Luận văn tốt nghiệp Khoa kế toán
LỜI MỞ ĐẦU
Xây dựng cơ bản là nghành sản xuất vật chất tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật
cho nền kinh tế quốc dân, sử dụng lượng vốn tích luỹ rất lớn của toàn xã hội
là điều kiện thu hút vốn nước ngoài trong quá trình công nghiệp hoá hiện đại
hoá đất nước. Trong xu hướng phát triển chung lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ
bản có tốc độ phát triển chưa từng có ở nước ta điều này đồng nghĩa với việc
vốn đầu tư XDCB cũng tăng lên. Vấn đề đặt ra là làm sao quản lý vốn có hiệu
quả đạt lợi nhuận cao trong điều kiện sản xuất XDCB trải qua nhiều công
đoạn, thời gian thi công. Chính vì vậy, hạch toán kế toán đóng vai trò quan
trọng là công cụ thực hiện quản lý, điều hành, kiểm tra, giám sát các hoạt
dộng tài chính trong đơn vị.
Không chỉ là tiền đề cho sự tiến hoá loài người, lao động còn là yếu tố quyết
định đến sự tồn tại và phát triển của quá trình sản xuất. Lao động giữ vai trò
quan trọng trong tái tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội. Như vậy,
từ góc độ những vấn đề cơ bản trong sản xuất thì lao động là một trong những
yếu tố quan trọng trong quá trình sản xuất kinh doanh. Trong quá trình lao
động thì con người đã hao tốn một lượng sức nhất định, do đó muốn quá trình
sản xuất kinh doanh diễn ra liên tục thì sức lao động phải được tái sản xuất.
Trên cơ sở tính toán giữa sức lao động mà người lao động bỏ ra với lượng sản
phẩm tạo ra cũng như doanh thu từ lượng sản phẩm đó doanh nghiệp trích ra
một phần trả cho người lao động, đó là tiền công (lương).
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay thì tiền lương được sử dụng như là
một đòn bẩy kinh tế quan trọng, kích thích động viên người lao động gắn bó
với công việc, phát huy sáng tạo trong lao động, thúc đấy sản xuất phát triển.
Vấn đề đặt ra là làm thế nào để biết được công tác tổ chức quản lý sản xuất,
hạch toán kế toán lao động tiền lương, định mức lao động trong doanh
nghiệp, từ đó để biết tình hình sử dụng lao động, tính hiệu quả đúng đắn của
các giải pháp tiền lương mà doanh nghiệp đã đề ra và thực hiện, phải đảm bảo
đúng nguyên tắc chế độ hạch toán, quản lý phù hợp với tình hình thực tế của
doanh nghiệp.
lương trong doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm về tiền lương
Qúa trình sản xuất là quá trình kết hợp đồng thời tiêu hao các yếu tố cơ bản
( lao động, đối tượng lao động và tư liệu lao động). Trong đó lao động với tư
cách là hoạt động chân tay và trí óc của con người sử dụng các tư liệu lao
động nhằm tác động, biến đổi các đối tượng lao động thành các vật phẩm có
ích phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt của con người. Để đảm bảo tiến hành liên
tục quá trình tái sản xuất, trước hết cần phải bảo đảm tái sản xuất sức lao
động, nghĩa là sức lao động mà con người bỏ ra phải được bồi hoàn dưới dạng
thù lao lao động.
Tiền lương chính là biểu hiện bằng tiền của hao phí lao động sống cần thiết
mà doanh nghiệp trả cho người lao động theo thời gian, khối lượng công việc
mà người lao động đã cống hiến cho doanh nghiệp. Vì vậy tiền lương chính là
đòn bẩy kinh tế để khuyến khích tinh thần hăng hái lao động, kích thích và tạo
mối quan tâm của người lao động đến kết quả công việc của họ. Nói cách
khác, tiền lương chính là nhân tố thúc đẩy năng suất lao động đối với doanh
nghiệp.
Ý nghĩa của tiền lương đối với người lao động, đối với DN sẽ vô cùng to
lớn nếu đảm bảo đầy đủ các chức năng sau:
- Chức năng thước đo giá trị: Là cơ sở để điều chỉnh giá cả cho phù hợp
mỗi khi giá cả( bao gồm cả sức lao động) biến động.
- Chức năng tái sản xuất sức lao động: Nhằm duy trì năng lực làm việc lâu
dài có hiệu quả trên cơ sở tiền lương bảo đảm bù đắp được sức lao động đã
hao phí cho người lao động.
