LUẬN VĂN TỐT NGHIỆPTình hình triển khai nghiệp vụ bảo
hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận
chuyển bằng đường biển tại Bảo Minh
Hà Nội
LỜI NÓI ĐẦU
Trong những năm qua nền kinh tế nước ta đã có những bước tăng trưởng đáng
khích lệ. Đóng góp vào thành công chung đó không thể không kể đến vai trò của
hoạt động xuất nhập khẩu. Với đặc điểm địa lý của nước ta có hơn 3.000 km là bờ
biển, lại nằm ở trung tâm của khu vực Đông Nam Á. Vì vậy vận chuyển bằng
đường biển là phương th
ức vận chuyển chủ yếu trong hoạt động xuất nhập khẩu.
Mỗi năm có gần 80% khối lượng hàng hoá xuất nhập khẩu được vận chuyển theo
phương thức này, đóng góp không nhỏ vào sự phát triển của nền kinh tế nước ta.
Cũng như bất kỳ một phương thức vận tải nào, vận tải bằng đường biển cũng
không thể tránh khỏi các rủ
i ro bất ngờ ngoài ý muốn của các doanh nghiệp. Do
đó,để đảm bảo tài chính cho các nhà xuất nhập khẩu, bảo hiểm hàng hoá xuất nhập
khẩu vận chuyển bằng đường biển đã ra đời giúp các doanh nghiệp ổn định được
hoạt động sản xuất kinh doanh của mình, tránh phá sản khi có rủi ro xảy ra .
Nhận biết được tầm quan trọng đó, sau một thời gian thực tập ở Công ty Bảo
Minh Hà Nội em đã chọn đề tài:
"Tình hình triển khai nghiệp vụ bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận
chuyển bằng đường biển tại Bảo Minh Hà Nội" để làm chuyên đề thực tập tốt
đến nay, vận tải đường biển vẫn giữ một vị trí quan trọng trong các phương thức
vận tải hàng hoá. Có được vai trò quan trọng như vậy là do vận tải biển có những ưu
điểm vượt trội như:
- Chi phí cho việc xây dự
ng, cải tạo, bảo dưỡng các tuyến đường biển thấp vì
hầu hết là những tuyến giao thông tự nhiên (trừ các cảng biển).
- Năng lực chuyên chở của phương tiện vận tải biển thường rất lớn: một tuyến
có thể tổ chức chạy nhiều chuyến tàu trong cùng một thời gian cho cả hai chiều,
đồng thời phương tiện vận tải biển có thể chở
được hầu hết các loại hàng hoá với
khối lượng lớn. Vận tải bằng đường biển còn tỏ ra đặc biệt có ưu thế trong việc vận
chuyển nhiều loại hàng hoá khác nhau, đặc biệt là khả năng sử dụng để vận chuyển
các Container chuyên dụng.
- Cước phí vận chuyển thấp hơn so với các phương tiện vận tải khác,ví dụ:
cước phí trung bình vận chuyển cùng mộ
t loại hàng hoá bằng đường hàng không là
7$/kg, trong khi vận chuyển bằng đường biển là 0,7$/kg.
- Vận chuyển bằng đường biển góp phần phát triển mối quan hệ kinh tế với các
nước, thực hiện đường lối kinh tế đối ngoại của Nhà nước, góp phần tăng thu ngoại
tệ…
1.2. Sự cần thiết của bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng
đường biển.
- Vận tải biển chịu tác động của điều kiện thiên nhiên như: mưa, bão, lũ lụt,
sóng thần, vì quãng đường di chuyển dài lại qua nhiều vùng khí hậu rất khác nhau.
Các yếu tố thiên nhiên diễn ra không tuân theo một quy luật nhất định nào. Vì vậy,
mặc dù khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển và có thể d
ự báo thời tiết nhưng rủi
ro vẫn có thể xảy ra. Đặc biệt trong điều kiện thời tiết khí hậu hiện nay có nhiều
biến đổi bất thường, các hiện tượng thiên nhiên xảy ra ngày càng nhiều, nhất là các
cơn bão nên tổn thất hàng hải cũng dễ xảy ra hơn.
