Tài liệu Tiểu luận "BẢN CHẤT NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA" - Pdf 90

TIỂU LUẬN
BẢN CHẤT NỀN KINH TẾ THỊ
TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ
HỘI CHỦ NGHĨA

Giáo viên hướng dẫn : Phạm Thành
Sinh viên thực hiện :

1
MỤC LỤC

I. Những lý luận chung về kinh tế thị trường (tr1)
1.Kinh tế thị trường là gì ? (tr1)
2.Điều kiện hình thành và các bước phát triển của kinh tế thị trường.(tr2)
3.Các nhân tố của kinh tế thị trường (tr4)
4.Các quy luật của kinh tế thị trường (tr7)
II.Sự hình thành và phát triển của nền kinh tết thị trường định hướng
XHCN ở nước ta. (tr10)
1.Tính tất yếu khách quan phải phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam.(tr10)
2.Quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường ở nước ta (tr12)
3.Bản chất, đặc trưng của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt
Nam. (tr15)
4.Cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước XHCN (tr17)
5.Thực trạng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam (tr21)
III.Giải pháp để phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam
(tr22)
Kết luận
2
LỜI MỞ ĐẦU
Trên cơ sở nhận thức đúng đắn hơn và đầy đủ hơn về chủ nghĩa xó hội và
con đường đi lên chủ nghĩa xó hội ở Việt Nam, Đại hội VI của Đảng Cộng

kiến thức của em còn hạn chế nên trong đề tài không tránh khỏi sai sót, vì vậy
em rất mong sự giúp đỡ của thầy để bài làm của em trở nên hoàn thiện hơn./
3
I.Những vấn đề lí luận chung về kinh tế thị trường.
1.Kinh tế thị trường là gì ?
Lịch sử phát triển của xã hội loài người, là lịch sử phát triển không ngừng
của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội, đồng thời cũng là quá
trình thay thế lẫn nhau của các phương thức sản xuất xã hội. Nhưng bất cứ
nền sản xuất xã hội nào cũng đều phải giải quyết 4 vấn đề cơ bản: Sản suất cái
gì? Với số lượng bao nhiêu? Sản xuất như thế nào? Sản xuất cho ai và phân
phối sản phẩm như thế nào? Giải quyết những vấn đề này có hai kiểu tổ chức
kinh tế- xã hội, đó là: Kinh tế tự nhiên và kinh tế hàng hóa
Kinh tế tự nhiên là hình thức kinh tế đầu tiên của xã hội loài người. Kinh tế
tự nhiên là nền kinh tế trong đó sản phẩm được sản xuất ra nhằm thỏa mãn
nhu cầu cá nhân của con người sản xuất trong một đơn vị kinh tế nhất định.
Người sản xuất quyết định về số lượng, chủng loại sản phẩm theo yêu cầu của
mình, gắn với điều kiện tự nhiên và phong tục tập quán cổ truyền. Trình độ
phân công lao động, công cụ lao động, phương thức tổ chức sản xuất còn rất
thấp và giản đơn: sản xuất mang tính tự cấp, tự túc, khép kín theo từng vùng
từng địa phương, lãnh thổ. Trong các xã hội nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ
phong kiến chủ yếu là nền kinh tế tự nhiên.
Kinh tế hàng hóa ra đời từ kinh tế tự nhiên, kế tiếp kinh tế tự nhiên trên cơ
sở sự phát triển của phân công lao động xã hội và sự tách biệt về kinh tế của
những người sản xuất. đó là hình thức kinh tế trong đó người sản xuất ra sản
phẩm không phải để thỏa mãn nhu cầu trực tiếp của mình, mà nhằm để trao
đổi, để bán trên thị trường. Vì vậy số lượng và chủng loại sản phẩm suy cho
cùng là do người mua quyết định. Việc phân phối sản phẩm được thực hiện
thông qua quan hệ trao đổi ( mua- bán) trên thị trường.
Kinh tế hàng hóa ra đời từ rất sớm- vào thời kỳ tan rã của chế độ công xã
nguyên thủy và đã từng tồn tại trong nhiều phương thức sản xuất. Hình thức

