Tài liệu Đề tài nghiên cứu khoa học "Học phần phương pháp dạy học Ngữ văn" - Pdf 91

Đề tài nghiên cứu khoa học: Học phần phương pháp dạy học Ngữ văn
=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=
PHẦN MỘT: MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Thơ trữ tình là một bộ phận chiếm số lượng lớn trong chương trình
Ngữ văn THCS nói chung và chương trình Ngữ văn 8 nói riêng. Để dạy-học
tốt các tác phẩm thơ trữ tình, tạo được sự rung cảm, bồi đắp được tâm hồn,
trí tuệ cho học sinh là vấn đề quan trọng được nhiều người quan tâm.
Với xu thế thời đại, ngày càng nhiều học sinh chán học môn ngữ văn
- một môn học quan trọng và chiếm số tiết khá nhiều trong phân phối
chương trình so với các môn học khác. Để lôi cuốn sự hứng thú học tập
môn Ngữ văn cho các em lứa tuổi THCS, Bộ GD&ĐT đã có nhiều sự đổi
mới về nội dung chương trình và phương pháp dạy - học nhằm giúp các em
tiếp thu tốt các tác phẩm văn chương, đặc biệt là thơ trữ tình.
Là sinh viên ngành sư phạm Văn - Sử, tôi muốn chung một cánh tay
vào công việc đổi mới nội dung và phương pháp dạy - học văn hiện nay
nhằm phát huy tính tích cực sáng tạo của học sinh. Để thực hiện điều đó,
tôi nghiên cứu một số bài thơ trữ tình trong chương trình Ngữ văn 8, bằng
việc sử dụng các kiểu câu hỏi để thiết kế bài giảng theo phương pháp tích
hợp - tích cực, nhằm định hướng cho giáo viên và học sinh trong việc tiếp
cận thơ trữ tình theo phương pháp mới.
Qua hệ thống các kiểu câu hỏi: câu hỏi liên tưởng - tưởng tượng;
Câu hỏi phát hiện - gợi tìm; Câu hỏi phân tích tổng hợp; Câu hỏi so sánh;
Câu hỏi khái quát; Câu hỏi nêu vấn đề, tôi mong muốn tạo ra được những
câu hỏi thú vị, kích thích sự hứng thú tìm tòi, khám phá cho học sinh, giúp
các em vừa cảm, vừa hiểu tốt tác phẩm văn chương, phát huy được chủ thể
chủ quan của các em.
Lựa chọn nghiên cứu đề tài này, chúng tôi muốn đi sâu tìm hiểu các
vấn đề nhằm giúp mình tự nắm vững và củng cố phương pháp dạy học môn
Ngữ văn THCS (nhất là các tác phẩm thơ trữ tình) theo hướng tích hợp,
tích cực với việc vận dụng hệ thống các kiểu câu hỏi để phục vụ cho các

Nghiên cứu đề tài này chúng tôi chỉ tập trung vào một số văn bản sau đây:
1, Đập đá ở Côn Lôn (Phan Châu Trinh - Ngữ văn 8, tập I)
2, Muốn làm thằng cuội (Tản Đà - Ngữ văn 8, tập I)
3, Nhớ rừng (Thế Lữ - Ngữ văn 8, tập II)
4, Ông đồ (Vũ Đình Liên - Ngữ văn 8, tập II)
5, Khi con tu hú (Tố Hữu - Ngữ văn 8, tập II)
6, Ngắm trăng (Hồ Chí Minh - Ngữ văn 8, tập II)
2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu thơ trữ tình và thơ trữ tình Việt Nam hiện đại.
- Thiết kế sơ bộ bài giảng theo hướng tích hợp, tích cực bằng vận dụng các
kiểu câu hỏi: liên tưởng - tưởng tượng; so sánh; phát hiện - gợi tìm; phân
tích tổng hợp; khái quát; nêu vấn đề ở một số văn bản Ngữ văn 8.
3. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng mà đề tài này hướng tới là đi sâu vào tìm hiểu nội dung và
nghệ thuật của một số tác phẩm thơ trữ tình Việt Nam hiện đại trong
chương trình Ngữ văn 8
IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng một số biện pháp nghiên cứu:
1. Phương pháp so sánh, đối chiếu
2. Phương pháp thống kê – phân loại
3. Phương pháp phân tích - tổng hợp
4. Phương pháp thiết kế - soạn giảng
=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=
Trang 2
Đề tài nghiên cứu khoa học: Học phần phương pháp dạy học Ngữ văn
=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=
5. Phương pháp graph (sơ đồ hoá)
V. CẤU TRÚC ĐỀ TÚI
PHẦN MỘT: MỞ ĐẦU
PHẦN HAI: NỘI DUNG