2.1. Các loại rủi ro
Rủi ro hàng hải là những rủi ro do thiên tai, tai nạn bất ngờ trên biển gây ra
làm hư hỏng hàng hoá và phương tiện chuyên chở.
Trong hoạt động hàng hải có nhiều loại rủi ro khác nhau làm thiệt hại đến hàng
hoá và phương tiện vận chuyển. Người ta có thể phân loại rủi ro dựa trên các căn cứ
khác nhau:
* Căn cứ vào nguyên nhân gây ra tổn th
ất, rủi ro được chia làm 3 loại:
- Rủi ro do thiên tai gây ra như biển động, bão lốc, sóng thần, thời tiết quá xấu.
- Rủi ro do tai nạn bất ngờ ngoài biển như: bao gồm rủi ro do mắc cạn, chìm
đắm, mất tích, đâm va với tàu khác…
- Rủi ro do con người gây ra: các rủi ro như ăn trộm, ăn cắp, chiến tranh, đình
công, bắt giữ, tịch thu…
* Căn cứ vào nghiệp vụ bảo hiểm, rủi ro được chia làm 3 lo
ại:
Loại 1: Những rủi ro thông thường được bảo hiểm, bao gồm:
- Rủi ro mắc cạn: Tàu bị chạm đáy vào chướng ngại vật nào đó mà không thể
tiếp tục hành trình được nữa.
- Rủi ro chìm đắm: Do nguyên nhân nào đó mà tàu bị chìm xuống biển hoặc bị
đắm do sóng thần, bão tố, không thể tiếp tục hành trình được nữa, hàng hoá trên tàu
bị hư hại.
- Rủi ro đâm va: tàu bị đâm, va phải chướng ngại vật trên biển (đá ngầm, công
trình xây dựng, tàu thuyền khác) dẫn đến hư hỏng, hành trình bị gián đoạn.
- Rủi ro cháy nổ.
- Rủi ro do thiên tai: là những hiện tượng do thiên nhiên gây ra như biển động,
bão, lốc, sét, thời tiết quá xấu… mà con người không chống lại được.
Cách phân loại này giúp cho các chủ hàng cũng như các công ty bảo hiểm dễ
dàng nhận biết các loại r
ủi ro để đi đến ký kết hợp đồng bảo hiểm.
Loại 2: Những rủi ro không được bảo hiểm: Loại này thường là rủi ro xảy ra
- Tổn thất toàn bộ thực tế: là toàn bộ đối tượng bảo hiểm theo một hợp đồng
bảo hiểm bị hư hỏng, mất mát, thiệt hại hoặc bị biến chất, biến dạng không còn như
lúc mới được bảo hiểm hay bị mất đi, bị tước đoạt không l
ấy lại được nữa. Chỉ có
tổn thất toàn bộ thực tế trong 4 trường hợp sau đây:
+ Hàng hoá bị huỷ hoại hoàn toàn.
+ Hàng hoá bị tước đoạt không lấy lại được.
+ Hàng hoá không còn là vật thể bảo hiểm.
+ Hàng hoá ở trên tàu được tuyên bố là mất tích.
- Tổn thất toàn bộ ước tính: là trường hợp đối tượng bảo hiểm bị thiệt hại, mất
mát chưa tới m
ức độ toàn bộ thực tế, nhưng không thể tránh khỏi tổn thất toàn bộ
thực tế, hoặc nếu bỏ thêm chi phí cứu chữa thì chi phí cứu chữa có thể bằng hoặc
lớn hơn giá trị bảo hiểm. Khi gặp trường hợp này tốt nhất chủ hàng sẽ thông báo từ
bỏ lô hàng và bảo hiểm phải bồi thường tổn thất cho các bên và quyền sở hữu lô
hàng này thuộc về
bảo hiểm.
