Tài liệu Luận văn tốt nghiệp "Tình trạng thương mại với Hoa Kỳ một năm sau khi hiệp định thương mại có hiệu lực" - Pdf 90


LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

Tình trạng thương mại với
Hoa Kỳ một năm sau khi hiệp
định thương mại có hiệu lực 1
MỤC LỤC

Trang
LỜI NÓI ĐẦU 3
CHƯƠNG I: LỢI ÍCH CỦA VIỆC MỞ RỘNG QUAN HỆ 5
VIỆT NAM- HOA KỲ
I. Tầm quan trọng của việc mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế 5
1.Những xu hướng vận động của nền kinh tế thế giới 5
2.Tác dụng của mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế 7
3.Hội nhập là tất yế
u để phát triển
II. Lợi ích của việc phát triển thương mại Việt Nam- Hoa Kỳ 10
1.Giới thiệu chung về Hoa Kỳ 10
2.Lợi ích Việt Nam thu được trong quan hệ với Hoa Kỳ 16
3.Lợi ích của Hoa Kỳ trong quan hệ với Việt Nam 19


5.Xúc tiến thương mại 69
6.Luật pháp 70
7.Làm quen với các vụ ki
ện 70
III.Tìm hiểu yếu tố môi trường kinh doanh của Mỹ 71
1.Con người 72
2.Nguyên tắc thương mại 72
3.Luật pháp chi phối 73
IV.Tăng cường đào tạo đội ngũ 76
V.Mở rộng quan hệ làm ăn với các nước khác 76
trong khu vực và trên thế giới
KẾT LUẬN 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO 79

3
LỜI NÓI ĐẦU

Kể từ khi Việt Nam áp dụng chính sách mở cửa nền kinh tế, quan hệ
thương mại song phương giữa Việt Nam và Mỹ được cải thiện và xúc tiến theo
chiều hướng tích cực với tốc độ nhanh. Nhưng phải đến tháng 7/ 1995, khi Việt
Nam và Mỹ thiết lập quan hệ ngoại giao, hoạt động kinh tế giữa hai nước mới
thực sự phát triển. Đối tác kinh t
ế quan trọng mà Việt Nam thực sự không thể
không tiếp cận là Mỹ và ngược lại, Mỹ không thể bỏ lỡ cơ hội để chiếm ưu thế
trong những hoạt động kinh tế tại Việt Nam.
Hiệp định thương mại Việt- Mỹ, được ký kết ngày 13/ 7/ 2000 sau gần 4
năm đàm phán, là một bước đột phá thể hiện nỗ lực của hai nước trong bình
thường hoá quan h
ệ kinh tế thương mại. Hiệp định có hiệu lực từ cuối 2001 hứa
hẹn nhiều cơ hội để doanh nghiệp Việt Nam thâm nhập và mở rộng quan hệ với


5
CHƯƠNG I

LỢI ÍCH CỦA VIỆC MỞ RỘNG QUAN HỆ
VIỆT NAM- HOA KỲ

I/ TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC MỞ RỘNG QUAN HỆ KINH TẾ
QUỐC TẾ:

Nền kinh tế thế giới là tổng thể hữu cơ của các nền kinh tế quốc gia độc
lập trên cơ sở sự phát triển của phân công lao động quốc tế thông qua các mối
quan hệ kinh tế quốc tế ( các quan hệ vật chất và quan hệ tài chính). Quan hệ
kinh tế đối ngoại là toàn bộ các quan hệ kinh tế của một quốc gia trong quan hệ
với phần còn lại của thế gi
ới ( các quốc gia khác và các tổ chức kinh tế quốc tế).
Kinh tế đối ngoại có vai trò hết sức quan trọng trong việc khai thác lợi thế so
sánh của mỗi quốc gia, thu hút nguồn vốn bên ngoài, chuyển giao công nghệ và
trình độ quản lý tiên tiến của thế giới, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tăng trưởng
với tốc độ cao.