Như vậy sản xuất hàng hóa không đối lập với chủ nghĩa xã hội mà là thành
tựu phát triển của nền văn minh nhân loại, tồn tại khách quan, cần thiết cho
công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và cả khi chủ nghĩa xã hội đã xây dựng.
Tóm lại kinh tế thị trường là giai đoạn phát triển cao của kinh tế hàng hóa.
Nó khác với kinh tế tự nhiên ở trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, trình
độ phân công lao động xã hội và cách thức tổ chức kinh tế xã hội, trong đó
sản xuất và toàn bộ quá trình tái sản xuất gắn chặt với thị trường. Quan hệ
kinh tế giữa những người sản xuất và tiêu thụ sản phẩm biểu hiện qua thị
trường , qua việc mua bán sản phẩm lao động của nhau. Việc sản xuất ra
những hàng hóa gì, cần có những dịch vụ nào đều phải xuất phát từ nhu cầu
5
của thị trường. Mọi sản phẩm đi vào sản xuất phân phối, trao đổi , tiêu dùng
đều phải thông qua thị trường.
2.Điều kiện hình thành và các bước phát triển của kinh tế thị trường.
a.Những điều kiện cơ bản để hình thành kinh tế thị trường
- Thứ nhất là phải tồn tại nền kinh tế hàng hóa. Kinh tế thị trường là giai đoạn
phát triển cao của kinh tế hàng hóa nên những điều kiện để phát triển kinh tế
hàng hóa chính là điều kiện để phát triển kinh thị trường.- Thứ hai là phải
dựa trên cơ sở tự do kinh tế , tự do sản xuất xã hội kinh doanh.Trong một nền
kinh tế thị trường có nhiều người cùng sản xuất một loại sản phẩm và ngược
lại.Mỗi đơn vị sản xuất và người tiêu dùng cần nhiều loại sản phẩm hàng hóa
khác nhau.Vì vậy việc tự do lựa chọn mối quan hệ bán hàng giữa các chủ thể
kinh tế , tự do trao đổi mua bán là hết sức cần thiết cho quá trình giải phóng
sức sản xuất và điều hòa lợi ích giữa người mua và người bán .Sự tự do mua
bán còn thể hiện tập chung qua giá cả hình thành trên thị trường tuân theo sự
chi phối của các quy luật kinh tế trong sản xuất và lưu thông hàng hóa theo
giá cả thị trường – giá cả thỏa thuận giữa người mua và người bán , là sự gặp
gỡ giữa cung và cầu ,là biểu hiện tác động của quy luật giá trị .Nói đến kinh tế
thị trường thì phải nói đến sự tự do cạnh tranh hay nói đúng hơn cạnh tranh là
môi trường của kinh tế thị trường ,là quy luật của kinh tế thị trường Cạnh