* Căn cứ vào quyền lợi bảo hiểm: Tổn thất được chia làm 2 loại:
o Tổn thất riêng: là loại tổn thất chỉ gây ra thiệt hại cho một hoặc một số
quyền lợi của các chủ hàng và chủ tàu trên một con tàu. Như vậy, tổn thất riêng,
ngoài thiệt hại vật chất còn phát sinh các chi phí liên quan đến tổn thất riêng nhằm
hạn chế những hư hạ
i khi tổn thất xảy ra. Những chi phí đó gọi là tổn thất chi phí
riêng.
Nếu tổn thất riêng thuộc phạm vi bảo hiểm, người bảo hiểm có trách nhiệm
phải bồi thường thiệt hại cho những tổn thất riêng này, đồng thời cũng phải chi trả
những chi phí có liên quan đến tổn thất riêng. Những chi phí này bao gồm: chi phí
xếp dỡ hàng, gửi hàng, phân loại hàng hoá, thay thế bao bì đối với những lô hàng bị
tổn thất. Những chi phí tổn thất riêng này nhằm hạn chế và giảm b
ớt tổn thất riêng.
xuất nhập khẩu.
Ở Việt Nam,căn cứ vào Quyết định số 254/TCCDBN ngày 25/5/1990 của Bộ
Tài chính, hàng hoá xuất nhập khẩu hoạt động trong vòng nội thuỷ và hàng hải Việt
Nam không phân biệt thành phần kinh tế đều có thể tham gia bảo hiểm tại các công
ty bảo hiểm được Bộ Tài chính cấp giấy phép hoạt động.
b. Phạm vi bảo hiểm
Phạm vi bảo hi
ểm là giới hạn rủi ro được bảo hiểm và cũng là giới hạn trách
nhiệm của công ty bảo hiểm. Hàng hoá được bảo hiểm theo điều kiện nào thì chỉ
những rủi ro tổn thất quy định trong điều kiện đó mới được bồi thường. Phạm vi
trách nhiệm càng rộng thì những rủi ro được bảo hiểm càng nhiều và kéo theo mức
phí lớn.
Căn cứ vào các đi
ều khoản bảo hiểm ICC (Institule Casgo Claude) 1/1/1982,
để phù hợp với tình hình thực tế tại Việt Nam đối với quá trình bốc dỡ vận chuyển
hàng hoá ở các cảng Việt Nam, Bộ Tài chính đã ban hành Quy tắc chung về bảo
hiểm hàng hoá vận chuyển bằng đường biển gọi tắt là QTC 1990. Quy tắc này được
xây dựng trên cơ sở điều khoản ICC 1/1/1982. Đối với hàng hoá nhập khẩu từ các
cảng nước ngoài về
Việt Nam thường được bảo hiểm theo QTC 1990.
Để phù hợp với tập quán quốc tế, khi bán bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu,
Công ty Bảo Minh thường áp dụng ICC 1/1/1982. Khi hàng hoá có tổn thất, người
nhận hàng dễ dàng nhận biết ngay được hàng hoá bị tổn thất đó có nằm trong phạm
vi bảo hiểm hay không.
3.2. Giá trị bảo hiểm, số tiền bảo hiểm và phí bảo hiểm.
a. Giá trị bảo hiểm.
Giá trị bảo hiểm của hàng hoá là giá trị hàng hoá tại cảng đi "C" cộng với phí
bảo hiểm "I" và cước phí vận chuyển đến cảng "F" tức là bằng giá CIF. Ngoài ra để
thoả mãn nhu cầu của người tham gia bảo hiểm nhằm đảm bảo quyền lợi của họ,
người được bảo hiểm có thể bảo hiểm thêm cả các khoản lãi dự tính do việc xuất,
1
CF a
V
R
++
=
−
Trong đó: a là số % lãi dự tính
b. Số tiền bảo hiểm:
Số tiền bảo hiểm là số tiền đăng ký bảo hiểm được ghi trong hợp đồng bảo
hiểm. Giá trị bảo hiểm là cơ sở của số tiền bảo hiểm, người tham gia có thể mua bảo
hiểm bằng giá trị bảo hiểm (bảo hiểm đúng giá trị) nhỏ hơn giá trị bảo hiểm (bảo
hiểm dưới giá trị) hoặc mua bảo hiểm vớ
i số tiền bảo hiểm lớn hơn giá trị bảo hiểm
(bảo hiểm trên giá trị).