1- Những xu hướng vận động của nền kinh tế thế giớ
i:
Nền kinh tế thế giới ngày nay chịu tác động của rất nhiều nhân tố khác
nhau, cả nhân tố kinh tế, xã hội, kỹ thuật, chính trị cũng như các nhân tố tự
nhiên. Bởi vậy sự vận động của nền kinh tế thế giới cũng đang diễn ra với nhiều
xu hướng khác nhau. Dưới đây là một số xu hướng chính:
1.1 Xu hướng thứ nhất:
Cuộc cách mạ
ng khoa học công nghệ tiếp tục phát triển với tốc độ vũ bão

trong việc giải quyết các vấn đề quốc tế. Tuy nhiên sự cạnh tranh kinh tế cũng
phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu, hình thành khái niệm chiến tranh kinh
tế. Chiến tranh kinh tế có nhiều mục đích khác nhau, nhiều phương thức khác
nhau với sự
đan xen về không gian và thời gian. Các quyền lợi ở lãnh hải, thềm
lục địa, quần đảo... trở thành đối tượng cạnh tranh chủ yếu. Mâu thuẫn giữa các

7
cường quốc, các trung tâm kinh tế, các tập đoàn xuyên quốc gia ngày càng gay
gắt.
1.4 Xu hướng thứ tư:
Sự phát triển của vòng cung châu Á- Thái Bình Dương với các quốc gia có
nền kinh tế hết sức năng động, đạt nhịp độ phát triển cao qua nhiều năm, làm
trung tâm kinh tế thế giới dịch chuyển về khu vực này. Người ta dự báo rằng thế
kỉ 21 là thế kỉ của châu Á- Thái Bình Dương. Điề
u đó tạo cho việc hình thành
những quan hệ kinh tế quốc tế mới tạo nên những khả năng mới cho sự phát
triển, đồng thời cũng đặt ra những thách thức mới cho tất cả các quốc gia.

2. Tác dụng của việc mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế

2.1 Đối với các nước công nghiệp phát triển
Mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại giúp cho việc bành trướng nhanh
chóng sức mạnh kinh tế của mình như tìm kiếm thị trường mới để giải quyết
khủng hoảng thừa của hàng hoá, để tìm kiếm nơi đầu tư thuận lợi hơn, đem lại
lợi nhuận cao, giảm được chi phí sản xuất do sử dụng lao độ
ng và tài nguyên rẻ
ở các nước đang phát triển.
2.2 Đối với các nước đang phát triển
Việc mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế nhằm tiếp thu vốn và công nghệ tiên

của các trung tâm kinh tế thế giới đã làm ảnh hưởng xấu và nhanh đến phát triển
kinh tế và thương mại của các kh
ối nước và các khu vực kinh tế khác.
Trái ngược với bức tranh u ám của tăng trưởng thương mại thế giới do tình
hình kinh tế sa sút, tiến trình tự do hoá thương mại toàn cầu 2001 có vẻ sáng sủa
và lạc quan hơn. Biểu hiện nổi bật có thế nói đến là Hội nghị Bộ trưởng thương
mại các nước về việc khởi động vòng đàm phán mới của Tổ chức thương mại thế

giới ( WTO) ở Đô ha vào tháng 11/ 2001 đã thành công. Hội nghị lần này đã đi
đến thoả thuận về một chương trình làm việc mà theo đánh giá của ông Tổng
giám đốc Mike More của WTO là “ to lớn và cân đối”.
Một sự kiện nổi bật nữa mà không thể không đề cập là việc Trung Quốc trở
thành thành viên thứ 143 của WTO sau 15 năm nỗ lực và cố gắng phấn đấu.
Thêm Trung Quốc, trật tự thươ
ng mại tự do của thế giới sẽ có thêm một bạn

