hoặc kho trung tâm, hoặc ở (2) – các điểm bán hàng của doanh
nghiệp trong mạng lưới kinh doanh (kho trung gian). Mọi chi phí vận chuyển
từ (1) đến (2) đương nhiên được tính trong mức giá như một khoản chi phí
kinh doanh của doanh nghiệp. Tại đây, người bán chịu trách nhiệm trả chi phí
bốc xếp hàng hoá lên phương tiện vận tải, quyền sở hữu hàng hoá được
15
Nơi xuất phát
(điểm gốc)
Điểm bán (xuất hàng) của
doanh nghiệp …
Điểm bán (giao hàng) của
khách
Nơi sử dụng (điểm
cuối)
chuyển ngay cho người mua. Người mua chịu trách nhiệm chi phí vận chuyển
tiếp theo và tổn thất hàng hoá trong quá trình vận chuyển (khoản chi phí vận
chuyển bên B do khách hàng chịu).
+) Địa điểm giao hàng được xác định theo yêu cầu của khách
Liên quan đến chi phí vận chuyển từ (2) đến (3) hoặc từ (2) đến (4).
Người mua có thể yêu cầu người bán giao hàng tại địa điểm cụ thể nào đó (3)
hoặc (4) theo hợp đồng. Trong trường hợp này toàn bộ chi phí vận chuyển
phát sinh sẽ do bên bán chịu trách nhiệm trả và được tính vào giá bán hàng
hoá. Các khoản B và C do bên người bán chịu. Giá công bố cần tính khoản

hút khu vực thị trường mới.
Trong trường hợp này, doanh nghiệp có thể bug đắp một phần chi phí
vấn tải cho hành khách ở xa bằng cách cắt giảm giá công bố. Lợi nhuận ròng
của mỗi một lần bán giảm nhưng bù lại doanh nghiệp có thể có được khách
hàng (thị trường) mới và tổng số lợi nhuận có thể tăng.
4.4. Chính sách hạ giá và chiếu cố giá
Các mức giá trường được hình thành theo các điều kiện (tiêu chuẩn)
xác định trước. Trong kinh doanh, có thể các điều kiện này thay đổi theo các
trường hợp cụ thể, không kể luôn luôn bán hàng theo các điều kiện đã tính
trước. Bởi vậy, xuất hiện các yêu cầu điều chỉnh giá. Nếư điều kiện ban đầu
thay đổi một cách cơ bản có thể dẫn đẽn việc phải tính toán lại mức giá.
Nhưng trong các trường hợp chỉ có sự thay đổi ở một số khía cạnh nào
đó (khối lượng mua, điều kiện thanh toán, chất lượng hàng…) thì giá ssẽ được
điều chỉnh lại theo mức chiếu cố giá và hại giá.
Cơ sở để nghiên cứu chính sách hạ giá và chiếu cố giá là gí công bố của
doanh nghiệp. Nhưng khi xem xét vấn đề này trong chuỗi lưu thông thì cơ sở
của nó là giá công bố cơ bản. Giá công bố cơ bản thường được đặt ra bởi nhà
sản xuất. Đó cũng là mức giá cuối cùng mà người mua hay người sử dụng
bình thường được yêu cầu trả khi mua sản phẩm.
17
Hạ giá là sự giảm giá công bố- giá mà người bán thông báo cho người
mua. Việc giảm giá không chỉ nhằm để bán được hàng mà còn đáp ứng được
các mục tiêu đặt ra cho việc kinh doanh và bán hàng. Có nhiều trường hợp
khác nhau cần xem xét về vấn đề quyết định giảm giá:
Hạ giá theo khối lượng nhằm khuyến khích mua nhiều
Khách hàng thường mong muốn mua được rẻ hơn trong khi doanh nghiệp lại
mong muốn bán được nhiều hàng hơn. Để đáp ớng được các mong muốn
nàycó thể đưa ra các chính sách hạ gí theo khối lượng mua của khách hàng.
Hạ giá theo khối lượng có thể dựa trên giá trị toàn bộ đơn hàng bằng
tiền, dựa trên số lượng hàng mua được hoặc kích thước lô hàng mua.

