BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
-----------------
CÔNG TRÌNH DỰ THI
GIẢI THƯỞNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN
“NHÀ KINH TẾ TRẺ – NĂM 2011”
TÊN CÔNG TRÌNH: CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐO LƯỜNG RỦI RO VÀ LỢI
NHUẬN CỦA ĐẦU TƯ VỐN MẠO HIỂM
THUỘC NHÓM NGÀNH: KHOA HỌC KINH TẾ
MỤC LỤC
CHƯƠNG I
VỐN MẠO HIỂM – NHỮNG ĐIỀU NÊN BIẾT ……………………………………1
1.1 Cơ sở lý thuyết …………………………………………………………………….. .1
1.1.1 Vốn đầu tư mạo hiểm ……………….. …………………………………………..1
1.1.2 Quỹ đầu tư mạo hiểm …………………………………………………………….2
1.1.3 Hoạt động của vốn mạo hiểm ……………………………………………………4
1.2 Những vấn đề xoay quanh vốn mạo hiểm …………………………………………...6
1.2.1 Tiêu chí đánh giá dự án đã hoàn thành …………………………………………...6
1.2.2 Tiêu chí đánh giá dự án chưa hoàn thành………………………………………....7
1.2.3 Danh mục đầu tư vốn mạo hiểm – Chỉ số đầu tư vốn mạo hiểm …………………7
Kết luận chương 1……………………………………………………………….. 8
CHƯƠNG II
CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ RỦI RO VÀ LỢI NHUẬN CỦA ĐẦU TƯ MẠO
HIỂM ………...…………………………………………………………………………8
2.1 Những công trình trước đấy………………………………………………………… 9
2.2 Mô hình Peng (2001) - phương pháp tái tỉ trọng ( Re-weighting ) ………………….9
2.2.1 Nội dung công trình ………………………………………………………………9
2.2.2 Xây dựng danh mục , chỉ số đầu tư vốn mạo hiểm ………………………………11
2.2.2.1 Những kí hiệu cần nắm………………………………………………………… 11
2.2.2.2 Công thức tính toán ……………………………………………………………..13
2.2.3 Ưu nhược điểm , khó khăn và cách khắc phục…………………………………… 19
nhuận khổng lồ nếu thành công nhưng kèm theo đó là rủi ro thất bại cũng nhiều
không kém . Nhu cầu về vốn lúc này luôn là vấn đề bức thiết được đặt ra đối với
mọi doanh nghiệp , đối với mọi quốc gia và đặc biệt hơn cả là những nước đang
phát triển và những nước có nền kinh tế mới nổi . Đáp ứng nhu cầu này tốt nhất
không thể không nhắc đến vốn mạo hiểm .
Vốn mạo hiểm , quỹ mạo hiểm và hoạt động đầu tư vốn mạo hiểm hiện nay không
còn là những khái niệm xa lạ . Dòng vốn chạy vào các quỹ mạo hiểm càng nhiều
và các dự án được quỹ mạo hiểm đầu tư cũng tăng lên đáng kể . Song những hiểu
biết về đầu tư vốn mạo hiểm vẫn còn nhiều hạn chế . Một trong những vấn đề đó
Chính vì vậy , việc tìm kiếm ra một phương pháp nhằm đánh giá hiệu suất của đầu
tư vốn mạo hiểm để từ đấy có được những hiểu biết về tình hình thực tại của đầu
tư mạo hiểm và làm cơ sở cho những động thái cụ thể của các nhà quản lý quỹ
mạo hiểm .
2. Phương pháp nghiên cứu
Bài nghiên cứu sử dụng các mô hình : Mô hình tái tỉ trọng của Peng (2001) , mô
hình ước lượng khả năng đúng tối đa của Cochrane (2001) ,mô hình Hybrid Index
của Min Hwang , John , Susan (2005) , phương pháp hồi quy để làm rõ hơn cho
vấn đề đánh giá sự hoạt động hiệu quả của đầu tư vốn mạo hiểm .