bộc lộ tình cảm, suy nghĩ của mình.
II. ĐẶC ĐIỂM
1. Thơ trữ tình bắt nguồn từ hiện thực cuộc sống
Cội nguồn của văn bản bắt đầu từ hiện thực cuộc sống con người,
thiên nhiên, xã hội, văn hoá, lịch sử… Văn học bắt nguồn từ đời sống con
người. Để sáng tác nên một bài thơ, người thi sĩ phải có những cảm hứng,
định hướng đề tài xuất phát từ hiện thực cuộc sống. Đó chính là tình cảm,
những suy nghĩ của nhà thơ trước hiện thực cuộc sống đã được ý thức để
bật lên thành vần thơ hài hoà, giàu nhịp điệu. Phải là người sống giữa làng
quê thân thuộc thì Xuân Quỳnh mới có thể có Tiếng gà trưa với những
dòng thơ chân thật, phải qua cuộc chiến đấu anh hùng và đầy gian lao vất
vả thì Chính Hữu mới có tình Đồng chí chân chất tình cảm…
Có thể nói thơ là cái nhụy của cuộc sống, phản ánh cuộc sống một
cách thi vị và đầy màu sắc.
2. Thơ trữ tình là sự kết hợp giữa tình cảm và lí trí, giữa tình và ý.
- Theo Trần Đình Sử: Thơ là sự thổ lộ tình cảm mãnh liệt đã được ý
thức (lý luận văn học, tập II - Tác phẩm và thể loại văn học). Nó bộc lộ trực
tiếp cái chủ quan cá nhân của người nghệ sĩ. Nó không miêu tả sự vật bên
ngoài, không kể các sự vật xảy ra bên trong mà chỉ biểu hiện cái xúc động
nội tâm, những tình cảm, cảm nhận của con người trước sự việc, giúp ta
hiểu chủ thể bên trong. Cái tôi trữ tình được bộc lộ thông qua nhân vật trữ
tình hoặc chủ thể trữ tình.
=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=
Trang 4
Đề tài nghiên cứu khoa học: Học phần phương pháp dạy học Ngữ văn
=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=
Tình cảm chi phối mạnh mẽ nhưng phải có sự kết hợp hoà với lý trí.
Thơ là dòng chảy giữa đôi bờ lí trí và tình cảm, lý trí soi đường cho tình
cảm thăng hoa
- Thơ trữ tình có sự kết hợp hài hoà giữa ý và tình tình đọng lại

Nếu không có trí tưởng tượng phong phú sẽ không có bức tranh mùa
hè sôi động Khi con tu hú của Tố Hữu. Không có hình ảnh thi vị Trăng vào
cửa sổ đòi thơ trong Tin thắng trận (Báo tiệp) của Hồ Chí Minh, sẽ chẳng
bao giờ có một chú Cuội ngông trong Muốn làm thằng cuội của Tản Đà,…
Nhờ trí tưởng tượng đã chuyển tải vào thơ những hình ảnh độc đáo,
trường tồn với thời gian.
4. Đặc điểm về ngôn ngữ thơ trữ tình hiện đại
4.1. Ngôn ngữ thơ trữ tình hàm súc, cô đọng
=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=
Trang 5
Đề tài nghiên cứu khoa học: Học phần phương pháp dạy học Ngữ văn
=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=
Để có một vần thơ lắng đọng, các nhà thơ phải lao động hết mình để
lựa chọn ra những ngôn từ thơ tốt nhất diễn tả được cảm xúc tình cảm của
mình. Đó là sự gọt giũa về mặt ngôn từ để tạo ra những từ ngữ thơ mà đọc
lên người đọc ấn tượng và hiểu thấu nội dung tư tưởng nhà thơ gửi gắm.
4.2. Ngôn ngữ thơ giàu tính nhịp điệu
Trong thơ, sự phân dòng của lời thơ nhằm mục đích nhịp điệu, tạo ra
nhịp điệu thơ. Cuối mỗi dòng thơ đều có chỗ ngắt nhịp.Tuỳ theo số chữ
trong mỗi dòng mà nhịp thơ thể hiện khác nhau.Và theo từng cung bậc tình
cảm thì nhà thơ sử dụng thể thơ 4 chữ, 5 chữ, 6 chữ, 7 chữ, 8 chữ hoặc dài
hơn, hoặc ngắn hơn chen nhau…
Ví dụ: để tạo được vẻ dẹp hồn nhiên, vui tươi, trong sáng của chú bé
liên lạc vui tính và dũng cảm, tác giả đã sử dụng thể thơ bốn chữ.
…Chú bé loắt choắt
Cái xắc xinh xinh
Cái chân thoăn thoắt
Cái đầu nghênh nghênh
(Tố Hữu, Lượm)
Ngoài ra, trong các thể thơ Việt nam như lục bát, song thất lục bát tứ