9
hàng khổng lồ và có ảnh hưởng mạnh mẽ đến cạnh tranh các hàng xuất khẩu trên
thị trường thương mại toàn cầu.
Các khu vực và hiệp ước thương mại mới trên thế giới tiếp tục được thành
lập hay xúc tiến thành lập, khẳng định xu hướng toàn cầu hoá ngày càng mạnh
mẽ trên thế giới. Ngoài các hiệp ước thương mại tự do đã được khởi xướng và
xúc tiế
n trong các năm trước, nhiều hiệp ước thương mại tự do mới giữa các
nước tiếp tục được ra đời. Tiến trình tự do hoá thương mại một lần nữa được
khẳng định đối với khu vực châu Á- Thái Bình Dương. Khu vực thương mại tự
do Tây bán cầu ( FTAA) cũng có được sự ủng hộ tích cực và có dấu hiệu tốt để
trở thành hiện thực khi hiệp h
ội các nước Trung Mỹ và Caribê họp vào
12/12/2001 đã phê chuẩn đề án khu thương mại tự do này có kèm theo sự bảo hộ

ăng động
của ASEAN", Pakistan bày tỏ mong muốn tham gia diễn đàn khu vực ARF, Xri
lanka mong muốn có quan hệ với ASEAN. Thái Lan và My an ma vừa thiết lập
quan hệ hợp tác với tổ chức hợp tác khu vực Nam Á ( SAARC). Tất cả những
yếu tố này là thực tiễn sinh động thể hiện xu hướng liên kết và hợp tác.
Như vậy so sánh diễn biến phức tạp của tình hình kinh tế thế giới trong 2
năm qua, bên cạnh những chiế
n tranh, tranh chấp thương mại, xung đột... thì trào
lưu của tiến trình hội nhập vẫn diễn ra ngày càng mạnh mẽ chi phối hoạt động
kinh tế. Đây là điều tất yếu mà mỗi quốc gia phải làm để tồn tại và phát triển.
Chính vì thế, việc Việt Nam và Mỹ mở rộng quan hệ cũng là một điều dễ hiểu
mà đỉnh cao của mối quan hệ này là sự ra đời c
ủa Hiệp định thương mại Việt
Nam- Hoa Kỳ.

II/ LỢI ÍCH CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI VIỆT- MỸ:1/ Giới thiệu chung về Hoa Kỳ:

Mỹ là một thực thể khó đánh giá đối với chúng ta, khó cả về mặt chính trị,
xã hội lẫn kinh tế. Trước đây, chúng ta nghiên cứu Mỹ về khía cạnh để chiến

11
thắng Mỹ chứ không phải vì mục đích kinh tế. Ngày nay, chúng ta phải hiểu thấu
đáo mọi khía cạnh về Mỹ để thiết lập quan hệ kinh tế- thương mại với Mỹ. Dưới
đây là một vài nét lớn:
1.1- Vị trí địa lý:
Hợp chủng quốc Hoa Kỳ ( the United State of America- USA ) tên gọi đầy
đủ của nước Mỹ là một liên bang gồm 50 bang, trong đó có hai bang tách rời là

Người ta vẫn thường quan niệm nền kinh tế Mỹ được xây dựng từ gốc đến
ngọn. Chính sự thông minh và tinh thần sáng tạo cao độ của người Mỹ đã tạo
nên những điều kỳ diệu. Trên thực tế, từ năm 1890, Mỹ
đã sản xuất nhiều sắt
thép hơn cả Anh và Đức cộng lại. Năm 1900, theo một số tiêu chuẩn, Mỹ đã trở
thành nước công nghiệp lớn nhất và công dân Mỹ được hưởng mức sống cao
nhất thế giới. Năm 1913, nước Mỹ chiếm hơn 1/3 sản lượng công nghiệp thế
giới.
Sau chiến tranh thế giới I và II, nền kinh tế các nước châu Âu và Nhật bị
tàn phá n
ặng nề. Trong khi đó, nền kinh tế Mỹ lại phát triển mạnh, giàu có lên
nhờ chiến tranh: do bán vũ khí, lương thực thực phẩm, do vơ vét của cải ở các
châu lục khác chuyển tới cất dấu trong chiến tranh... .Kết thúc chiến tranh thế
giới II năm 1945, GNP của Mỹ chiếm đến 42% của toàn cầu. Với sức mạnh
tuyệt đối về kinh tế sau chiến tranh, Mỹ bỏ vốn lớ
n để thành lập các tổ chức tài
chính tiền tệ như: Quỹ tiền tề quốc tế ( IMF), Ngân hàng thế giới ( WB)...Thông