Về nguyên tắc số tiền bảo hiểm có thể nhỏ hơn hoặc bằng giá trị bảo hiểm, nếu
số tiền bảo hiểm lớn hơn giá trị bảo hiểm thì phần lớn hơn thực chất chỉ là bảo hiểm
phần lãi dự kiến. Ngược l
ại nếu số tiền bảo hiểm nhỏ hơn giá trị bảo hiểm tức là
người được bảo hiểm tự bảo hiểm lấy một phần thì người bảo hiểm cũng chỉ bồi
thường trong phạm vi số tiền bảo hiểm sẽ bồi thường theo tỉ lệ giữa số tiền bảo
hiểm và giá trị bảo hiểm.
Nếu đố
i tượng bảo hiểm được bảo hiểm trùng nghĩa là cùng một rủi ro cùng
một giá trị bảo hiểm nhưng lại bảo hiểm tại nhiều công ty thì trách nhiệm của các
công ty bảo hiểm cũng chỉ giới hạn trong số tiền bảo hiểm. Như vậy, số tiền bảo
hiểm cùng với điều kiện bảo hiểm sẽ giới hạn trách nhiệm của các công ty bả
o hiểm
đối với các hợp đồng bảo hiểm.
(Nếu không bảo hiểm lãi dự tính)
Tỉ lệ phí bảo hiểm được ghi trong hợp đồng bảo hiểm theo thoả thuận giữa
người tham gia bảo hiểm và người bảo hiểm.
3.3. Điều kiện bảo hiểm:
Điều kiện bảo hiểm là những điều quy định phạm vi trách nhiệm của người
bảo hiểm đối với tổn thất của hàng hoá. Hàng được bảo hiểm theo điều kiệ
n bảo
hiểm nào, chỉ những rủi ro tổn thất quy định trong điều kiện đó mới được bồi
thường. Sau đây là các điều kiện bảo hiểm của Viện những người bảo hiểm Luân
Đôn (Institute of London Underwriters - ILU).
a. Hệ điều kiện bảo hiểm ra đời năm 1963:
Ngày 01/01/1963, ILU xuất bản ba điều kiện bảo hiểm hàng hoá là FPA, WA
và AR. Các điều kiện b
ảo hiểm này được áp dụng rộng rãi trong hoạt động thương
mại quốc tế.
* Điều kiện bảo hiểm FPA (Free from Particular Average) - (Điều kiện bảo
hiểm miễn tổn thất riêng).
Trách nhiệm bảo hiểm của FPA bao gồm:
- Tổn thất toàn bộ do thiên tai, tai nạn bất ngờ trên biển hoặc dỡ hàng tại cảng
lánh nạn thuộc tổn thất riêng.
- Tổn thất bộ ph
ận vì thiên tai, tai nạn bất ngờ trên biển hoặc dỡ hàng tại cảng
lánh nạn do rủi ro chính đem lại.
- Mất nguyên kiện hàng trong quá trình xếp dỡ, chuyển tải.
- Bồi thường các chi phí sau:
+ Chi phí đóng góp tổn thất chung.
+ Chi phí cứu nạn.
+ Chi phí đề phòng, hạn chế tổn thất thuộc phạm vi bảo hiểm do người thứ ba
không phải là người được bảo hiểm hay người làm công của họ gây nên.
+ Chi phí giám định tổ
* Điều kiện bảo hiểm C (Institute Cargo Clauses C - ICC-C).
-> Rủi ro được bảo hiểm (Ricks covered): trừ các rủi ro loại trừ được quy định
dưới đây, điều kiện này bao gồm:
- Cháy hoặc nổ.
- Tàu bị mắc cạn, chạm đất, bị đắm hoặc lật úp.
- Tàu đâm va nhau hoặc tàu, sà lan, phương tiện vận chuyển đâm va phải vật
thể khác không phải là nước.