3. Nội dung nghiên cứu
Bài nghiên cứu bao gồm 3 chương :
- Chương 1 : Vốn mạo hiểm – Những điều nên biết
- Chương 2 : Các phương pháp đánh giá rủi ro và lợi nhuận của đầu tư vốn mạo
hiểm
- Chương 3 : Xây dựng chỉ số đầu tư mạo hiểm – Những kiến nghị cho Việt
Nam
4. Đóng góp của đề tài
Về mặt lý thuyết
Nhằm có một cái nhìn sâu hơn về những phần còn chưa được biết đến của đầu tư
vốn mạo hiểm , đồng thời cung cấp một vài phương pháp xây dựng các chỉ số và
các cách đánh giá trong hoạt động đầu tư vốn mạo hiểm .
tắc đầu tư của Georges Doriot, người được xem là cha đẻ của vốn mạo hiểm khi ông lập
công ty American Research and Development Corporation và bắt đầu nghiên cứu hàng
ngàn đề án kinh doanh rồi chọn ra những cái tốt nhất để đầu tư. Và đây là những điều
kiện cho một cuộc đầu tư mạo hiểm:
1. Dự án phải có công nghệ mới, ý tưởng marketing mới và các sản phẩm mới có khả
năng ứng dụng trong cuộc sống.
2. Nhà đầu tư phải có vai trò quan trọng, nhưng không nhất thiết là vai trò chi phối,
trong các quyết định quản trị của công ty được đầu tư.
3. Đầu tư vào những dự án của những người có quyết tâm và kiên định (nguyên tắc
“đặt cược vào nài ngựa chứ không đặt cược vào con ngựa”).
4. Sản phẩm hoặc dịch vụ tối thiểu phải đã qua giai đoạn định hình và có bảo vệ bằng
pháp lý như bản quyền, bằng phát minh, sáng chế…
5. Sản phẩm hoặc dịch vụ có triển vọng sẽ phát triển đầy đủ trong vòng vài năm (lý
tưởng là 3 -5 năm) để có thể cổ phần hóa. (người ta gọi đây là chiến lược “hạ cánh
an toàn” – exit strategy).
6. Nhà đầu tư có cơ hội đóng góp vào công ty những “giá trị gia tăng” khác ngoài
tiền bạc.
1.1.2 Quỹ đầu tư vốn mạo hiểm
Quỹ đầu tư vốn mạo hiểm là một hình thức của quỹ đầu tư tài chính . Quỹ huy động tiền
từ các chủ thể khác nhau , được các tổ chức chuyên môn quản lý và đầu tư vào các doanh
nghiệp đang trong giai đoạn khởi sự hoặc tăng trưởng cao đi kèm với những ý tưởng kinh
doanh táo bạo , hứa hẹn đem tới một tỉ suất sinh lợi cao trong tương lai . Để đảm bảo tính
hiệu quả , dòng vốn rót vào được sử dụng đúng mục đích , quỹ đầu tư mạo hiểm còn
tham gia vào việc kiểm soát và điều hành công ty .
Quỹ có thể tồn tại dưới nhiều dạng hình thức . Dựa vào mỗi tiêu chí phân loại sẽ có các
hình thức khác nhau , và mỗi hình thức sẽ có một đặc điểm khác nhau ( Xem thêm ở phần
phụ lục 1) , chính vì thế tùy theo tình hình mỗi khu vực , mỗi quốc gia sẽ có một dạng
quỹ đầu tư vốn mạo hiểm tương ứng .
Phân loại quỹ đầu tư mạo hiểm
- Dựa vào cách thức huy động vốn
số các nhà đầu tư nước ngoài công ty quản lý quỹ gồm các chuyên gia trong
nước quản lý vào các công ty cần tài trợ vốn mạo hiểm .