13
qua các tổ chức tài chính, kinh tế trên, Mỹ chi phối rất mạnh nền kinh tế toàn
cầu.
Ngày nay, nền kinh tế Mỹ không còn thống soái trên thế giới như trước
đây, nhưng với chỉ khoảng 5% số dân và 6% đất đai trên thế giới, Mỹ vẫn sản
xuất khoảng 25% sản lượng công nghiệp, hàng hoá nông nghiệp và dịch vụ thế
giới, và tỷ lệ này đã được duy trì suốt 15 năm qua. M
ỹ đã không thụt lùi so với
các nước khác. GNP tăng 3 lần kể từ sau chiến tranh thế giới II. Đúng hơn là các
nước khác đã đuổi kịp hoặc thu hẹp khoảng cách với Mỹ. Tuy nhiên, tổng sản
lượng của Mỹ vẫn gấp hơn 2 lần những đối thủ liền kề là Trung Quốc và Nhật.
Và kinh tế Mỹ gấp hơn 4 lần các nền kinh tế mạnh sau mình là Đứ

Silicon của riêng họ, nhưng khu vực nghiên cứu và sản xuất máy tính đầu tiên và
lớn nhất vẫn là thung lũng Silicon gần San Francisco, nơi có khoảng 4000 công
nhân kỹ thuật cao. Trong ván bài pô kê kinh tế quốc tế, người nước ngoài vẫn
chọn Mỹ làm nơi đổi tiền vào trước tiên. Sau đây là một vài số liệu về nền công
nghiệp Mỹ:
- Công nghiệp năng lượng: chủ yếu là dầu mỏ, khí đốt, than, thu
ỷ điện,
uranium. Lượng dầu khai thác trong nước đáp ứng 50% nhu cầu. Mỹ dẫn đầu về
sản xuất điện năng ( khoảng 2800 tỉ kwh) và năng lượng nguyên tử ( 67,1 triệu
kwh), đứng thứ hai về thuỷ điện.
- Công nghiệp chế tạo: giá trị khoảng 1000 tỷ đôla/năm. Nếu tính cả các
công ty Mỹ đầu tư ở nước ngoài thì tổng sản phẩm c
ủa ngành công nghiệp chế
tạo lên đến 1/2 tổng sản phẩm công nghiệp toàn thế giới.
1.3.3 Nông nghiệp
Mỹ là nước nông nghiệp hàng đầu thế giới. Mỹ là nước cung cấp ngũ cốc
lớn nhất, vượt xa các nước khác, trồng khoảng 12% tổng số lúa mì trên thế giới,
45% ngô, 18% bông, 10% yến mạch và lúa miến. Tương tự, các chủ nông trại và
trang trại chăn nuôi Mỹ sản xuất khoảng 14% sản phẩ
m sữa trên thế giới, 17%
các loại thịt, 27% các loại dầu mỡ thực vật và 53% đậu tương. Điều thật đáng
ngạc nhiên là đất có thể được dùng để canh tác ở Mỹ chỉ chiếm chưa đầy 8% đất
canh tác thế giới và chỉ có một phần rất nhỏ số dân Mỹ ( dưới 2%) làm nông
nghiệp. Mỹ không chỉ nuôi sống dân mình- là một trong số ít các nước công