III. CÚC YẾU TỐ THI PHÚP
1. Đề tài
Đề tài là khái niệm chỉ các hiện tượng đời sống được miêu tả, phản
ánh trong tác phẩm.
Đề tài trong thơ trữ tình Việt Nam hiện đại rất phong phú và đa dạng.
Nó thể hiện những yếu tố cuộc sống được cái tôi trữ tình cảm xúc, sàng lọc
tinh tế.
Mỗi nhà thơ đều lựa chọn cho mình những mảng đề tài mà mình tâm
huyết.
Ví dụ: Tố Hữu là đề tài về cách mạng (Khi con tu hú); Thế Lữ là đề
tài người trí thức trước thực tại xã hội thực dân nửa phong kiến (Nhớ rừng)
2. Thể loại
Là dạng thức tồn tại ổn định của tác phẩm quy định bởi cấu tứ.
Thể loại thơ trữ tình Việt Nam phong phú và đa dạng: thơ tự do, thơ
Đường luật, thơ lục bát, thơ song thất lục bát,…
- Thơ Đường luật (có bốn loại): Đường luật thất ngôn tứ tuyệt,
Đường luật thất ngôn bát cú, Đường luật ngũ ngôn, Cổ phong. Nhưng trong
thơ trữ tình Việt Nam hiện đại chủ yếu chỉ có Đường luật thất ngôn tứ
tuyệt, Đường luật thất ngôn bát cú, còn hai loại không có.
+ Đường luật thất ngôn tứ tuyệt như: Ngắm trăng, Đi đường, Cảnh
khuya của Hồ Chí Minh,…
+ Đường luật thất ngôn bát cú như: Đập đá ở Côn Lôn của Phan
Châu Trinh, Cảm tác vào nhà ngục Quảng Đông của Phan Bội Châu, Muốn
làm thằng Cuội của Tản Đà,…
- Thể lục bát như: Khi con tu hú của Tố Hữu,
- Thể song thất lục bát như: Hai chữ nước nhà của Trần Tuấn Khải
- Thể thơ tự do như: Nhớ rừng của Thế Lữ, Ông đồ của Vũ Đình
Liên,…
3. Kết cấu
Là cách thức tổ chức tác phẩm nhằm bộc lộ tốt nhất chủ đề tư tưởng

Lại thấy/ ông đồ già
Bày mực tàu/ giấy đỏ
Trên phố đông/ người qua
(Vũ Đình Liên – Ông đồ)
- Thơ thất ngôn thường có nhịp 4/3, 3/4 hoặc 2/5
- Thơ trữ tình hiện đại không tuân theo quy tắc nào, đó là sự tuôn
trào của cảm xúc, tình cảm, mỗi sự ngắt nhịp thể hiện một trạng thái cảm
xúc nhất định.
5. Giọng điệu
Thơ trữ tình Việt Nam hiện đại không mang tính trang trọng, cổ kính
mà mang tính quần chúng sâu rộng. Giọng thơ mộc mạc, giàu cảm xúc, dạt
dào tình cảm.
6. Điểm nhìn nghệ thuật
Là vị trí mà tác giả đặt mình vào để bộc lộ tình cảm, cảm xúc. Là
cách thức tiếp cận hiện thực, nó quy định cách thức xây dựng, miêu tả đối
tượng. Mọi lời thơ đều được bộc lộ thông qua cái nhìn ấy.
Điểm nhìn nghệ thuật của tác giả trong thơ không bị hạn chế.
Ví dụ: Điểm nhìn nghệ thuật của nhà thơ Tố Hữu trong Khi con tu hú
là khung cảnh nhà tù ngột ngạt, bức bối từ đó nói lên khát vọng tự do, hoà
nhập với cuộc sống thiên nhiên.
7. Thời gian và không gian nghệ thuật
Đây là yếu tố gắn liền với điểm nhìn nghệ thuật. Là sản phẩm sáng
tạo của nhà thơ nhằm thể hiện vị trí mà người nghệ sĩ đặt mình vào để bộc
lộ tình cảm.
=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=
Trang 8
Đề tài nghiên cứu khoa học: Học phần phương pháp dạy học Ngữ văn
=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=
Ví dụ: Ông đồ của Vũ Đình Liên không gian nghệ thuật là đường
phố, thời gian nghệ thuật là ngày giáp tết, mỗi độ xuân về,… Tất cả là cái