khác.Như vậy phân công lao động xã hội đã tách sự lệ thuộc của người lao động sản xuất
với tự nhiên và chuyển thành sự phụ thuộc giữa con người vớí con người trong quá trình sản
xuất .Phân công lao động xã hội đã thực sự là cơ sở của sản xuất và trao đổi hàng hóa .
Đặc trưng cơ bản của giai đoạn sản xuất hàng hóa giản đơn là dựa trên cơ sở kĩ thuật thủ
công tương ứng với văn minh nông nghiệp ,tư hữu nhỏ về tư liệu sản xuất ,cơ cấu kkinh tế
là nông nghiệp-thủ công nghiệp ;tính chất hàng hóa của sản phẩm chưa hoàn toàn phổ biến .
- Bước chuyển từ nền kinh tế hàng hóa giản đơn lên nền kinh tế thị trường tự do
Từ giữa thế kỉ XV đến giữa thế kỉ XVII ở nứơc Anh và một số nước châu Âu diễn ra quá
trình qúa độ từ chế độ phong kiến sang CNTB .Đó là thời kì tích lũy nguyên thủỷ của CNTB
châu Âu thương nghiệp và đặc biệt là ngọai thương phát triển mạnh .Các lí thuyết kinh tế
của trường phái trọng thương đã góp phần quan trọng vào quá trình chuyển nền kinh tế hàng
hóa giản đơn sang kinh tế thị trường tự do .Sau khi tích lũy được một khối lượng tiền của
lớn các nhà kinh doanh tập trung sức pt thị trường dân tộc theo nguyên tắc tự do kinh tế
.Trong thời kì này vốn được đầu tư để pt các lĩnh vực công nghiệp nhẹ ,nông nghiệp và công
nghiệp nặng nhằm tạo ra tiềm lực của nền kinh tế thị trường .Việc tạo ra nền đại công
nghiệp cơ khí ,kết cấu hạ tầng cơ sở vật chất ,tín dụng đã pt ở một trình độ nhất định các thị
trường đấtđai và thị trưòng lao động được xác lập …là chỗ dựa cho sự phát triển kinh tế thị
trường .Điều này có thể minh chứng bằng một ví dụ lịch sử theo Mac vào thế kỷ 17 Hà lan
là nước tư bản điển hình nhưng bước sang thế kỷ 18 Hà lan đã phải nhường vị trí nền kinh tế
phát triển nhất cho nước Anh.Nguyên nhân chính là ở chỗ các nhà kinh doanh Hà lan chủ
trương phát triển kinh tế bằng con đường buôn bán đầu cơ, không chú trọng vào phát triển
nền công nghiệp .Trong khi đó ở nước Anh các nhà kinh doanh đã biết kết hợp vốn tích lũy
từ ngoài nước với điều kiện tài nguyên, lao động trong nước đầu tư vào phát triển công
nghiệp nhẹ và cuối cùng là phát triển công nghiệp nặng nhanh chóng tạo ra nền đại công
nghiệp đại cơ khí. Vì vậy khi nước Anh trở thành một cường quốc công nghiệp thì Hà lan
vẫn chỉ là một nước cộng hòa thương nghiệp.
Như vậy đặc trương cơ bản của kinh tế thị trường tự do là dựa trên cơ sở kỹ thuật điện gắn
với nền văn minh công nghiệp tồn tại những hình thức tư hữu nhỏ và tư hữu lớn về tư liệu
sản xuất; Cơ cấu kinh tế nông- công- thương nghiệp tiến tới công- nông nghiệp- dịch vụ vận
động theo cơ chế kinh tế thị trường tự điều chỉnh.

buộc những người sản xuất phải giảm chi phí đến mức tối thiểu bằng cách áp
dụng kỹ thuật và công nghệ tiên tiến. Do đó thúc đẩy sự tiến bộ của khoa học
công nghệ và sự phát triển của lực lượng sản xuất.
Ngoài ra giá cả còn thực hiện chức năng phân phối lại.
Giá cả thị trường phụ thuộc vào các nhân tố:
Thứ 1 : Giá trị thị trường.
Giá trị thị trường là kết quả của sự san bằng các giá trị cá biệt của hàng hóa
trong cùng một ngành thông qua cạnh tranh.Cạnh tranh trong nội bộ ngành
dẫn tới hình thành một giá trị xã hội trung bình .Tùy thuộc vào trình độ phát
triển của lực lượng sản xuất của mỗi ngành mà giá trị thị trường có thể ứng
với một trong ba trường hợp sau:
8
(1) Giá trị thị trường của hàng hóa do giá trị của đại bộ phận hàng hóa sản
xuất ra trong điều kiện trung bình quyết định.
(2) Giá trị thị trường của hàng hóa do giá trị của đại bộ phận hàng hóa sản
xuất ra trong điều kiện xấu quyết định.
(3) Giá trị thị trường của hàng hóa do giá trị của đại bộ phận hàng hóa sản
xuất ra trong điều kiện tốt quyết định.
Thứ hai, Giá trị của tiền .
Giá cả thị trường tỷ lệ thuận với giá trị thị trường của hàng hóa và tỷ lệ
nghịch với giá trị ( hay sức mua của tiền ).Bởi vậy khi giá trị thị trường của
hàng hóa không đổi thì giá cả của hàng hóa vẫn có thể thay đổi do giá trị của
tiền tăng lên hoặc giảm xuống.
Thứ ba, Cung và cầu .
Trong nền kinh tế thị trường, cung và cầu là những lực lượng hoạt động
trên thị trường. Giữa cung và cầu tồn tại một mối quan hệ biện chứng ;sự tác
động giữa chúng hình thành nên giá cả cân bằng hay giá cả thị trường .
Thư tư : cạnh tranh trên thị trường.
Trong kinh tế thị trường các chủ thể hành vi kinh tế vì lợi ích kinh tế của
bản thân mình mà tiến hành cạnh tranh với nhau. Cạnh tranh được hiểu là sự