- Chức năng kích thích lao động: Bảo đảm khi người lao động làm việc
hăng say có hiệu quả thì được nâng lương và ngược lại
Sv: Lê phương Thuý _ 04D01435N L ớp 932
3
Luận văn tốt nghiệp Khoa kế toán
- Chức năng tích luỹ: Bảo đảm có dự phòng cho cuộc sống lâu dài khi
Sv: Lê phương Thuý _ 04D01435N L ớp 932
4
Luận văn tốt nghiệp Khoa kế toán
Tổ chức hạch toán đúng thời gian, số lượng, chất lượng, kết quả của người
lao động, tính đúng và thanh toán kịp thời tiền lương và các khoản trích theo
lương cho người lao động.
Tính toán, phân bổ chính xác chi phí tiền lương và các khoản trích theo
lương như BHXH, BHYT, KPCĐ cho các đối tượng sử dụng liên quan.
Định kỳ tiến hành phân tích tình hình sử dụng lao động, tình hình quản lý
và chi tiêu quỹ tiền lương. Cung cấp các thông tin kinh tế cần thiết cho các bộ
phận có liên quan.
1.2 Phân loại lao động trong doanh nghiệp sản xuất
1.2.1 Ý nghĩa của việc phân loại lao động trong doanh nghiệp
Phân loại lao động trong DN có ý nghĩa to lớn trong việc nắm bắt thông tin
về số lượng và thành phẩm lao động, về trình độ nghề nghiệp của người lao
động, về sự bố trí lao động trong doanh nghiệp. Từ đó thực hiện qui hoạch lao
động, lập kế hoạch lao động. Mặt khác thông qua việc việc phân loại lao động
trong từng DN, từng bộ phận giúp cho việc lập dự toán chi phí nhân công
trong chi phí sản xuất kinh doanh và công tác kiểm tra tình hình thực hiện kế
hoạch quỹ lương được thuận lợi.
1.2.2 Phân loại lao động
Doanh nghiệp hiện nay có thể phân chia lao động dưới các hình thức như
sau:
* Phân loại lao động theo thời gian
Theo thời gian lao động được phân thành lao động thường xuyên trong
danh sách và lao động ngoài danh sách.
Lao động thường xuyên trong danh sách là lao động do DN trực tiếp quản lý
và chi trả lương như công nhân sản xuất kinh doanh cơ bản và nhân viên
thuộc bộ phận quản lý..
Lao động ngoài danh sách: Là lực lượng lao động làm việc tại các DN khác
gian tiêu hao đó là thời gian lao động, trình độ tay nghề của mỗi người hoặc
số lượng, chất lượng sản phẩm đựơc sản xuất ra.
Phải trả lương ngang nhau cho người lao động nếu kết quả và hiệu quả
công việc như nhau trong cùng một đơn vị công việc.
Sv: Lê phương Thuý _ 04D01435N L ớp 932
6
Luận văn tốt nghiệp Khoa kế toán
Mức lương của người lao động không thấp hơn mức lương tối thiểu do Nhà
Nước qui định. Đảm bảo tiền lương phải gắn với nâng cao năng xuất lao động
và lớn hơn tốc độ tăng của tiền lương. Đó là qui luật phản ánh hiệu quả sử
dụng lao động.
Để đảm bảo nguyên tắc công khai, dân chủ trong xây dựng và thực hiện qui
chế trả lương, doanh nghiệp phải tổ chức xây dựng quy chế trả lương theo
nguyên tắc sau: Thành lập hội đồng xây dựng quy chế trả lương của DN do
giám đốc làm chủ tịch. Hội đồng có nhiệm vụ dự thảo quy chế và tổ chức lấy
ý kiến trong DN.
Thực tế ngày nay, ở các khu vực sản xuất hoạt động kihn doanh của mỗi
DN đều có đặc thù riêng. Vì vậy tuỳ theo đặc thù và điều kiện cụ thể mà DN
vận dụng các hình thức trả lương khác nhau sao cho phù hợp.
1.3.1.1 Các hình thức trả lương
Ở nước ta hiện nay việc trả lương cho người lao động trong các DN chủ yếu
được tiến hành theo hai hình thức: Hình thức tiền lương theo thời gian và hình
thức tiền lương theo sản phẩm.
* Hình thức tiền lương theo thời gian
Tiền lương theo thời gian là hình thức tiền lương tính theo thời gian làm
việc, cấp bậc kỹ thuật và thang lương người lao động. Theo yêu cầu và khả
năng quản lý, thời gian lao động của DN mà mỗi nghành cụ thể có một thang
lương riêng, trong mỗi thang lương lại tuỳ theo trình độ thành thạo nghiệp vụ,
kỹ thuật, chuyên môn mà chia thành nhiều bậc lương và mỗi bậc lương lại có
một mức tiền lương nhất định.
đơn giá tiền lương trả theo sản phẩm.