Đặc trưng của quỹ đầu tư vốn mạo hiểm
- Chuyên nghiệp trong cách quản lý : các nhà quản lý quỹ là những chuyên gia, họ
thực hiện đầu tư theo những tiêu chuẩn nhất định để đảm bảo tính hiệu quả đầu tư.
- Mạo hiểm : tài sản thế chấp ở đây là ý tưởng , và do việc đầu tư tiến hành cho
doanh nghiệp khởi sự và doanh nghiệp đang tăng trưởng cao nên rủi ro kinh doanh
rất cao . Với rủi ro cao nguồn vốn đầu tư như ban đầu nhưng nếu thành công, nó sẽ
mang lại một lợi nhuận ngoạn mục , vượt trội hơn mức trung bình .
- Cùng tham gia vào việc điều hành doanh nghiệp được đầu tư . Mức độ tham gia
chi phối tùy thuộc vào các loại hình quỹ đầu tư và tùy thuộc vào sự nhất trí giữa
hai bên đầu tư và nhận đầu tư .
- Việc đầu tư tiến hành theo giai đoạn : không rót vốn một lần và không rót vốn cho
cả chu trình sống của doanh nghiệp mà chỉ ở giai đoạn khởi sự hoặc tăng trưởng
cao.
1.1.3 Hoạt động của vốn mạo hiểm
Các thành phần tham gia trong một chu kỳ hoạt động đầu tư vốn mạo hiểm
- Các nhà đầu tư : họ là các nhà tư bản giàu có hay còn gọi là nhà đầu tư thiên thần.
Với lượng tiền lớn sẵn có trong tay , chính họ tạo nên nguồn vốn mạo hiểm để đầu
tư vào các doanh nghiệp .
- Các nhà quản lý quỹ : là những chuyên gia làm cầu nối giữa nguồn vốn mạo hiểm
và các cơ hội đầu tư , là người thực hiện đầu tư trên số tiền huy động đó theo
những chiến lược nhất định .
- Các doanh nghiệp hoặc các doanh nhân : đối tượng nhận vốn . Với những ý tưởng
thuyết phục , sau khi có sự thống nhất về phân chia lợi nhuận và quyền lực giữa
hai bên , các doanh nghiệp hoặc các doanh nhân sẽ nhận được vốn theo từng đợt
để thực hiện ý tưởng đã đề ra .
Ba giai đoạn thực hiện đầu tư mạo hiểm
Một dự án đầu tư mạo hiểm thông thường kéo dài từ 3 đến 5 năm, được thực hiện qua ba
bước: bắt đầu từ việc xem xét, thẩm định dự án, tới thực hiên việc đầu tư, rót vốn và kết
Hinh thức thoát ra khỏi kinh doanh : điều này rất ảnh hưởng đến lợi nhuận thu được . IPO
và mua lại có nhiều khả quan hơn trong việc thu lại lợi nhuận , còn nếu kết thúc bằng
cách đóng cửa hay phá sản xem như việc đầu tư chỉ nhận được rủi ro mà không có tỉ suất
sinh lợi .
Rủi ro : rủi ro cao là một điều đáng lo ngại nhưng trong đầu tư mạo hiểm nó luôn đi kèm
theo tỉ suất sinh lợi cao vì thế rủi ro cao không hẳn là một việc không tốt . Để đánh giá
mức độ rủi ro ta thường dựa vào :
- Beta : hệ số nhạy cảm , thể hiện sự biến động trong lợi nhuận khi bị các yếu tố bên
ngoài tác động . Hệ số này càng lớn thể hiện mức độ rủi ro càng cao .
- Độ lệch chuẩn : phản ánh độ biến thiên của lợi nhuận . Độ lệch chuẩn càng cao ,
mức độ rủi ro càng lớn và ngược lại .
1.2.2 Tiêu chí đánh giá đối với dự án chưa hoàn thành
Ta đánh giá chủ yếu dựa trên những con số ước tính về lợi nhuận , rủi ro .