nhất .Chính điều đó góp phần thúc đẩy khoa học kỹ thuật phát triển.
Như vậy lợi nhuận là một trong những nhân tố quan trọng của kinh tế thị
trường mà nếu thiếu nó kinh tế thị trường sẽ không thể ra đời và phát triển
được.
d.Tiền tệ.
Tiền tệ là một loại hàng hóa đặc biệt được tách ra từ trong thế giới hàng hóa
làm vật ngang giá chung thống nhất; nó thể hiện lao động xã hội và biểu hiện
quan hệ giữa những người sản xuất hàng hóa.
Lịch sử phát triển của tiền tệ là lịch sử phát triển các hình thái giá trị từ thấp
đến cao, từ hình thái giá trị giản đơn cho đến hình thái đầy đủ nhất của tiền tệ,
nó đã trải qua những hình thức :
(-) Hình thái giá trị giản đơn hay ngẫu nhiên.
(-) Hình thái giá trị đầy đủ hay mở rộng.
(-) Hình thái chung của giá trị.
(-) Hình thái tiền tệ.
Bản chất của tiền tệ được thể hiện qua năn chức năng sau:
(-)Thước đo giá trị.
(-)Phương tiện lưu thông.
10
(-)Phương tiện cất trữ.
(-)Phương tiện thanh toán.
(-)Tiền tệ thế giới.
Trong nền kinh tế hàng hóa cũng như trong nền kinh tế thị trường năm chức
năng này của tiền tệ có quan hệ mật thiết với nhau.
Sự phát triển các chức năng của tiền tệ phản ánh sự phát triển của sản xuất và
lưu thông hàng hóa.Nhờ có tiền tệ mà lưu thông trở nên thông suốt hơn, ,nâng
cao sản xuất kinh doanh, xúc tiến giao lưu kinh tế ,khoa học kỹ thuật với bên
ngoài, góp phần đẩy nhanh sự phát triển kinh tế …
4.Các quy luật của kinh tế thị trường.
Quy luật lưu thông tiền tệ

Trong nền sản xuất hàng hóa quy luật giá trị có 3 tác động sau:
(+)Điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hóa :
Quy luật giá trị điều tiết sản xuất hàng hóa được thể hiện trong hai trường
hợp sau:
Thứ nhất ,nếu như một mặt hàng nào đó có giá cả cao hơn giá trị ,hàng hóa
bán chạy và lãi cao những người sản xuất sẽ mở rộng quy mô sản xuất ,đầu tư
thêm tư liệu sản xuất và sức lao động .Mặt khác ,những người sản xuất hàng
hóa khác nhau cũng có thể chuyển sang sản xuất mặt hàng này ,do đó tư liệu
sản xúât và sức lao động ở ngành này tăng lên quy mô sản xuất ngày càng mở
rộng.
Thứ hai,nếu như một mặt hàng nào đó có giá cả thấp hơn giá trị sẽ bị lỗ
vốn.Tình hình đó buộc người sản xuất phải thu hẹp việc sản xuất mặt hàng
này hoặc chuyển sang sản xuất mặt hàng khác làm cho tư liệu sản xuất và sức
lao động ở ngành này giảm đi ở ngành khác lại có thể tăng lên.
Còn nếu như mặt hàng nào đó giá cả bằng gía trị thì người sản xuất có thể
tiếp tục sản xuất mặt hàng này.
Như vậy quy luật gía trị đã tự động điều tiết tỉ lệ phân chia tư liệu sản xuất
và sức lao động vào các ngành sản xuất khác nhau đáp ứng nhu cầu của xã
hội.
Tác động điều tiết lưu thông hàng hóa của quy lụât giá trị thể hiện ở chỗ nó
thu hút hàng hóa từ nơi có giá trị thấp đến nơi có giá cả cao và do đó góp
phần làm cho hàng hóa giữa các vùng có sự cân bằng nhất định .
(+)Kích thích cải tiến kĩ thuật ,hợp lí hóa sản xuất tăng năng xuất lao động
hạ giá thành sản phẩm.
Các hàng hóa được sản xuất ra trong những điều kiện khác nhau nhưng trên
thị trường thì các hàng hóa thì đều phải được trao đổi theo mức hao phí lao
động cá biệt khác nhau ,nhưng trên thị trường thì các hàng hóa đều phải được
trao đổi theo mức hao phí lao động xã hội cần thiết .Vậy người sản xuất hàng
12
hóa nào mà có mức hao phí lao động thấp hơn mức lao hao phí lao động xã