Nhị, tứ: phân minh
• Khởi trắc: tiếng thứ hai câu một là thanh trắc (kí hiệu T), Tiếng thứ
hai câu một là thanh bằng (kí hiệu B)
Tiếng
Dòng
2 4 6 7 (Tiếng hiệp
vần)
Câu 1 T(B) B(T) T(B) B(V)
=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=
Trang 9
Đề tài nghiên cứu khoa học: Học phần phương pháp dạy học Ngữ văn
=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=
Câu 2 B(T) T(B) B(T) B(V)
Câu 3 B(T) T(B) B(T) T
Câu 4 T(B) B(T) T(B) B(V)
Câu 5 T(B) B(T) T(B) T
Câu 6 B(T) T(B) B(T) B(V)
Câu 7 B(T) T(B) B(T) T
Câu 8 T(B) B(T) T(B) B(V)
Ví dụ: Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi!
B T B B
Trần thế nay em chán nửa rồi,
T B T B
Cung quế đã ai ngồi đó chửa?
T B T B
Cành đa xin chị nhắc lên chơi
B T B B
Có bầu có bạn can chi tủi,
B T B T
Cùng gió, cùng mây thế mới vui.

B
T B
Dòng 8
B
T
B
2,1
B
1,2
- Dòng 8: Tiếng 6, 8 có sự đối lậpvề âm vực: Nếu tiếng 6 là thanh
ngang (B
1
) thì tiếng 8 là thanh huyền (B
2
) và ngược lại
Ví dụ: Vườn râm dậy tiếng ve ngân
B T B
Bắp rây vàng hạt đầy sân nắng đào
B T B
1
B
2
(Tố Hữu – Khi con tu hú)
1.3. Thể song thất lục bát
Luật bằng trắc chủ yếu ở hai dòng bảy còn hai dòng sáu – tám ở sau
thì giống thể lục bát
Tiếng
Dòng
3 5 7
Dòng bảy(một) T B T

Ví dụ Con nên nhớ tổ tông khi trước
Đã từng phen vì nước gian lao
Bắc nam bờ cõi phân mao
Ngọn cờ độc lập máu đào còn đây
(Trần Tuấn Khải, Hai chữ nước nhà)
1.5. Thơ tự do
Có hai loại:
- Thơ tự do không chia khổ thì vần tự do
- Thơ tự do chia khổ, mỗi khổ bốn dòng, luật vần theo các mô hình:
+ Mô hình ABAB:(A - trắc, B - bằng hoặc ngược lại)
Ví dụ: Chú bé loắt choắt
Cái xắc xinh xinh
Cái chân thoăn thoắt
Cái đầu nghênh nghênh
(Tố Hữu, Lượm)
+ Mô hình ABBA: (A- bằng, B - trắc hoặc ngược lại)
Ví dụ: Anh đội viên thức dậy
Thấy trời khuya lắm rồi
Mà sao Bác vẫn ngồi
Đêm nay Bác không ngủ
(Minh Huệ, Đêm nay Bác không ngủ)
+ Mô hình AABB (hoặc ngược lại)
Ví dụ: Mai về miền Nam tuôn trào nước mắt
Muốn làm con chim hót quanh vườn Bác
Muốn làm đoá hoa toả hương đâu đây
Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này.
(Viễn Phương, Viếng lăng Bác)
=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=
Trang 12
Đề tài nghiên cứu khoa học: Học phần phương pháp dạy học Ngữ văn

