Thái Hoàng Sơn Lớp: QTNL 47
LỜI MỞ ĐẦU
Việt Nam đang bước vào thế kỉ 21, thế kỉ diễn ra sự toàn cầu hóa mạnh
mẽ . Hiện nay với nền kinh tế thị trường áp lực cạnh tranh giữa các doanh
nghiệp càng trở nên gay gắt. Chính vì vậy mỗi doanh nghiệp đều phải chọn cho
mình những hướng đi chiến lược để bảo đảm sự tồn tại của doanh nghiệp mình.
Bằng cách này hay cách khác họ phải tạo ra cho mình lợi thế cạnh tranh so với
các đối thủ cạnh tranh . Vấn đề công tác tiền lương trong doanh nghiệp là một
vấn đề rất quan trọng trong quá trình cạnh tranh . Nếu công tác tiền lương tốt sẽ
giúp cho cán bộ công nhân viên cảm thấy hài lòng với công việc , sẽ trung thành
gắn bó và cống hiến cho công ty . Điều đó sẽ giúp cho công ty ngày càng vững
mạnh và có thể cạnh tranh với các đối thủ cạnh tranh khác.
Mặt khác đối với hàng triệu người lao động làm công ăn lương, tiền lương
là mối quan tâm hàng ngày đối với họ. Thật vậy, tiền lương là nguồn thu nhập
chính nhằm duy trì và nâng cao mức sống của người lao động và gia đình họ. Ở
một mức độ nhất định, tiền lương có thể được xem là bằng chứng thể hiện giá
trị, địa vị, uy tín của người lao động đối với cá nhân và xã hội . Chính vì vậy
công tác tiền lương đặc biệt quan trọng trong doanh nghiệp , nó quyết định lớn
đến sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp và quyết định lớn đến đời sống
của người lao động . Nhận thấy tầm quan trọng đó qua thực tế nghiên cứu và
thực tập tại bệnh viện đa khoa Thái An tôi đã nghien cứu sâu về công tác tổ
chức tiền lương tại bệnh viện .
Cùng với sự giúp đỡ tận của thầy giáo Vũ Huy Tiến đã giúp tôi thực hiện
đề tài “ Hoàn thiện công tác tổ chức tiền lương tại bệnh viện đa khoa Thái An ” .
Đề tài được chia làm 3 phần đó là
Phần I : Các vấn đề tiền lương , tiền thưởng của doanh nghiệp trong nền kinh
tế thị trường
1
Thái Hoàng Sơn Lớp: QTNL 47
Phần II : Phân tích thực trạng tiền lương tại bệnh viện đa khoa Thái An
Phần III : : Một số giải pháp góp phần nhằm hoàn thiện công tác tiền lương ,
3
Thái Hoàng Sơn Lớp: QTNL 47
gián tiếp . Phần tài chính thường định lượng cụ thể được bằng tiền hay bằng vật
chất mà người lao động nhận được
- Tài chính trực tiếp bao gồm lương công nhật, lương tháng, tiền hoa hồng
và tiền thưởng . Đây chính là số tiền chính mà người lao động nhận được khi
tham gia vào quá trình lao động và nó được sử dụng để tái sản xuất sức lao động
và tiêu dùng cho đời sống
- Tài chính gián tiếp bao gồm chế độ bảo hiểm, các loại phúc lợi, và tiền
lương khi vắng mặt. Đây là số tiền phụ mà người lao động nhận được khi tham
gia vào quá trình lao động . Số tiền này củng cố thêm thu nhập cho người lao
động .
2.2)Phần phi tài chính
Phần phi tài chính là phần tiền lương không có thước đo về vật chất mà
chỉ được xác định bằng sự cảm nhận của người lao động . Nó phụ thuộc vào bản
thân công việc và môi trường làm việc . Bản thân công việc đó có hấp dẫn
không , có đòi hỏi sức phấn đấu không , nhân viên nếu có được giao trách nhiệm
không , nhân viên có cơ hội được cấp trên nhận biết thành tích của mình hay
không , quá trình làm việc họ có cảm giác vui không…
Ở Việt Nam , thu nhập của người lao động từ việc làm bao gồm các
khoản.: tiền lương cơ bản , phụ cấp , tiền lương và các loại phúc lợi. Mỗi yếu tố
có cách tính riêng và có ý nghĩa khác nhau đối với việc kích thích động viên
người lao động hăng hái , tích cực , sáng tạo trong công việc.