Ở đây ta đề cập đến sự lựa chọn thiên vị . Không phải dự án nào sau khi được sự đầu tư
của vốn mạo hiểm sẽ được đối xử công bằng như nhau . Thông qua lợi nhuận hằng năm
của doanh nghiệp được đầu tư và những triển vọng trông thấy , những dự án có tiềm năng
tốt sẽ được ưu tiên hơn trong việc thực hiện các vòng tài trợ tương ứng theo quy mô của
dự án nên ta có thể dựa vào số vòng tài trợ và quy mô của nó để đánh giá tiềm năng hiệu
quả .
Vòng tài trợ : bất cứ doanh nghiệp nào cũng muốn huy động vốn để phục vụ cho các hoạt
động của nó . Một vòng tài trợ có thể liên quan đến việc bán cổ phiếu hoặc trái phiếu
hoặc tìm kiếm các nhà đầu tư thiên thần . Một vòng tài trợ thường cần thiết cho một công
ty để bắt đầu hoặc mở rộng sản xuất .
1.2.3 Danh mục đầu tư vốn mạo hiểm – Chỉ số đầu tư vốn mạo hiểm
Danh mục đầu tư vốn mạo hiểm
Đây là một danh mục đầu tư bao gồm những dự án đã được quỹ mạo hiểm đầu tư :
- Danh mục đầu tư tốt : là những dự án đã hoàn thành và được thu hồi bằng việc
phát hành ra công chúng hoặc IPO , ta thu được những con số lợi nhuận cụ thể .
Đối với những dự án chưa hoàn thành ta dựa vào các yếu tố đánh gái nêu trên , và
tùy theo cách thức đánh giá của từng quỹ mà ta xác định nó có thuộc danh mục
rủi ro và tỉ suất sinh lợi hay lợi nhuận . Bài viết dựa trên những công trình nghiên cứu của
Peng (2001) về phương pháp tái tỉ trọng trong việc xây dựng danh mục đầu tư vốn mạo
hiểm , Cochrane (2005 ) về phương pháp ước lượng khả năng đúng tối đa , mô hình lai
trong xây dựng chỉ số của Min Hwang, John, Susan (2005). Đặc điểm chung nhất của ba
bài nghiên cứu này là đều khắc phục sự lựa chọn thiên vị theo các cách khác nhau để
nhằm tăng tính chính xác cho việc đánh giá .
2.1 Những công trình trước đấy
Trước đấy đã có nhiều bài viết nghiên cứu về đo lường rủi ro và tỉ suất sinh lợi vốn mạo
hiểm và các tác giả đã thừa nhận tầm quan trọng và khó khăn trong việc ước tính lợi
nhuận cho khoản đầu tư vốn mạo hiểm .
Reyes (1990) sử dụng một mẫu từ 175 quỹ đầu tư mạo hiểm để nghiên cứu beta trong
khoảng 1-3,8. Bygrave và Tymmons (1992) tính trung bình tỷ lệ lợi tức nội bộ đối với
các quỹ mạo hiểm đã hoàn thành, họ đã báo lợi nhuận trung bình hàng năm là 13,5 % từ
1974-1989, sử dụng một cách tiếp cận mà đo lường không rủi ro. Reyes (1997) sử dụng
một bộ gồm 175 quỹ đầu tư mạo hiểm hoàn thành để tính toán beta, và thấy chúng nằm
giữa 1 và 3.8. Gompers và Lerner (1997) báo cáo một lợi nhuận số học bình quân hàng
năm 30,5 % trên những quỹ mạo hiểm hoàn thành từ 1972-1997. Long (1999) tính toán
rủi ro bằng cách suy luận ra độ lệch chuẩn ngắn hạn từ các biến thể trong lợi nhu ận dài
hạn hơn, và báo cáo ước tính độ lệch chuẩn hàng năm là 8,23 % / năm đối với các quỹ
mạo hiểm hoàn thành. Moskowitz và Vissing-Jorgenson (2002) đã đo lường lợi nhuận
cho tất cả các vốn mạo hiểm . Họ sử dụng dữ liệu từ Survey of Consumer Finances bao
gồm cả các định giá tự báo cáo. Họ đều rất ngạc rằng lợi nhuận quá thấp. Chen, Baierl, và
Kaplan (2000) kiểm tra các quỹ mạo hiểm hoàn thành để tính toán lợi nhuận số học trung
bình hàng năm và lợi nhuận hình học, độ lệch chuẩn, và mối tương quan với các chỉ số
thị trường. Họ đã báo cáo lợi nhuận hình học trung bình 13 %, độ lệch chuẩn hàng năm
của mỗi quỹ 115,6 %, và mối tương quan với thị trường chứng khoán ra công chúng 0,04.