Cạnh tranh có vai trò rất quan trọng và là một trong những động lực mạnh
mẽ nhất thúc đẩy sản xuất phát triển.Nó buộc người sản xuất phải thường
13
xuyên năng động nhạy bén ,thường xuyên cải tiến kĩ thuật ,áp dụng tiến bộ
khoa học,công nghệ nâng cao tay nghề hoàn thiện tổ chức quản lý để nâng
cao năng xuất chất lượng và hiệu quả kinh tế .Đó chính là cạnh tranh lành
mạnh.Thực tế cho thấy ở đâu thiếu cạnh tranh hoặc có biểu hiện độc quyền thì
ở đó thường trì trệ bảo thủ ,kém phát triển.
Bên cạnh mặt tích cực cạnh tranh cũng có mặt tiêu cực thể hiện ở cạnh
tranh không lành mạnh như dùng những thủ đoạn vi phạm đạo đức hoặc vi
phạm pháp luật nhằm thu được nhiều lợi ích nhất cho mình gây tổn hại đến
lợi ích của tập thể ,xã hội cộng đồng như làm hàng giả ,buôn lậu ,trốn thuế ,ăn
cắp bản quyền tung tin phá hoại uy tín đối thủ ,hoặc cạnh tranh làm tăng sự
phân hóa giau nghèo hoặc tổn hại đối với môi trường sinh thái …
- Quan hệ cung cầu và gía cả hàng hóa
(+)Cầu là nhu cầu có khả năng thanh toán .Như vậy cầu là nhu cầu nhưng
không phải là nhu cầu bất kì mà là nhu cầu được đảm bảo bằng số lượng tiền
tương ứng gọi là nhu cầu có khả năng thanh toán .Quy mô của cầu phụ thuộc
vào các nhân tố chủ yếu như :thu nhập ,sức mua của đồng tiền ,giá cả hàng
hóa ,lãi xuất thị hiếu của người tiêu dùng …trong đó giá cả là yếu tố có í
nghĩa đặc biệt quan trọng .
(+)Cung là tổng số hàng hóa có ở thị trường hoặc có khả năng thực tế cung
cấp cho thị trường .Cung biểu hiện kết quả sản xuất dưới hình thức hàng
hóa .Như vậy cung do sản xuất quyết định nhưng cung không phải bao giờ
cũng đồng nhất với sản xuất .Ví dụ :những sản phẩm sản xuất để tự tiêu thụ
hoặc không có khả năng đưa tới thị trường thì không nằm trong cung .Cụ thể
lượng cung phụ thuộc chủ yếu vào số lượng ,chất lượng các yếu tố sản xuất
,chi phí sản xuất ,giá cả hàng hóa trong đó cũng như cầu giá cả là yếu tố có
vai trò đặc biệt quan trọng .
Cung và cầu có quan hệ chặt chẽ với nhau .Cầu xác định cung và ngược lại

- Như mọi người đó biết, kinh tế thị trường là một kiểu tổ chức kinh tế phản
ảnh trỡnh độ phát triển nhất định của văn minh nhân loại. Từ trước đến nay
nó tồn tại và phát triển chủ yếu dưới chủ nghĩa tư bản, là nhân tố quyết định
sự tồn tại và phát triển của chủ nghĩa tư bản. Chủ nghĩa tư bản đó biết lợi
dụng tối đa ưu thế của kinh tế thị trường để phục vụ cho mục tiêu phát triển
tiềm năng kinh doanh, tỡm kiếm lợi nhuận, và một cỏch khỏch quan nú thỳc
đẩy lực lượng sản xuất của xó hội phỏt triển mạnh mẽ. Ngày nay, kinh tế thị
trường tư bản chủ nghĩa đó đạt tới giai đoạn phát triển khá cao và phồn thịnh
trong các nước tư bản phát triển.
Tuy nhiên, kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa không phải là vạn năng.
Bên cạnh mặt tích cực nó cũn cú mặt trỏi, cú khuyết tật từ trong bản chất của
15


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status