HOÀN THIỆN KHUNG THỂ CHẾ
VỀ QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG NGUỒN VỐN ODA
Công tác thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA ở Việt Nam trong 15
năm qua đã đạt được những thành quả đáng khích lệ, góp phần tích cực vào
sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Một trong những nguyên
nhân dẫn đến kết quả trên là nhờ sự chỉ đạo và điều hành của Chính phủ và
Thủ tướng Chính phủ đối với công tác quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA
thông qua việc xây dựng và không ngừng hoàn thiện khung thể chế về quản
lý và sử dụng nguồn vốn này. Bài viết dưới đây nhằm giới thiệu với bạn đọc
quá trình hình thành và phát triển thể chế quản lý và sử dụng ODA từ năm
1994 đến nay và những vấn đề đặt ra trong thời gian tới.
Khung thể chế quản lý và sử dụng ODA ở Việt Nam bao gồm các văn
bản pháp quy của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các cơ quan quản lý
nhà nước về ODA liên quan đến chính sách và pháp luật về quản lý và sử
dụng nguồn vốn này.
Trước năm 1994, quản lý viện trợ dựa trên quyết định của Thủ tướng
Chính phủ đối với từng khoản viện trợ hoặc từng chương trình, dự án cụ thể.
Nhìn chung công tác quản lý ODA tập trung ở cấp Trung ương.
Trong quá trình đổi mới, công tác quản lý mọi mặt đời sống kinh tế -
xã hội của đất nước đã chuyển dần sang nền tảng pháp luật. Việc quản lý
nguồn vốn ODA không là ngoại lệ và chính vì vậy mà ngay sau khi Việt
Nam nối lại quan hệ với cộng đồng tài trợ quốc tế vào tháng 11 năm 1993,
Chính phủ đã nhận thức được trách nhiệm của mình đối với việc sự dụng
hiệu quả nguồn vốn ODA cũng như tầm quan trọng của nguồn vốn này đối
với sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và đặt ra yêu cầu phải
quản lý chặt chẽ nguồn vốn này như một nguồn lực công của quốc gia. Theo
tinh thần đó, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ thị cho Ủy ban Kế hoạch Nhà
nước lúc đó (nay là Bộ Kế hoạch và Đầu tư) và các cơ quan hữu quan Việt
Nam bắt tay nghiên cứu và xây dựng Nghị định của Chính phủ về quản lý và
1
2
Thứ nhất, tính đồng bộ cao của Nghị định về quản lý và sử dụng ODA
với các văn bản pháp luật chi phối khác trong các lĩnh vực như đầu tư, xây
dựng công trình, thuế, đền bù di dân, giải phóng mặt bằng, ký kết và tham
gia các điều ước quốc tế khung và cụ thể về ODA. Sự hài hòa với các quy
định của nhà tài trợ cũng được thể hiện rõ trong Nghị định này, đặc biệt là
khâu theo dõi và đánh giá các chưng trình và dự án ODA.
Thứ hai, Nghị định đã thể hiện sự phân cấp mạnh mẽ trong quản lý và
sử dụng vốn ODA tương tự như đối với đầu tư công. Theo Nghị định, Thủ
tướng Chính phủ chỉ phê duyệt Danh mục yêu cầu tài trợ, các chương trình,
dự án ODA quan trọng quốc gia, các chương trình, dự án kèm theo khung
chính sách và trong lĩnh vực an ninh, quốc phòng . Việc quyết định đầu tư và
phê duyệt các chương trình và dự án ODA khác đều phân cấp cho Thủ
trưởng các cơ quan chủ quản. Sư phân cấp mạnh mẽ này một mặt tạo ra sự
chủ động và nâng cao vai trò làm chủ, trách nhiệm của các ngành, các cấp
song mặt khác đặt ra thách thức về năng lực quản lý và tổ chức thực hiện đối
với các bộ, ngành và địa phương.
Thứ ba, công khai, minh bạch trong quản lý và sử dụng ODA thông
qua việc Bộ Kế hoạch và Đầu tư và các nhà tài trợ công bố rộng rãi thông tin
về nguồn ODA, các chính sách và điều kiện tài trợ để các đơn vị đề xuất có
điều kiện để chuẩn bị và đề xuất các chương trình, dự án ODA.
Thứ tư, công tác theo dõi và đánh giá các chương trình, dự án ODA
được quy định cụ thể và toàn diện, tiệm cận với tập quán quốc tế. Đây cũng
là lần đầu tiên Chính phủ và các nhà tài trợ sử dụng chung hệ thống mẫu
biểu báo cáo tiến độ thực hiện các chương trình, dự án ODA.
Nhìn tổng thể, Nghị định 131/2006/NĐ-CP đã thể hiện khá thành công
ý tưởng Chính phủ thống nhất quản lý ODA (phê duyệt Danh mục yêu cầu
tài trợ), trao quyền cho các đơn vị thụ hưởng và cơ quan chủ quản trong quá
trình thực hiện để đề cao trách nhiệm, phát huy sáng kiến và huy động sự
tham gia, đồng thời tăng cường hậu kiểm theo tinh thần hài hoà quy trình và