Nhưng không một ai trong các nhà nghiên cứu trên xem xét đến sự lựa chọn thiên vị .
Có hai công trình nghiên cứu đã đề cập đến vấn đề này đó nói rõ hơn ở phần dưới đây .
2.2 Mô hình Peng (2001) – phương pháp tái tỉ trọng ( Re-weighting )
2.2.1 Nội dung công trình
hoạt động, số lượng vòng tài trợ vốn, và kích thước tương đối của các đợt tài trợ cuối
cùng sẽ được dự đoán trước . Sau đó, tác giả sử dụng phương pháp phi tham số để ước
tính xác suất thành công cho mỗi đầu tư dở dang và phân phối giá trị của nó vào các
chỉ số phụ và giả sử mỗi thành phần đánh giá đúng đi kèm với chỉ số phụ tương ứng.
Trong bước cuối cùng, ta ước tính chỉ số vốn mạo hiểm với mức trung bình có trọng
số của các chỉ số phụ.Tỉ trọng của mỗi chỉ số phụ tỷ lệ với giá trị tài sản ròng của nó
cộng với phần giá trị các khoản đầu tư chưa hoàn thành được phân phối vào các danh
mục phụ. Do đó, các chỉ số đầu tư mạo hiểm ước tính đại diện cho cả các khoản đầu
tư đã hoàn thành và các khoản đầu tư chưa hoàn thành. Ta sử dụng mô phỏng để chỉ
ra rằng các thủ tục tái trọng giảm đáng kể sự thiên vị gây ra bởi dữ liệu bị kiểm duyệt
và giúp cải thiện tính chính xác của dự đoán. Trong mô phỏng,tính trung bình, thủ tục
tái trọng làm giảm thiên vị khoảng 35% và các bình phương sai số trung bình khoảng
60%.
2.2.2 Xây dựng danh mục , chỉ số đầu tư vốn mạo hiểm
2.2.2.1 Những kí hiệu cần nắm
Đầu tiên ta cần rõ một số kí hiệu:
i đại diện cho một dự án đầu tư vốn mạo hiểm
Start
i
là thời gian khi vốn được rót vào và Inflow
i
là số vốn tương ứng
Finish
i
là thời gian thoát vốn và Payoff
i
là chi trả tương ứng
Ongoing biểu thị cho toàn bộ thời gian từ khi nhận vốn đến khi thoát vốn.
Ongoing = {t | Start
i
{ , }
=
∑
{ , }
+
∑
{ , }
+
∑
{ , }
= +
∑
{ , }
+
Biến cuối cùng là sự tăng giá trị vốn của danh mục trong khoảng thời gian t được xác
định bởi . Nó bằng với giá trị trung bình gia quyền của sự gia tăng giá trị vốn
của mỗi dự án đầu tư riêng lẻ đang thực hiện cuối thời điểm t-1.