Công thức:
Tiền lương ngày
Tiền lương giờ =
Số giờ làm việc trong ngày theo chế độ
+ Tiền lương theo thời gian có thưởng: Là sự kết hợp giữa hình thức tiền
lương giản đơn với chế độ tiền thưởng trong sản xuất.
Công thức:
Tiền lương Tiền thưởng có
Tiền lương thời gian có thưởng = thời gian giản đơn + tính chất lương
Sv: Lê phương Thuý _ 04D01435N L ớp 932
8
Luận văn tốt nghiệp Khoa kế toán
Ưu điểm: Dễ làm, dễ tính đến thời gian làm việc thực tế có thể lập bảng tính
sẵn.
Nhược điểm: Chưa đảm bảo nguyên tắc phân phối theo lao động vì hình
thức này chưa tính đến một cách đầy đủ chất lượng lao động, chưa phát huy
hết khả năng sẵn có của người lao động nên không khuyến khích được người
lao động quan tâm đến kết quả lao động.
Vì vậy để khắc phục bớt những hạn chế này ngoài việc tổ chức theo dõi ghi
chép đầy đủ thời gian làm việc của công nhân viên DN cần phải thường
xuyên kiểm tra tiến độ làm việc và chất lượng công việc của công nhân viên
kết hợp với chế độ khen thưởng hợp lý.
* Hình thức tiền lương theo sản phẩm
- Theo hình thức này tiền lương tính trả cho người lao động căn cứ vào kết
quả lao động, số lượng và chất lượng sản phẩm công việc, lao vụ đã hoàn
thành và đơn giá tiền lương cho một đơn vị sản phẩm, công việc và lao vụ đó.
- Các hình thức tiền lương sản phẩm như sau:
+ Hình thức trả lương sản phẩm trực tiếp: Được áp dụng chủ yếu đối với
công nhân trực tiếp sản xuất căn cứ vào số lượng sản phẩm mà họ hoàn thành
x
Sp hoàn
thành
+
Số lượng
sp vượt
kế hoạch x
Đơn giá
lương
sản phẩm
x
Tỷ lệ
luỹ
tiến
+ Hình thức tiền lương khoán: Theo hình thức này người lao động sẽ nhận
được một khoản tiền nhất định sau khi hoàn thành xong khối lượng công việc
được giao theo đúng thời gian chất lượng qui định đối với loại công việc này.
Có hai phương pháp khoán: Khoán công việc và khoán quỹ lương
* Khoán công việc: Doanh nghiệp qui định mức tiền lương cho mỗi công
việc hoặc khối lượng sản phẩm hoàn thành. Người lao động căn cứ vào mức
lương này có thể tính được tiền lương của mình thông qua khối lượng công
việc mình đã hoàn thành.
* Khoán quỹ lương: Theo hình thức này, người lao động biết trước số tiền
lương mà họ sẽ nhận được sau khi hoàn thành công việc kịp thời gian được
giao. Căn cứ vào khối lượng từng công việc hoặc khối lượng sản phẩm và
thời gian cần thiết để hoàn thành mà DN tiến hành khoán quỹ lương.
1.3.2 Quỹ lương và các khoản trích theo lương
1.3.2.1 Khái niệm và nội dung quỹ lương
Quỹ tiền lương là toàn bộ số tiền phải trả cho tất cả các loại lao động mà DN
nên được hạch toán gián tiếp vào chi phí sản xuất từng loại sản phẩm theo
một tiêu chuẩn phân bổ nhất định.
1.3.2.2 Các khoản trích theo lương
* Quỹ BHXH: Theo khái niệm của tổ chức lao động quốc tế( ILO) BHXH
được hiểu là sự bảo vệ của xã hội các thành viên của mình, thông qua một
loạt các biện pháp công cộng để chống lại tình trạng khó khăn về kinh tế- xã
hội do bị mất việc hoặc giảm thu nhập gây ra bởi ốm đau, mất khả năng lao
động…. Theo Nghị định số 43/CP ngày 22/06/1993 qui định tạm thời chế độ
BHXH của Chính Phủ, quỹ BHXH được hình thành chủ yếu từ sự dóng góp
của người sử dụng lao động, người lao động và một phần hỗ trợ của nhà
Sv: Lê phương Thuý _ 04D01435N L ớp 932
11
Luận văn tốt nghiệp Khoa kế toán
nước. Theo qui định hiện hành hàng tháng DN tiến hành trích lập quỹ BHXH
theo qui định là 20% trong đó:
+ 15% thuộc trách nhiệm đóng góp của DN bằng cách trừ vào chi phí.
+ 5% thuộc trách nhiệm đóng góp của người lao động bằng cách trừ lương.