theo yêu cầu của khách hàng thời hạn thanh toán có thể xác định lại sau 10,
20 hoặc 30 ngày. Trong điều kiện này, giá ghi trên hoá đơn là giá gốc. Nếu trả
trước 10 ngày có thể giảm 2%, nếu trước 20 ngày có thể giảm 1% và phải trả
đủ nếu trả trước 30 ngày.
Hạ giá theo đơn đặt hàng trước
Việc hạ gía này nhằm khuyến khích người mua đặt hàng trước để tạo
điều kiện thuận lợi và tránh rủi ro, khó khăn khi bán hàng. Các hợp đồng đặt
hàng trước giúp cho doanh nghiệp có thể kiểm soát hoạt động của mình tốt
hơn. Nếu khách hàng ứng trước một khoản tiền nào đó để thực hiện đơn hàng
có thể giúp cho doanh nghiệp tăng được vốn kinh doanh.
Hạ giá “ ưu đãi”
Khoản hạ giá này nhằm vào củng cố mối quan hệ truyền thống, lâu dài
với các khách hàng trọng điểm cần giữ vững hoặc lôi kéo của doanh nghiệp.
Hạ giá hàng tiêu thụ tồn kho
Là khoản hạ gía ngoài mong muốn của doanh nghiệp. Mục tiêu chính
của khoản hạ giá này là nhằm giảm bớt các thiệt hại do không bán được hàng,
chi phí dự trữ và thu hồi vốn.
19
Hạ giá theo truyền thống
Khoản hạ giá này còn được gọi là khoản bớt giá trong kinh doanh dành
cho người trung gian để họ tiếp tục thực hiện nốt quá trình lưu thông hàng hoá
tới người sử dụng sản phẩm. Trên thị trường các khoản bớt giá này thường
được hình thành và thực hiện theo truyền thống. Tuỳ theo độ dài của đường
dây phân phối hàng hoá có thể hính thành nên một chuỗi bớt giá từ nhà sản
xuất đến nhà buôn đến nhà bán lẻ. Đây là khoản bớt giá khách quan từ gốc,
“gốc” là giá công bố cơ bản để tính lùi lại qua các khâu trung gian, khoản bớt
giá này thường được gọi là “chiết khấu trong lưu thông”.Chiết khấu trong lưu
thông đcượ xác định đủ để bù đắp lại những chi phí kinh doanh và lợi nhuận
của người trung gian.
 Các chính sách chiếu cố giá

bán cũng không đòi hỏi giá cao hơn giá của thị trường vì người mua có thể tự
do mua một khối lượng bất kì những hàng hoá đó theo giá thị trường. Người
bán cũng không chào giá bán thấp hơn giá thị trường vì họ có thể bán tất cả
hàng hoá đó theo giá thị trường. Trong loại thị trường này, doanh nghiệp là
người chấp nhận giá và các doanh nghiệp đều phải hoạt động theo sự dẫn dắt
của bàn tay vô hình của thị trường.
+ Cạnh tranh độc quyền
Thị trường cạnh tranh độc quyền gồm rất nhiều người mua và người
bán không tuân theo giá thị trường thống nhấtmà dao động trong khoảng
rộng. Sở dĩ họ làm được như vậy là vì doanh nghiệp có thể có những phương
án hàng hoá khác nhau, sản phẩm hiện thực có thể khác nhau chất lượng, tính
chất, dịch vụ… Người mua có thể thấy sự chênh lệch về gía chào bán và sẵn
sàng mua ở các giá khác nhau. Chính sách gía trong thị trường này đặc biệt
phát huy tác dụng, ngoài ra doanh nghiệp có thể sử dụng các biện pháp yểm
trợ bán hàng khác.
+ Cạnh tranh độc quyền tập đoàn
21
Là thị trường bao gồm một số ít người bán rất nhạy cảm với chính sách
hình thành giá cả và chiến lược tiêu thụ của nhau, hàng hoá có thể giống hoặc
không giống nhau. Sở dĩ có ít người bán vì điều kiện gia nhập thị trường rất
khó khăn. Mmỗi người bán đều rất nhạy bén với chiến lược và hoạt động của
đối thủ cạnh tranh. Trong thị trường này, các doanh nghiệp đều có xu hướng
chấp nhận mức giá của ngành và của các tập đoàn thường có xu hướng liên
kết để xác định mức gía phù hợp cho sự phát triển của toàn ngành.
+ Độc quyền tuyệt đối
Là thị trường chỉ có một người bán một loại sản phẩm. Đó có thể là
một tổ chức nhà nước, một tổ chức độc quyền tư nhân. Sự hình thành giá cả ở
từng trường hợp diễn ra rất khác nhau. Tổ chức độc quyền nhà nước có thể sử
dụng chính sách giá cả để đạt được những mục tiêu nhất định. Nó có thể đặt
giá thấp hơn giá thành nếu sản phẩm có ý nghĩa quan trọng đối với người mua

= Q
1
- Q
0
: P
1
- P
0
= P
×
ÄQ
Q
0
P
0
Q ÄP
Nhìn chung, cầu thị trường và giá cả có mối quan hệ tỷ lệ nghịch, do vậy
23
Lượng giá chi phí
Phân tích đối thủ canh tranh
Chọn kĩ thuật định giá cho phù hợp
Chọn giá cuối cùng của mặt hàng
Ed ≤0. Có ba trường hợp:
+ Ed <1: Cầu ít co giãn, đường cầu hơi dốc. Trong trường hợp này,
người bán dễ tăng giá vì một tỷ lệ phần trăm tăng lên của giá dẫn tới một tỷ lệ
giảm đi trong cầu ít hơn. Nhu cấu ít co giãn trong những trường hợp như:
- Có ít hay không có những sản phẩm thay thế hoặc đối thủ cạnh tranh.
- Người mua không để ý tới giá cao.
- Người mua chậm thay đổi thói quyen mua sắm.
- Người mua nghĩ là giá cao do có cải thiện về chất lượng.

phẩm cuối cùng.
25

Trích đoạn Một số phương pháp tính giá thành bán sản phẩm Sự khác biệt của giá cả trong doanh nghiệp thương mại và trong doanh Chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu của công ty bóng đèn phích nước Rạng Đông Thực trạng về giá bán sản phẩm của công ty bóng đèn phích nước
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status