=
∑
{ , ∈ }
∑
{ , ∈ }
=
∑
(
∑
{ , ∈ }
{ , ∈ }
)
=
=
∏
{ , }
(1)
Giả sử trong từng thời kỳ , lợi nhuận của một đầu tư tương đương với lợi nhuận danh
mục nhân với một sai số độc lập và phân phối giống nhau với kì vọng là 1 .
= (2)
Thay thế phương trình (2) vào (1):
=
{ , }
=
{ , }
.
{ , }
Sau đó, di chuyểncácthành phầnđầu tiên ởphía bên phảisang bêntrái, ta có:
.
∏
{ , }
=
∏
{ ,
=1 (3)
Phương trình (3) có thể áp dụng cho tất cả các khoản đầu tư trong danh mục.
Mẫu đối ứng với các điều kiện thời điểm xác định các ước lượng của lợi nhuận danh mục
∑
{ , ∈ }
.
∏
{ ,
= 1 = 1,…., (4)
∑
/
∏
{ ,{ ,
(6)
Các ước lượng của sự tăng giá trị vốn của các chỉ số trong khoảng thời gian t bằng với tỷ
lệ giá trị các khoản đầu tư liên quanở cuối thời gian t dựa trêngiá trịcủa họvào cuối thời
gian t-1.
Một khi chúng ta có những ước tính lợi nhuận của chỉ số phụ tốt, ta có thể ước tính giá trị
tài sản ròng tương ứng trong từng thời kỳ. Sắp xếp lại phương trình (6), ta có :
∑
(
{ , ∈
∏
)
{ , }
=
∑
(
{ , ∈
/
∏
,
(7)
t=1,….,T
Cả hai bêncủaphương trình(7) là các ước lượngtương đương với giá trị tài sản ròng của
các chỉ số trong khoảng thời gian t. Phía bên trái bắt đầu với giá trị ban đầu của các
khoản đầu tư cá nhân, và tiến đến thời kỳ t, trong khi phía bên phải bắt đầu với giá trị
thoái vốn các khoản đầu tư cá nhân, sau đó giảm ngược đến thời kỳ t. Phương trình cho
thấy MM-RSR cung cấp ước tính rõ ràng và hợp lý về giá trị tài sản ròng trong kỳ t.
liên tục .
Ứng cử khác bao gồm kích thước của vòng tài trợ đầu tiên và vòng tài trợ cuối cùng và
ngành công nghiệp, thời kỳ của vòng tài trợ đầu tiên mà quỹ đầu tư mạo hiểm phụ thuộc
vào. Các kích thước của vòng đầu tiên có thể được thông tin bởi vì nhiều công ty hứa hẹn
có thể nhận được thêm vốn ngay từ khi bắt đầu . Đồng thời, các công ty thành công, số
vốn tăng lên ở vòng cuối cùng rõ ràng là lớn hơn số tiền trong vòng trước đó. Do đó, kích
thước của vòng tài trợ cuối có thể được tiên đoán. Cộng thêm vào đó với kích thước các
vòng tài trợ và ngành công nghiệp mà công ty phụ thuộc vào có thể dự đoán được sự
thành công của công ty được đầu tư vốn mạo hiểm.
Xác suất thành công cho các khoản đầu tư chưa hoàn thành
Sau khixác định các biến dự đoán, tác giả sử dụng phương pháp phi tham số để xây dựng
các xác suất thành công , đó là một hàm của các biến tiên đoán. Ngoại lệ duy nhất là kích
thước tương đối của cácvòngtài trợ cuối cùng: mặc dù đó làthông tin đáng kể, vì đối với
những công ty chưa hoàn thành việc đầu tư thì khó mà xác định kích thước vòng tài trợ
cuối cùng . Tác giả ước tính xác suất thành công cho công ty có đầu tư vốn mạo hiểm
chưa hoàn thành bằng cách kiểm tra giá trị của các biến của nó và hàm xác suất.