Cành đa xin chị nhấc lên chơi…
(Tản Đà, Muốn làm thằng Cuội)
Để tạo ra những vần thơ như vậy, tác giả đã sử dụng nhiều phương
thức như liên tưởng, so sánh, phân tích tổng hợp,… Vì vậy, khi tiếp nhận
những tác phẩm này, người đọc cũng phải có những phương thức tiếp nhận
riêng để cảm thụ được tốt nhất những cảm xúc nhà thơ gửi gắm. Đặc biệt
đối với đối tượng tiếp nhận là học sinh THCS thì phải có những định
hướng đúng từ giáo viên. Vì vậy, cần phải đặt ra những kiểu câu hỏi thích
hợp như: liên tưởng tưởng tượng, câu hỏi so sánh, câu hỏi khái quát,… để
học sinh tiếp nhận.
Mỗi nhà thơ luôn có những điểm nhìn nghệ thuật riêng, những dụng
ý nghệ thuật riêng, tạo ra những bức tranh riêng. Chúng ta phải nắm được
=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=
Trang 13
Đề tài nghiên cứu khoa học: Học phần phương pháp dạy học Ngữ văn
=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=
phong cách sáng tác của mỗi nhà thơ để so sánh đối chiếu phong cách nhà
thơ này với nhà thơ khác. Để học sinh nắm vững trước hết, giáo viên phải
biết đưa ra những câu hỏi so sánh, tổng hợp cho học sinh.
Để học sinh tiếp nhận đúng hướng cũng như bài giảng của giáo viên
đạt được mục đích, yêu cầu thì hệ thống câu hỏi đưa ra là một yếu tố quyết
định. Câu hỏi trước tiên phải chính xác, có tính gợi mở, kích thích được
năng lực cảm thụ chủ quan của người tiếp nhận. Với mỗi bài thơ, mỗi tác
phẩm trữ tình thì có những kiểu câu hỏi riêng, phù hợp với những gì mà
nhà thơ thể hiện.
Có thể nói, việc vận dụng các kiểu câu hỏi vào việc tiếp nhận tác
phẩm thơ trữ tình của học sinh THCS là một yêu cầu cần thiết không thể
thiếu. Để vận dụng tốt các câu hỏi đó, chúng ta phải nắm rõ lí luận về các
kiểu câu hỏi cũng như ý nghĩa của nó,…
A. CÁC KIỂU CÂU HỎI TRONG THIẾT KẾ GIÁO ÁN

Để việc Đọc - hiểu văn bản được sâu sắc thì hệ thống câu hỏi định
hướng của thầy là điều quan trọng nhất. Tuy nhiên, hệ thống câu hỏi phải
thật khả thi, điều đó yêu cầu người giáo viên phải có những cơ sở khoa học
và nguyên tắc nhất định khi thiết kế hệ thống câu hỏi.
1. Lấy lý luận dạy học hiện đại làm hướng thiết kế các kiểu câu hỏi
Lý luận dạy học hiện đại lấy học sinh làm trung tâm, là đối tượng
chính chiếm lĩnh tri thức dưới sự hướng dẫn, tổ chức của giáo viên.
Theo quan điểm tích cực giáo viên chính là người thiết kế (sáng tạo
câu hỏi) học sinh chính là người thi công (sáng tạo cách trả lời). Như vậy
sẽ phát huy được tính tích cực sáng tạo của học sinh để học sinh tự rung
cảm, và nhận thức đúng mà không khiên cưỡng, dưới sự áp đặt của giáo
viên.
2. Dựa trên thành tựu của tâm lý học hiện đại
Theo quan điểm của tâm lý học hiện đại: bản chất của hoạt động dạy
- học diễn ra nhịp nhàng ở cả hai phía dạy và học nhằm cái biến đối tượng
thì hệ thống câu hỏi sẽ là giải pháp tích cực cho hoạt động tương tác này.
Theo đó, trong dạy học Ngữ Văn hệ thống câu hỏi sẽ là biện pháp dạy - học
có khả năng thoả mãn cả hai hoạt động dạy và học.
Hơn nữa, học sinh THCS là lứa tuổi có bước phát triển mới trong đời
sống tâm lý. Nhu cầu được chiếm lĩnh tri thức, kĩ năng, năng lực tư duy…
trội lên năng lực xúc cảm trực tiếp mau lẹ. Do đó, hệ thống các kiểu câu
hỏi sẽ đáp ứng được yêu cầu tìm hiểu, khám phá của các em, giúp các em
vượt qua vỏ vật chất ngôn từ để tiến sâu vào các tầng nghĩa bên trong và
hiểu đúng tác phẩm.
3. Căn cứ vào đặc trưng thể loại và đặc thù của tác phẩm văn chương
về lý thuyết tiếp nhận và phương pháp tiếp nhận tác phẩm văn chương
của học sinh THCS.
Tác phẩm văn chương luôn tồn tại ở một phương thức loại hình nào
đó (tự sự, trữ tình hoặc kịch) và trong một hình thức thể tài nhất định
(truyện, thơ…). Mà mỗi phương thức và cách thức tồn tại của tác phẩm đều