- Dỡ hàng tại cảng lánh nạn
- Tổn thất chung.
- Phần trách nhi
ệm mà người được bảo hiểm phải chịu theo điều khoản hai tàu
đâm va nhau đều có lỗi (Both to Blame Collisim Clause) quy định trong hợp đồng
vận tải.
-> Rủi ro loại trừ (Exclusions).
Trong mọi trường hợp, người bảo hiểm không bồi thường những rủi ro sau
đây:
- Tổn thất hay tổn hại do hành vi xấu, cố ý của người bảo hiểm.
- Rò rỉ, hao hụt thông thường về trọng lượng, kh
ối lượng hoặc hao mòn tự
nhiên của đối tượng bảo hiểm.
- Mất mát, hư hỏng hoặc chi phí do bao bì đầy đủ hoặc không thích hợp.
- Mất mát, hư hỏng hoặc hci phí do nội tỷ (Inherent vice) hoặc bản chất của
đối tượng bảo hiểm.
- Mất mát, hư hỏng hoặc chi phí mà nguyên nhân là chậm trễ, cho dù chậm trễ
là do một rủi ro được bảo hiểm gây nên.
- Mất mát, hư hỏng hoặ
c chi phí do tình trạng không trả được nợ hoặc thiếu
thốn về mặt tài chính của chủ tàu, người quản lý tàu, người thuê tàu hoặc người khai
thác tàu.
- Thiệt hại cố ý hoặc sự phá hoại cố ý đối tượng được bảo hiểm do hành động
- Rủi ro loại trừ: cơ bản giống như điều kiện B và C, trừ rủi ro "thiệt hại cố ý
hoặc phá hoại". Rủi ro này vẫn được bồi thường theo điều kiện A.
Các nội dung khác: giống như
điều kiện bảo hiểm B và C.
3.4. Hợp đồng bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường
biển.
a. Khái niệm và tính chất của hợp đồng bảo hiểm.
Hợp đồng bảo hiểm là một văn bản trong đó người bảo hiểm cam kết bồi
thường cho người được bảo hiểm những mất mát, thiệt hại của đối t
ượng bảo hiểm
do một rủi ro được bảo hiểm gây nên còn người được bảo hiểm cam kết trả phí bảo
hiểm.
Hợp đồng bảo hiểm là giấy tờ có giá trị pháp lý cao, nó quy định quyền lợi và
nghĩa vụ của các bên và là cơ sở quan trọng để giải quyết tranh chấp, khiếu nại sau
này.
Hợp đồng bảo hiểm hàng hoá vận chuyển bằng đường biển mang tính chấ
t là
một hợp đồng bồi thường (contract of indemnity) và là một hợp đồng tín nhiệm
(contract of good faith). Thể hiện như sau:
- Khi tổn thất xảy ra do các rủi ro được bảo hiểm thì doanh nghiệp bảo hiểm sẽ
bồi thường cho người được bảo hiểm nhằm khôi phục lại vị thế tài chính của họ.
Đây là tính chất bồi thường của hợp đồng bảo hiểm.
- Tính chất tín nhiệm thể
hiện ở chỗ:
+ Phải có lợi ích bảo hiểm (Insurable interest) mới ký kết hợp đồng bảo hiểm.
Lợi ích bảo hiểm không nhất thiết phải ký kết hợp đồng nhưng phải có khi xảy ra
tổn thất.
+ Người được bảo hiểm phải thông báo mọi chi tiết về hàng hoá, mọi thay đổi
làm tăng hoặc giảm rủi ro cho người bảo hiểm biết.
+ Khi ký kết hợp đồng bảo hiểm, nếu hàng hoá đã bị tổn thất mà người được
- Ngày tháng, chữ ký của công ty bảo hiểm, phương thức và địa điểm trả tiền
bồi thường. Trong trường hợp nơi đến của khách hàng ghi trong đơn bảo hiểm là
một địa điểm nằm sâu trong nội địa, nghĩa là sau khi đến cảng cuối cùng phải
chuyển tiếp bằng phương tiệ
n khác đến địa điểm đã định và đến đây mới hết trách
nhiệm của người bảo hiểm, trong trường hợp này phải tăng thêm phụ phí bảo hiểm
vì ngoài rủi ro trên đoạn đường phụ trong toàn bộ hành trình được bảo hiểm.