Tiền lương cơ bản là tiền lương được xác định cơ sở tính đủ các nhu cầu
cơ bản về sinh học, xã hội học và độ phức tạp và mức độ tiêu hao lao động trong
những điều kiện lao động trung bình của từng ngành nghề, công việc. Tiền
lương cơ bản được sử dụng rộng rãi đối với những người làm việc ở các doanh
nghiệp quốc doanh hoặc trong khu vực hành chính sự nghiệp ở Việt Nam và
được xác định qua hệ thống thang lương, bảng lương của nhà nước. Để được
4
- Thưởng tiết kiệm: áp dụng khi người lao động sử dụng tiết kiệm loại
vật tư, nguyên liệu, có tác dụng giảm giá thành sản phẩm dịch vụ mà vẫn bảo
đảm được chất lượng theo yêu cầu.
- Thưởng sáng kiến: áp dụng khi người lao động có các sáng kiến, cải
tiến kỹ thuật, tìm ra các phương pháp làm việc mới… có tác dụng làm nâng cao
chất lượng sản phẩm, dịch vụ…
- Thưởng theo kết quả hoạt động kinh doanh chung của doanh nghiệp: áp
dụng khi doanh nghiệp làm ăn có lợi, người lao động trong doanh nghiệp sẽ
được chia một phần tiền lời dưới dạng tiền thưởng hình thức này áp dụng trả cho
nhân viên vào cuối quý, nửa năm hoặc cuối năm tuỳ theo cách thức tổng kết
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
- Thưởng tìm được nơi cung ứng, tiêu thụ, ký kết hợp đồng mới: áp dụng
cho các nhân viên tìm thêm được các địa chỉ tiêu thụ mới, giới thiệu khách hàng,
ký kết thêm được hợp đồng cho doanh nghiệp… hoặc có các hoạt động khác có
tác dụng làm tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp .
- Thưởng bảo đảm ngày công: áp dụng khi người lao động làm việc với
số ngày công vượt mức quy định của doanh nghiệp
- Thưởng về lòng trung thành, tận tâm với doanh nghiệp: áp dụng khi
người lao động có thời gian phục vụ trong doanh nghiệp vượt quá một giới hạn
thời gian nhất định, hoặc khi lao động có những hoạt động rõ ràng đã làm tăng
uy tín của doanh nghiệp.
Cách tính tiền thưởng rất đa dạng: Thông thường các loại tiền thưởng
năng suất, chất lượng, thương tiết kiệm, thưởng sáng kiến và thưởng cho nhân
viên tìm được các khách hàng mới, các địa chỉ tiêu thụ mới các địa chỉ tiêu thụ
mới được xác định bằng tỉ lệ phần trăm so với phần lợi ích mà nhân viên mang
lại cho doanh nghiệp. Ví dụ để khuyến khích công nhân sản xuất hiệu quả hơn ,
công ty X thưởng thêm 5000 đ/ SP làm thêm được ngoài định mức yêu cầu .
Hình thức thưởng theo kết quả hoạt động kinh doanh chung của doanh nghiệp
thường được hội đồng quản trị doanh nghiệp , giám đốc điều hành ấn định
6
thấy thoải mái trong công việc . Nhưng yếu tố mạnh mẽ nhất tác động đến sự hài
lòng về công việc chính là tiền lương
Mối quan hệ giữa công bằng về thù lao lao động và sự hài lòng về công
việc có thể dựa vào
- Các yếu tố thuộc về các nhân người lao động
- Các yếu tố thuộc về tổ chức
1.3)Ảnh hưởng của tiền lương đến kết quả thực hiện công việc
Trong lý thuyết và thực tế đã cho thấy rằng không có mối quan hệ phù hợp
tuyệt đối hoàn toàn giữa sự hài lòng về công việc và kết quả thực hiện công việc
. Tuy nhiên cần khẳng định rằng sự hài lòng về công việc do tiền lương nhận
được có ảnh hưởng tỷ lệ thuận với kết quả thực hiện công việc . Tiền lương nhận
được càng cao thường dẫn đến kết quả thực hiện công việc càng cao và ngược
lại . Nếu người lao động nhận được tiền công cao , xứng đáng với sức lao động
họ bỏ ra . Họ sẽ nỗ lực hơn trong công việc và cố gắng hoàn thành công việc với
mức tốt nhất có thể
1.4)Ảnh hưởng của tiền lương đến thuyên chuyển lao động
Tiền lương có ảnh hưởng quyết định đến sự hài lòng công việc cùng với đó
là yếu tố ảnh hưởng quyết định đến việc tiếp tục kí hợp đồng làm việc tại tổ
chức đó hay chuyển sang doanh nghiệp khác . Nguyên nhân cốt yếu đó là sự mất
công bằng về tiền lương trong tổ chức dẫn đến sự không hài lòng về công việc .