15
nghiệp làm được như vậy- mà còn nuôi sống nhiều người dân khác trên thế giới.
Đây là sự thực, mặc dù các nước khác như Trung Quốc và Nga có nhiều đất
nông nghiệp hơn và nhiều người làm nông nghiệp hơn. Xuất khẩu chỉ chiếm
chưa đến 1/10 tổng sản phẩm quốc dân nhưng nông nghiệp đóng góp gần như

thuế quan, hạn ngạch, các biện pháp kỹ thuật hạn chế xuất nhập khẩu, các luật
thương mại...Đối với các nước đang phát triển, các nước có nền kinh tế đang
trong quá trình chuyển đổi như Trung Quốc, Việt Nam..., Mỹ thi hành chính
sách: " cây gậy và củ cà rốt" vừa gây sức ép, vừa hỗ trợ ưu đãi để thông qua các
hiệp định thương mại đa phương, song phương bu
ộc các nước này phải cải tổ
nền kinh tế, phát triển kinh tế thị trường, đẩy nhanh tiến trình hội nhập đảm bảo
lợi ích ổn định lâu dài về tài chính, thương mại, đầu tư cho Mỹ.
1.4 Vài nét về thị trường Mỹ
Với thu nhập bình quân đầu người ước tính 32000 đôla (năm 2000), cao
điển hình trong nhóm các nước công nghiệp phát triển, dân Mỹ có mức tiêu dùng
lớn nhất thế giới. Theo nghiên c
ứu của một nhóm chuyên gia Liên Hiệp Quốc,
nếu sức tiêu dùng của các gia đình Nhật, EU là 1 thì của Mỹ là 1,7.
Hàng năm, Mỹ xuất khẩu ra thị trường thế giới một trị giá hàng hoá
khoảng gần 900 tỉ đô la(năm 2000), nhiều loại hàng xuất khẩu cần đến nguyên
liệu xuất khẩu Mỹ là thị trường tiêu thụ lớn nhất thế giới, hàng năm nhập khẩu
hàng hoá hơn 1300 t
ỉ đô la. Dân Mỹ có mức sống rất khác biệt nên hàng nhập
khẩu đa dạng, đa loại phục vụ cho các phân đoạn thị trường khác nhau. Có thể
chia thị trường Mỹ theo ba phân đoạn chính như sau:
- Phân đoạn thứ nhất: gồm giới thượng lưu thường mua những nhãn hiệu
nổi tiếng, có giá rất đắt nhưng đòi hỏi chất lượng rất cao ( thường nhữ
ng mặt
hàng này có xuất xứ từ châu Âu: Pháp, Đức, ý...)
- Phân đoạn thứ hai: gồm tầng lớp trung lưu có phần dễ tính hơn trong sở
thích nhưng chủ yếu vẫn là mẫu mã đẹp, chất lượng cao và giá cả tương đối.
- Phân đoạn thứ ba: gồm tầng lớp dân nghèo Mỹ, do đó yếu tố giá cả có
tính quyết định tiêu dùng hơn cả
.

cũng như trên thị trường thế giới thông qua việc xuất khẩu những loại hàng hoá
mà Việt Nam có lợi thế.