Mặt 2 in sẵn quy tắc, thể lệ bảo hiểm của Công ty bảo hiểm có liên quan.
Giấy chứng nhận bảo hiểm chỉ có nội dung nh
ư mặt 1 của đơn bảo hiểm.
Để thanh toán theo phương thức tín dụng chứng từ, ngày ghi trên đơn bảo
hiểm và giấy chứng nhận bảo hiểm không được muộn hơn ngày xếp hàng lên tàu
hoặc ngày nhận hàng để chở, loại tiền phải giống loại tiền trong thư tín dụng trừ khi
có quy định khác.
Khi xuất trình để thanh toán, phải xuất trình trọn bộ (Full set) hoặc một bản
gốc duy nh
ất (A sole original) cho ngân hàng.
* Hợp đồng bảo hiểm bao (còn gọi là hợp đồng bảo hiểm mở) - (Open policy,
Floating policy, Open cover).
Hợp đồng bảo hiểm bao là hợp đồng bảo hiểm nhiều chuyến hàng trong một
thời gian nhất định, thường là một năm. Đối với các chủ hàng có khối lượng hàng
hoá xuất nhập khẩu lớn và ổn định, thông thường họ ký kết với công ty bảo hiểm
một hợp đồ
ng bảo hiểm bao, trong đó người bảo hiểm cam kết sẽ bảo hiểm tất cả
các chuyến hàng xuất nhập khẩu trong năm.
Trong hợp đồng bảo hiểm bao hai bên chỉ thoả thuận với nhau những vấn đề
chung như: tên hàng được bảo hiểm, loại tàu chở hàng, cách tính giá trị bảo hiểm,
số tiền bảo hiểm tối đa cho mỗi chuyến và điều kiện b
ảo hiểm, cách thức thanh toán
phí bảo hiểm và tiền bồi thường cấp chứng từ bảo hiểm.
quyền nhằm xác định mức độ và nguyên nhân của tổn thất, làm cơ sở cho việc
bồi thường. Giám định tổn thất được tiến hành khi hàng hoá bị hư hỏng, đổ
vỡ, thiếu hụt, giảm phẩm chất, thối… Ở cảng đến hoặc tại cảng dọc đường và
do người được bảo hiểm yêu cầu. Những tổn thất như do tầu đắm, hàng mất,
giao thiếu hàng hoặc không giao thì cũng không cần phải giám định và cũng
không thể giám định được.
Mục đích của giám định tổn thất là:
- Xác định loại tổn thất, nguyên nhân gây ra tổn thất cho hàng hoá.
Giám định giúp xác rõ loại tổn thất là do hư hỏng, đổ vỡ, thiếu hụt hay
ẩm mốc… Nguyên nhân tổn thất có nhiều loại, có thể do bốc xếp cẩu thả, do
đâm va, bão lụt, do thông giờ không tốt, do bản thân hàng bị ẩm ướt…
- Xác định trách nhiệm tổn thất thuộc về ai.
Giám định chính xác, trung th
ực kết quả nói lên người phải chịu trách
nhiệm và bồi thường tổn thất cho hàng hoá, khiến họ không thể từ chối trách
nhiệm của mình. Đó có thể là người mua, người bán, người vận tải, người bảo
hiểm hoặc cơ quan giao nhận cảng.
- Giám định tổn thất là cơ sở tiến hành khiếu nại đòi bồi thường và giải
quyết khiếu nại.
Yêu cầ
u của công tác giám định tổn thất phải:
- Kịp thời đầy đủ, trung thực và kết quả nhằm xác định chính xác
nguyên nhân tổn thất.
- Bám sát hiện trường để phản ánh được cụ thể tình hình tổn thất của tài
sản bảo hiểm.