Từ đó sẽ thôi thúc người lao động chuyển công tác đến làm việc ở một tổ chức
khác . Sự bất công bằng về tiền lương càng cao thì sự không hài lòng về công
việc càng cao và tỉ lệ , mức độ rời tổ chức sẽ càng lớn . Ngược lại nếu công tác
tiền lương được thực hiện tốt tạo được sự hài lòng đối với người lao động thì
người lao động sẽ gắn bó với tổ chức hơn và cống hiến nhiều hơn cho tổ chức .
Tại Nhật Bản hay ở nhiều nước khác hiện nay rất chú trọng đề cao đối với
những lao động gắn bó với tổ chức lâu dài . Những người đã làm việc , cống
8
Thái Hoàng Sơn Lớp: QTNL 47
mình để duy trì cuộc sống và tiếp tục quá trình sản xuất. Muốn thực hiện được
chức năng này thì tiền lương phải đủ lớn. Nếu không thực hiện được thì sức
khỏe người lao động sẽ không được đảm bảo và không thực hiện được công
việc.
2.3)Chức năng kích thích sản xuất
Con người không chỉ muốn thỏa mãn về nhu cầu vật chất mà còn muốn
thỏa mãn về nhu cầu tinh thần. Khi người lao động có nhu cầu và nhu cầu đó có
thể được thực hiện thông qua tiền lương thì họ sẽ thấy được ý nghĩa của tiền
lương. Nhu cầu đó càng cao càng thúc đẩy người lao động tích cực làm việc. Để
thực hiện tốt chức năng này thì tiền lương phải đủ lớn và phải tổ chức tốt việc
trả lương, phân biệt được những người làm tốt và những người không làm tốt
công việc được giao.
2.4)Chức năng tích lũy
Đối với người lao động khi nhận được tiền lương một phần họ sẽ tiêu dùng
phần còn lại họ sẽ tích luỹ. Số tiền tích lũy đó họ có thể cất giữ hoặc gửi tiết
kiệm. Đây là một trong những nguồn hình thành vốn rất hiệu quả đối với xã hội.
Hơn nữa những người có thu nhập cao sẽ phải đóng một phần thuế thu nhập và
do đó góp phần làm tăng nguồn thu của chính phủ.
10
Thái Hoàng Sơn Lớp: QTNL 47
III) Các nguyên tắc cơ bản của tổ chức tiền lương
Bất kì một tổ chức nào khi hoạt động cũng phải dựa trên những nguyên tắc
nhất định . Những nguyên tắc đó giúp tổ chức đó hoạt động đúng mục đích ,
đúng định hướng để đạt được những mục tiêu đã đề ra . Tiền lương cũng không
nằm ngoài quy luật đó , khi tổ chức tiền lương cần tuân theo những quy tắc sau :
1)Trả lương bằng nhau cho các lao động như nhau
Nguyên tắc này là sự thể hiện của nguyên tắc cơ bản trong phân phối theo lao
động “ làm theo năng lực , hưởng theo lao động ” . Theo đó thì lao động như
nhau là lao động có số lượng và chất lượng như nhau . Số lượng lao động hao
phí có thể đánh giá thông qua lượng calo tiêu hao , hay thông qua thời gian hoặc
- Điều kiện lao động khác nhau . Điều kiện lao động thường ảnh hưởng trực
tiếp đến hao phí lao động . Điều kiện lao động là tỏng thể các yếu tố bên ngoài
( ánh sáng , cơ sở vật chất , tiếng ồn , nhiệt độ …) xung quanh con người và tác
động đến con người . Trên thức tế điều kiện lao động khác nhau giữa các
nghành , trong nội bộ từng nghành và trong nội bộ từng doanh nghiệp . Khi điều
kiện lao động khác nhau hoa phí lao động sẽ khác nhau và chí phí tái sản xuất
sức lao động cũng khác nhau . Chính vì vậy công nhân làm việc trong điều kiện
nặng nhọc có hại đến sức khoẻ phải được trả lương cao hơn những ngươì làm
việc trong điều kiện bình thường.