Quỹ BHXH dùng để tạo ra nguồn vốn tài trợ cho công nhân viên trong
trường hợp ốm đau, thai sản…và tổng hợp chi tiêu để quyết toán với cơ quan
chuyên trách.
* Quỹ BHYT: BHYT thực chất là sự trợ cấp về y tế cho người tham gia bảo
hiểm nhằm giúp họ một phần nào đó tiền khám, chữa bệnh, tiền viện phí…
Về đối tượng, BHYT áp dụng cho những người tham gia đóng BHYT thông
qua việc mua thẻ bảo hiểm trong đó chủ yếu là người lao động. Theo qui định
của Bộ Tài Chính hiện hành thì quỹ BHYT được hình thành bằng cách trích
1% tiền lương cơ bản do người lao động đóng và 2% quỹ tiền lương cơ bản
tính vào chi phí sản xuất do người sử dụng lao động chịu.
* KPCĐ: Là quỹ tài trợ cho hoạt động công đoàn các cấp và quỹ KPCĐ
được hình thành do việc trích lập theo một tỷ lệ nhất định phải trả cho người
lao động và tính vào chi phí trong kỳ. Theo quy chế hiẹn hành việc trích lập
động là cơ sở tính lương theo sản phẩm cho từng người, cho bộ phận hưởng
lương theo sản phẩm.
1.5 Hạch toán tổng hợp tiền lương và các khoản trích theo lương
1.5.1 Các chứng từ ban đầu, tài khoản kế toán hạch toán tiền lương và
các khoản trích theo lương
Để tổng hợp tiền lương kế toán tiền lương phải căn cứ vào chứng từ về hạch
toán tiền lương và thanh toán tiền lương cụ thể như sau:
- Bảng thanh toán tiền lương ( Mẫu số 02- LĐTL)
- Bảng thanh toán tiền thưởng ( Mẫu số 05 – LĐTL)
- Bảng phân bổ tiền lương và BHXH (Mẫu số 04 – LĐTL)
* TK 334 - Phải trả công nhân viên
Tài khoản này được dùng để phản ánh các khoản thanh toán với công
nhân viên của DN về tiền lương, phụ cấp, BHXH, tiền thưởng và các khoản
khác thuộc về thu nhập của họ.
Kết cấu và nội cung phản ánh của TK 334.
Bên Nợ:
+ Phản ánh các khoản khấu trừ vào tiền công, tiền lương của CBCNV
Sv: Lê phương Thuý _ 04D01435N L ớp 932
13
Luận văn tốt nghiệp Khoa kế toán
+ Tiền lương, tiền công và các khoản khác đã trả cho CNV
+ Kết chuyển tiền lương công nhân viên chức chưa lĩnh
Bên Có:
+ Phản ánh tiền lương, tiền công và các khoản khác phải trả cho CBCNV
Dư Có:
+ Tiền lương, tiền công và các khoản khác còn phải trả CBCNV
* TK 338 : Phải trả, phải nộp khác
Bên Nợ:
+ Các khoản đã nộp cho cơ quan quản lý các quỹ
+ Các khoản đã chi về kinh phí công đoàn
1.5.2 Phương pháp hạch toán
Hàng tháng trên cơ sở tính tiền lương, các khoản phụ cấp phải trả CBCNV
và phân bổ cho các đối tượng sử dụng, kế toán ghi:
Nợ TK 241 : Xây dựng cơ bản dở dang
Nợ TK 622 : Chi phí nhân công trực tiếp
Nợ TK 623 (623.1): Chi phí sử dụng máy thi công
Nợ TK 627 (627.1): Chi phí sản xuất chung
Nợ TK 641 (641.1): Chi phí bán hàng
Nợ TK 642 (642.1): Chi phí QLDN
Nợ TK 335 : Tiền lương CNSX nghỉ phép phải trả
Có TK 334 : Phải trả CBCNV
Trích trước tiền lương nghỉ phép của công nhân viên:
Nợ TK 622 : Chi phí nhân công trực tiếp
Có TK 335: Chi phí phải trả
+ Tiền thưởng phải trả cho CBCNV: Tiền thưởng có tính chất thường xuyên
( thưởng NSLĐ. tiết kiệm NVL…) tính vào chi p hí SXKD
Nợ TK 622,627,641,642…
Có TK 334 : Phải trả CNV
- Thưởng cho CBCNV trong các kỳ tổng kết..tính vào quỹ khen
thưởng
Nợ TK 431 (431.1) : Thưởng thi đua từ quỹ khen thưởng
Có TK 334 : Tổng số tiền thưởng phải trả
+ Tính tiền ăn ca phải trả công nhân viên
Nợ TK 622, 627, 641, 642…:
Có TK 334 : Phải trả CNV
Sv: Lê phương Thuý _ 04D01435N L ớp 932
15