Giả sử rằng một biến ngẫu nhiên- Chất lượng -xác địnhcácloại hìnhthoát vốn của công ty
được đầu tư vốn mạo hiểm. Rõ ràng, chất lượng của công ty là không quan sát được cho
đến khi thoát vốn.Nhiệm vụ cần làm là ước tínhxác suất cho một công ty được đầu tư vốn
mạo hiểm dở dang tới đích cuối cùng là phát hành ra công chúng hoặc được mua lại trong
thời gian hoạt động và với tổng số vòng tài trợ. Tuy nhiên, chúng tôi chỉquan sát thấp hơn
giới hạnvề thời gian hoạt động đó là thời gian từ vòng vốn tài trợ đầu tiên của công ty đến
cuối thời kỳ mẫu.Tương tự như vậy, chúng tôi chỉ quan sát phạm vi thấp hơn của số vòng
tài trợ , đó là tổng số vòng tài trợ vào cuối thời kỳ mẫu. Vì không thể trực tiếp sử dụng
các hệ số ước tính với các mô hình phản ứng định tính nên thay vào đó, tác giả sử dụng
phương pháp phi tham số đơn giản để ước tính xác suất thành công :hàmphạm vi thấp
hơn về thời gian hoạt động và hàm phạm vi thấp hơn về số vòng tài trợ.
Ký hiệu N tổng số vòng tài trợ và khoảng n tổng số vòng tài trợ trước khi kết thúc giai
đoạn mẫu.Rõ ràng, xác suất thành công cho một công ty mạo hiểm được hỗ trợ với thời
gian hoạt động dài hơn s và N lớn hơn n là:
dự án thành công.
Việc xác định chỉ số vốn mạo hiểm dựa trên hai chỉ số phụ . Do có sự lựa chọn thiên
vị - những công ty thành công hay có những triển vọng tốt sẽ có được nhiều ưu ái
hơn, vì thế có sự chênh lệch giữa hai chỉ số phụ . Bằng cách chỉ định tỉ trọng cho hai
chỉ số dựa vào khả năng thành công hoặc thoát khỏi kinh doanh của doanh nghiệp ,
Peng đã hiệu chỉnh khoản chênh lệch do thiên vị . Nhờ đó đã góp phần tăng tính chính
xác và độ tin cậy của chỉ số.
2.2.3.2 Nhược điểm , khó khăn và cách khắc phục
Nhược điểm
Do khó xác định chỉ số phụ nên phải dựa trên các ước tính và giả định nên đôi khi sẽ làm
giảm độ chính xác . Việc tính toán thực hiện qua nhiều khâu có thể nảy sinh nhiều sai sót.
Khó khăn và cách khắc phục
- Vấn đề đầu tiên là dữ liệu bị kiểm duyệt.Một số khoản đầu tư đã không hoàn thành
vào cuối thời kỳ mẫu, vì vậy giá trị của chúng là không thể xác định. Đơn giản chỉ
cần bỏ qua các khoản đầu tư dở dang sẽ dẫn đến một sự thiên vị vì những đầu tư
đã hoàn thành có thể không chính xác đại diện cho tất cả các khoản đầu tư vào các
danh mục đầu tư mạo hiểm. Ví dụ, nếu các khoản đầu tư chưa hoàn thành có xu
hướng ít thành công hơn, việc bỏ qua chúng dẫn đến ước tính lên về lợi nhuận của
danh mục.
Cách khắc phục : sử dụng phương pháp tái tỉ trọng.
- Vấn đề thứ hai là thiếu dữ liệu bởi vì giá trị của khoản đầu tư là không quan sát
được trong thời gian tạm thời giữa rót vốn và chi ra. Các dữ liệu bị thiếu ngăn cản
chúng tôi trực tiếp tính toán lợi nhuận danh mục.
Cách khắc phục : sử dụng phương pháp RSR ( repeat-sales regression ) , nó cung cấp
các ước lượng có thể tìm thấy giá trị thật sự của chỉ số.