- Những ngành chủ đạo có tính chất quyết định sự phát triển của nền kinh tế
quốc dân thì cần được đãi ngộ mức tiền lương cao hơn nhiều nhằm khuyến
khích công nhân an tâm phấn khởi làm việc lâu dài ở những ngành nghề đó. Sự
khuyến khích này cũng phải phù hợp với yêu cầu của việc phân phối sức lao
động một cách có kế hoạch trong thời kỳ phát triển kinh tế.
- Các vùng khác nhau có sự khác nhau về điều kiện sống ( khí hậu , đi lại
, giá cả sinh hoạt …) . Giữ đồng bằng và miền núi , giữa nông thôn và thành thị
… Đối với các cơ sở sản xuất ở những vùng xa xôi hẻo lánh, điều kiện khí hậu
xấu, sinh hoạt đất đỏ, đời sống gặp khó khăn, nhân lực thiếu… Cần được đãi
12
Thái Hoàng Sơn Lớp: QTNL 47
ngộ tiền lương cao hơn hoặc thêm những khoản phụ thuộc cấp thì mới thu hút
được công nhân đến làm việc.
IV) Các yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến tiền lương của người lao động
1)Yếu tố bên trong ( môi trường bên trong doanh nghiệp )
Những yếu tố thuộc về tổ chức như doanh nghiệp đó kinh doanh ở lĩnh vực
nào , hiện nay thường các doanh nghiệp kinh doanh ở các lĩnh vực như dầu khí ,
ngân hàng , viễn thông … thường có mức lương cao hơn các nghành khác . Mặt
khác yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến tiền lương của người lao động đó là
doanh nghiệp làm ăn có lãi hay không . Ngoài ra còn có nhiều yếu tố ảnh hưởng
đến tiền lương đó là :
V) Các hình thức trả lương
1)Trả lương theo sản phẩm
* Hình thức trả lương theo sản phẩm là hình thức trả lương cho người lao
động căn cứ vào số lượng, chất lượng sản phẩm họ làm ra. Theo hình thức này
tiền lương của người lao động nhận được phụ thuộc vào đơn giá và số lượng sản
phẩm chế tạo đảm bảo chất lượng
Tiền lương người lao động nhận được:
TL
sp
= ĐGxSP
(10)
Trong đó:
TL
sp
: Tiền lương theo sản phẩm
ĐG: Đơn giá tiền lương đối với một đơn vị sản phẩm
SP: Số lượng Sản phẩm
14
Thái Hoàng Sơn Lớp: QTNL 47
1.1) Ưu điểm và nhược điểm của hình thức trả lương theo sản phẩm
a) Ưu điểm :
-Quán triệt đầy đủ hơn nguyên tắc trả lương theo số lượng và chất lượng
lao động. Do đó kích thích nâng cao năng suất lao động.
-Khuyến khích người lao động hoàn thiện để nâng cao năng suất lao
động
-Góp phần thúc đẩy công tác quản lý doanh nghiệp, nhất là công tác
quản lý lao động
b) Nhược điểm :
- Xếp bậc công việc đòi hỏi công phu và cần nhiều thời gian
- Kiểm tra , nghiệm thu sản phẩm mất thời gian
động nhằm tăng thu nhập. Chế độ tiền công này dễ hiểu, công nhân dễ dàng tính
toán được số tiền công nhận được sau khi hoàn thành nhiệm vụ sản xuất.