2.2 Tăng khối lượng đầu tư trực tiếp nước ngoài- FDI từ Hoa Kỳ

18
Việt Nam đang phát triển nền kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện
đại hoá, do vậy nhu cầu về vốn, công nghệ là rất lớn. Những nhu cầu này có thể
đáp ứng qua hình thức đầu tư hấp dẫn để thu hút nguồn vốn FDI, trong đó có
các công ty của Mỹ.
Các công ty Mỹ rất có tiềm lực về vốn, công nghệ hiện đại và kinh nghiệm
quản lý doanh nghiệp cũng như kinh doanh quốc tế
. Do vậy các công ty Hoa Kỳ
đầu tư vào Việt Nam, nền kinh tế Việt Nam không chỉ tiếp nhận một khối lượng
vốn lớn mà còn tiếp cận được công nghệ "nguồn" hiện đại. Hơn thế các cán bộ
Việt Nam có thể học tập được những kinh nghiệm kinh doanh quốc tế hiện đại
thông qua tiếp xúc với các chuyên gia nước ngoài, công nhân Việt Nam có thể
được tham gia các lớp bồi dưỡng kiến thức, tay nghề
do phía Hoa Kỳ tổ chức.
Hiện nay Hoa Kỳ là nước nhận FDI nhiều nhất và cũng là nước đầu tư ra
nước ngoài lớn nhất. Mặc dù tiềm năng lớn nhưng mức đầu tư trực tiếp của Hoa
Kỳ ở Việt Nam vẫn còn ở mức khiêm tốn.
Chính vì vậy, nguồn FDI của Hoa Kỳ rất cần thiết và phù hợp với các
yêu cầu phát triển của Việt Nam trong thờ
i gian tới.

2.3 " Thêm bạn bớt thù" trong quan hệ kinh tế quốc tế
Trong thời kỳ chiến tranh lạnh, Việt Nam chỉ có quan hệ với các nước
thuộc khối xã hội chủ nghĩa và luôn có sự đối đầu với các nước thuộc hệ thống
tư bản chủ nghĩa, quan hệ Việt- Mỹ càng căng thẳng hơn khi Mỹ thất bại trong

chuyên viên cao cấp để bàn về những vấn đề mà hai bên quan tâm. Đầu tháng 5/
1997, hai bên đã đồng ý cử đại sứ nhằm phát triển quan hệ giữa hai nước. Việt
Nam luôn xác định là khép lại quá khứ, xây dựng một tương lai tốt đẹp hơn tập
trung phát triển kinh tế.
Như vậy, quan hệ kinh tế Việt- Mỹ là một t
ất yếu khách quan không
những phù hợp với xu thế vận động của thời đại mà còn thể hiện ý nguyện của
nhân dân hai nước.

3. Lợi ích của Hoa Kỳ trong quan hệ với Việt Nam:

3.1 Khái quát chung về kinh tế Việt Nam:

20
Việt Nam thuộc một trong số các nước nông nghiệp lạc hậu, sản xuất nhỏ.
Hiện nay, Việt Nam đang từng bước phát triển trên con đường công nghiệp hoá-
hiện đại hoá theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Nằm trên một bán đảo gần trung tâm Đông Nam Á, quy mô lãnh thổ
không nhỏ, khí hậu nhiệt đới gió mùa, nắng lắm, mưa nhiều, địa hình cảnh quan
đa dạng.
Vị trí địa lý củ
a Việt Nam có thuận lợi đáng kể là nằm trên các đường hàng
không và hàng hải quốc tế quan trọng. Hệ thống cảng biển là cửa ngõ không
những cho nền kinh tế Việt Nam mà cả các quốc gia lân cận, đặc biệt là vùng
Tây Nam lục địa Trung Hoa. Vị trí địa lý của Việt Nam tạo khả năng phát triển
các hoạt động trung chuyển, tái xuất khẩu và chuyển khẩu hàng hoá qua các khu
vực lân cận. Sự thuận lợi về
vị trí địa lý là một tài nguyên vô hình.
Tài nguyên thiên nhiên rất phong phú và đa dạng bao gồm đất đai, khoáng
sản, tài nguyên rừng, tài nguyên biển...Sự phân bố các tài nguyên là phân tán và