môn và tích hợp các tri thức khoa học – xã hội khác để đặt ra hệ thống các
kiểu câu hỏi phù hợp, đạt yêu cầu của phương pháp dạy - học mới.
III. HỆ THỐNG CÁC KIỂU CÂU HỎI
Cùng với sự đổi mới về nội dung, phương pháp dạy học văn, hệ
thống câu hỏi ngày càng đa dạng. Có sáu kiểu câu hỏi thường được sử dụng
trong khi thiết kế câu hỏi môn Ngữ văn: câu hỏi phát hiện - gợi tìm; câu hỏi
tái hiện, liên tưởng, tưởng tượng; câu hỏi phân tích, tổng hợp; câu hỏi khái
quát; câu hỏi so sánh; câu hỏi đặt và nêu vấn đề.
1. Câu hỏi liên tưởng, tưởng tượng
Là kiểu câu hỏi dựa trên đặc trưng của tư duy văn học, hướng vào
mục đích khai thác tính nghệ thuật của tác phẩm, tính lôgic khoa học của
kiến thức trên cơ sở phù hợp với khả năng tự phát triển của học sinh.
Khi thiết kế kiểu câu hỏi liên tưởng, tưởng tượng cần chú ý các hình
thức liên tưởng trong tác phẩm với hiện thực đời sống của học sinh.
Ví dụ: Vẻ đẹp âm thanh trong Bức tranh đồng quê đầu hè của bài thơ
Khi con tu hú của Tố Hữu gồm:
+ Tu hú gọi bầy
+ Tiếng ve ngân
Cần đặt câu hỏi liên tưởng, tưởng tượng thêm: Em hãy cho biết
ngoài những âm thanh trong bài, ở quê em vào mùa hè thường có những
âm thanh tự nhiên nào khác?
Ngoài ra, còn phải liên tưởng tác phẩm này với tác phẩm khác ; liên
tưởng giọng điệu với thái độ, tư tưởng, quan niệm của tác giả; tưởng tượng
tâm trạng của tác giả khi lựa chọn chi tiết nào đó để tập trung miêu tả hoặc
nhấn mạnh điều gì đó…
2. Câu hỏi phát hiện - gợi tìm
Là kiểu câu hỏi gợi ý dựa trên năng lực của học sinh. Trong đó,
người gợi là giáo viên, người tìm là học sinh. Thường thì câu hỏi này
thường là gợi một nửa và tìm một nửa, nhưng với những học sinh khá, giỏi
=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=

đồ?
6. Câu hỏi phân tích, tổng hợp
Là kiểu câu hỏi mà đưa ra các hình ảnh, các chi tiết để phân tích rồi
từ đó tổng hợp, rút ra ý chính cho câu thơ, đoạn thơ…
Ví dụ: Từ cảnh sinh hoạt, làm việc của Bác ở PắcBó, em hãy nêu
phong cách sống và làm việc của Bác Hồ?
B. ĐỊNH HƯỚNG CHUNG
I. ĐỊNH HƯỚNG TÍCH HỢP - TÍCH CỰC
1. Tích hợp
Văn – Văn
Văn - Tiếng Việt
Văn - Tập làm văn
Văn - Kiến thức khoa học xã hội khác
2. Tích cực
=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=*=
Trang 17

Trích đoạn Bức tranh đồng quê đầu hè Tâm trạng người tù PHÂN TÍCH CHI TIẾT 1 Hoàn cảnh ngắm trăng.
Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status