Nhược điểm: Người lao động ít quan tâm đến việc sử dụng tốt máy móc,
thiết bị và nguyên vật liệu, ít chăm lo đến công việc chung của tập thể.
b) Trả công theo sản phẩm tập thể
Chế độ trả công này áp dụng đối với những công việc cần một tập thể
công nhân cùng thực hiện, như lắp ráp thiết bị, sản xuất ở các bộ phận làm việc
theo dây chuyền, trông nam máy liên hợp.
Đơn giá ở đây tính theo các công thức sau:
16
∑
∑
=
=
==
n
i
n
i
TLDGhay
Q
L
DG
1
1
.
Thái Hoàng Sơn Lớp: QTNL 47
Trong đó:
ĐG: Đơn giá tính theo sản phẩm tập thể
∑ L: Tổng số tiền lương tính theo cấp bậc công việc của cả tổ
c) Trả công theo sản phẩm có thưởng
Thực chất là chế độ trả lương sản phẩm kết hợp với các hình thức tiền
thưởng.
Công thức tính:
L
th
= L +[L(m.h)]/100
Trong đó:
L: tiền công trả theo sản phẩm với đơn giá cố định
M: % tiền thưởng cho 1% hoàn thành vượt mức chỉ tiêu thi công
h: % Hoàn thành một mức chi tiền thưởng
Yêu cầu: Phải quy định đúng đắn các chỉ tiêu, điều kiện thưởng, nguồn
tiền thưởng và tỷ lệ thưởng bình quân.
d) Hình thức trả lương theo sản phẩm lũy tiến
Chế độ trả công này áp dụng ở những “khâu yếu” trong sản xuất, khi sản
xuất đang khẩn trương.
Nguồn tiền để trả thêm cho chế độ trả công này dựa vào tiền tiết kiệm
chi phí sản xuất gián tiếp cố định.
Chế độ trả công này dùng hai loại đơn giá: cố định và lũy tiến
Đơn giá luỹ tiến dùng để tính cho những sản phẩm vượt mức khởi điểm
Tiền công của công nhân nhận được tính theo công thức sau:
∑L = [P. Q
1
] + [P.k (Q
1
– Q
0
)]
Trong đó:
∑L: Tổng số tiền công của công nhân hưởng lương theo sản phẩm luỹ
tg
: Tiền lương theo thời gian
S: Suất lương của người lao động
T: Thời gian người lao động làm việc
2.1) Ưu điểm và nhược điểm của hình thức trả công theo thời gian
a) Ưu điểm :
- Người lao động quan tâm đến chất lượng sản phẩm
19
Thái Hoàng Sơn Lớp: QTNL 47
- Không mất thời gian nghiệm thu sản phẩm, định mức lao động
- Cách tính toán dễ dàng , công nhân có thể tính được số tiền mình
nhận được sau khi hoàn thành công việc
b) Nhược điểm :
- Không khuyến khích người lao động sử dụng có hiệu quả thời gian làm việc
2.2 ) Điều kiện áp dụng hình thức trả công theo thời gian
+ Khi tốc độ công việc được thực hiện bằng máy móc theo dây truyền
hoặc bằng thiết bị sử dụng vật tư.
+ Khi Công ty coi chất lượng và độ chính xác của sản phẩm là yếu tố
quan trọng mà nếu trả lương sản phẩm có thể mất hai tính chất này.
+ Khi việc sản xuất rất đa dạng (như khi sản xuất theo đơn đặt hàng số
lượng nhỏ, hoặc khi các hoạt động sản xuất này có tài chính tạm thời)
+ Khi trong quá trình sản xuất, đôi khi thường bị gián đoạn và trì hoãn, khiến
cho Công ty không áp dụng phương pháp trả lương kích thích sản xuất được,
vì phương pháp này kém hiệu quả và không thực
2.3) Các hình thức trả công theo thời gian
a) Trả công theo thời gian đơn giản
Chê độ tiền công theo thời gian đơn giản là chế độ trả công mà tiền công
nhận được của mỗi người công nhân do mức lương cấp bậc cao hay thấp và thời
gian thực tế làm việc nhiều hay ít quyết định.