Những thành tựu bước đầu nhưng rất quan trọng đạt được qua hơn 10 năm
thực hiện đường lối đổi mới cho phép rút ra kết luận rằng: vị trí của Việt Nam
trong quan hệ chính trị kinh tế tuỳ thuộc rất nhiều vào việc chúng ta tăng trưở
ng
chính sách và biện pháp kịp thời, đúng đắn đến đâu để kết hợp các nguồn lực
trong nước với các nguồn lực bên ngoài nước phục vụ mục tiêu phát triển kinh
tế- xã hội, để có một chỗ đứng trong nền kinh tế thế giới.
Trong phạm vi khu vực Đông Nam Á- Tây Thái Bình Dương, Việt Nam
có vị trí địa lý chính trị quan trọng: quan hệ hợp tác với Việt Nam là một nước
cờ không th
ể bỏ qua trong trò chơi cân bằng lực lượng của các cường quốc trong
tương lai gần để giành giật và phát triển ảnh hưởng của mỗi cường quốc kinh tế
ở khu vực này, một khu vực đầy tính năng động và có thể trở thành một trung
tâm kinh tế thế giới trong thể kỷ 21.

3.2 Mở rộng thị trường xuất khẩu:

22
Chúng ta đã biết Hoa Kỳ là một nước xuất khẩu lớn nhất thế giới. Hàng
hoá của Mỹ xuất hiện trên tất cả các thị trường thế giới và luôn chiếm thị phần
đáng kể. Điều này phù hợp với chiến lược thúc đẩy xuất khẩu để tạo công ăn
việc làm, tăng trưởng kinh tế nên Hoa Kỳ luôn tìm cách mở rộng thị trường xuất
khẩu của mình. Thị trường Việt Nam với gần 80 triệu dân là một thị trường đầy
tiềm năng với sức mua của người dân ngày càng tăng. Các công ty nước ngoài
đang thực hiện các chiến dịch lớn để chiếm lĩnh thị trường này vì họ có thu được
nguồn lợi lớn khi bán hàng hóa trên thị trường Việt Nam trong khi đó các công
ty Mỹ chỉ có thị phần rất nhỏ bé so với tiềm nă
ng của mình. Sự chậm trễ này
không phải do lỗi của các công ty Mỹ mà do quan hệ của hai nước chưa được
bình thường hoá hoàn toàn, còn tồn tại những quy định ngăn cản các công ty

gắng của hai bên là sự ra đời của Hiệp định Thương mạ
i Việt- Mỹ, một Hiệp
định đã tạo ra một trang mới trong những chặng đường của quan hệ thương mại
Việt- Mỹ.

24
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG THƯƠNG MẠI VIỆT - MỸ

I/ GIAI ĐOẠN TRƯỚC KHI HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI ĐƯỢC KÝ
KẾT:

1. Trước khi Hoa Kỳ bỏ lệnh cấm vận đối với Việt Nam (trước 03/02/1994)

1.1 Trước 1975

Hoa Kỳ có quan hệ thương mại với chính quyền Việt Nam Cộng Hoà
(Ngụy) cũ. Kim ngạch buôn bán không lớn chủ yếu là hàng nhập khẩu bằng viện
trợ của Hoa Kỳ để phục vụ chiến tranh. Phần xuất khẩu có xuất khẩu một số mặt
hàng như cao su, gỗ, hải sản, đồ gốm ... song kim ngạch xuất khẩu không đáng
kể.
1.2 Sau 1975
Tháng 5/1964, Hoa Kỳ
áp dụng "đạo luật buôn bán với kẻ thù" (tức là với
các nước cộng sản lúc đó), cấm vận chống miền Bắc nước ta. Theo đạo luật này,
Việt Nam bị coi là kẻ thù và những hành động quan hệ với kẻ thù sẽ bị trừng trị.
Tất cả mọi trao đổi, giao lưu với Việt Nam trên tất cả các mặt đều bị cấm.
30/4/4975, Hoa Kỳ mở rộng lệnh c
ấm vận với toàn bộ đất nước Việt Nam.
Cấm vận không chỉ áp dụng trong buôn bán mà cả trong các hoạt động tài chính,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status