- Có ý kiến tham gia với người nhận hàng trong các khâu: cứu chữa, xử
lý hàng hư hỏng, để phòng và giảm nhẹ tổn thất, bốc dỡ giao nhận, yêu cầu v
ề
bao bì hàng hoá khiếu nại người thứ ba có trách nhiệm đối với hàng hoá tổn
thất.
CÔNG TY BẢO MINH HÀ NỘI
1. Vài nét về Tổng công ty Bảo Minh và Công ty Bảo Minh Hà Nội.
Có thể nói lịch sử phát triển của nghiệp vụ bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu
ở Việt Nam được gắn liền với sự ra đời và phát triển của ngành bảo hiểm nước ta.
K
ể từ khi bảo hiểm Việt Nam ra đời cho đến nay, nghiệp vụ bảo hiểm hàng hoá xuất
nhập khẩu luôn là một loại hình bảo hiểm chủ yếu và chiếm tỉ trọng cao trong tổng
phí bảo hiểm toàn thị trường. Bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu ở Việt Nam có thể
được nhìn nhận theo hai giai đoạn phát triển.
Thời kỳ bảo hiểm hoạt động theo cơ chế
độc quyền Nhà nước. Giai đoạn này
chỉ có một tổ chức bảo hiểm duy nhất là bảo hiểm hoạt động phục vụ bảo hiểm hàng
hoá xuất nhập khẩu theo nghị định thư. Quy mô và phạm vi bảo hiểm của thời kỳ
này còn rất nhiều hạn chế, hoạt động của thị trường không có sự cạnh tranh.
Thời kỳ bảo hiểm hoạt độ
ng trong nền kinh tế thị trường: Vào những năm cuối
thập niên 80, với chính sách kinh tế mở, cùng với nhịp độ phát triển của nền kinh tế,
ngành bảo hiểm đã có những bước phát triển đáng kể. Đứng trước yêu cầu đa dạng
hoá các loại hình kinh doanh bảo hiểm phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế - xã
hội, bảo đảm cho nền kinh tế phát triển ổn định và nhằm khai thác t
ốt hơn tiềm năng
bảo hiểm trong nước để đầu tư lại phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nước, Nghị định 100/CP ngày 18/12/1993 của Chính phủ về hoạt động kinh
doanh bảo hiểm đã được ban hành. Sau khi Nghị định này ra đời, hoạt động kinh
doanh bảo hiểm theo hướng thị trường mở trên thị trường bảo hiểm Việt Nam đã bắt
đầu phát triển, nhiều công ty bảo hiểm mới ra đời trên thị trường đã có sự cạnh
tranh gay gắt giữa các công ty bảo hiểm để giành khách hàng và tăng doanh thu phí.
Nhiều vấn đề mới nảy sinh và bất cập trong thời kỳ này đã ảnh hưởng đến hoạt
động của các công ty bảo hiểm. Nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các cá
nhân và tổ chức tham gia bảo hiểm, đẩy hoạt động kinh doanh bảo hiểm, góp phần
t phần
không nhỏ vào sự phát triển của Tổng Công ty. Hiệu quả hoạt động của Công ty
được thể hiện bằng sự đóng góp doanh thu phí vào tổng doanh thu phí của toàn
Tổng Công ty là 20 đến 21%. Hiện nay với hơn 60 cán bộ công nhân viên, cơ cấu tổ
chức của Công ty được chia thành 7 phòng ban, 4 phòng đại diện và đảm nhận 21
loại hình nghiệp vụ bảo hiểm khác nhau, trong đó có nghiệp vụ bảo hiểm hàng hoá
xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển. Nghiệp vụ bảo hiểm hàng hoá xuất
nhập kh
ẩu là nghiệp vụ truyền thống nhưng vẫn được Công ty quan tâm phát triển.
Mức độ cạnh tranh của nghiệp vụ này tuy có gay gắt nhưng nhìn chung có phần
bình ổn hơn so với các doanh nghiệp khác vì hầu hết các mối quan hệ với khách
hàng đã được thiết lập trong thời gian trước đây.
Về cơ cấu tổ chức của Công ty Bảo Minh tại Hà Nội