Chế độ trả công này áp dụng ở nhiều nơi khó định mức lao động chính
PHẦN II : PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG TIỀN LƯƠNG TẠI
BỆNH VIỆN ĐA KHOA THÁI AN
I) Giới thiệu và quá trình hình thành phát triển
1) Giới thiệu sơ bộ về bệnh viện
a. Tên bệnh viện : Bệnh viện đa khoa Thái An
b. Trụ sở : Số 167 Nguyễn Sinh Sắc – Thành phố Vinh
,Tỉnh Nghệ An
c. Điện thoại : 038.3535777 – 038.3535959 – 038.220722 –
038.220775
d. Fax : 038.3535999
e. Emai :
2) Quá trình hình thành và phát triển
Bệnh viện đa khoa Thái An là một bệnh viện còn non trẻ trong lĩnh vực y
tế . Tuy mới hoạt động được 3 năm nhưng bệnh viện đã có những bước tiến
đáng kể trong quá trình hoạt động . Quá trình hoạt động dược chia làm 3 giai
đoạn như sau:
2.1) Giai đoạn 1: Năm 2005 đến 2006
Đây là giai đoạn bệnh viện mới đi vào hoạt động chính vì vậy gặp rất
nhiều khó khăn , đặc biệt là vấn đề nhân sự . Với quy mô ban đầu 60 giường
bệnh và tổng số cán bộ công nhân viên là 62 trong đó có 18 bác sĩ , 31 cao đẳng
– trung học y tế , 13 cán bộ khác . Nhưng với sự cố gắng hết mình của ban lãnh
đạo và đội ngũ cán bộ, CNV bệnh viện đã thu được kết quả tích cực
- Số lần khám bệnh : 36760 bệnh nhân
- Số bệnh nhân ngoại trú : 34680 bệnh nhân
22
Thỏi Hong Sn Lp: QTNL 47
- S bnh nhõn ni trỳ : 2080 bnh nhõn
- Lu lng bnh nhõn trung bỡnh / ngy : 101 bnh nhõn
2.2) Giai on 2: Nm 2006 n 2007
Tip tc nhng kt qu ó t c , lỳc ny bnh vin cú 78 cỏn b ,
- Giải quyết các bệnh thông thờng về các chuyên khoa phù hợp với phạm vi
hoạt động chuyên môn đợc Bộ Y tế phê duyệt.
- Quản lý sức khoẻ các đối tợng có nhu cầu.
3.2.2 . Đào tạo cán bộ:
- Tổ chức đào tạo liên tục cho nhân viên y tế trong Bệnh viện và các cơ sở y tế
khác nếu có nhu cầu.
- Là nơi thực hành cho các trờng, lớp Cao đẳng và Trung học y tế nếu có nhu
cầu.
3.2.3. Nghiên cứu khoa học:
Tổng kết, đánh giá các đề tài nghiên cứu khoa học và công tác chăm sóc sức
khoẻ ban đầu.
3.2.4. Phòng bệnh:
Thực hiện tốt công tác phòng bệnh trong bệnh vịên, phối hợp với các cơ sở y
tế dự phòng ở địa phơng tham gia phát hiện và phòng chống các bệnh dịch
nguy hiểm. Tham gia công tác truyền thông giáo dục sức khoẻ thực hiện công
tác chống dịch bệnh.
3.2.5. Hợp tác quốc tế về y học:
Bệnh viện tham gia các chơng trình hợp tác quốc tế với cá nhân, tổ chức nớc
ngoài theo quy định của Nhà nớc
4) C cu v c im i ng lao ng
4.1) c im i ng lao ng
24
Thái Hoàng Sơn Lớp: QTNL 47
Hiện nay đội ngũ cán bộ , CNV của bệnh viện đều có tuổi đời còn khá trẻ .
Tuổi đời trung bình của cán bộ , CNV hiện nay trong bệnh viện là 32 . Đây cũng
chính là ưu điểm và khuyết điểm của lực lượng lao động hiện nay . Với đội ngũ
lao động có tuổi đời trẻ , có nhiều sáng tạo trong công việc , có lòng nhiệt tình
và tâm huyết sẽ giúp bệnh viện ngày càng đi lên và có nhiều thuận lợi . Nhưng
trong chuyên môn , đội ngũ y bác sĩ trẻ sẽ thiếu kinh nghiệm trong công tác
khám chữa bệnh . Chính vì vậy để nâng cao khả năng điều trị bệnh viện phải có