LỜI MỞ ĐẦU
Trong điều kiện nền kinh tế hội nhập và phát triển, thu nhập bình quân
đầu người ở Việt Nam ngày càng cao thì nhu cầu mua ô tô, nhà ở ngày càng
trở nên cần thiết. Người dân không chỉ mong muốn đi những chiếc xe mô tô
hiện đại, đắt tiền như S/h, Dylan…mà còn mong muốn đến những chiêc ô tô
sang trọng bởi tính năng an toàn và tiện lợi của nó. Nhưng không phải bất cứ
ai cũng có đủ khả năng tài chính để thực hiện ước mơ đó. Vì vậy, ngân hàng
trở thành người bạn tin cậy, chia sẻ những khó khăn về tài chính với họ. Tại
chi nhánh VPBank Hoàn Kiếm, lượng khách hàng tìm đến ngân hàng vay tiền
mua ô tô ngày càng tăng lên. Vay như thế nào? Phương thức vay ra sao? Có
những thuận lợi và khó khăn gì?...Đó là lý do tại sao em muốn tìm hiểu,
nghiên cứu và làm rõ đề tài: “Hoạt động cho vay trả góp mua ô tô tại chi
nhánh VPBank Hoàn Kiếm”.
Ngoài lời mở đầu và kết luận, chuyên đề tập trung làm rõ các vấn đề:
Chương 1: Những vấn đề chung về cho vay trả góp của ngân hàng
thương mại
Chương 2: Thực trạng cho vay trả góp mua ô tô tại chi nhánh VPBank
Hoàn Kiếm
Chương 3: Giải pháp tăng cường cho vay trả góp mua ô tô tại chi
nhánh VPBank Hoàn Kiếm
Chuyên đề tốt nghiệp
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHO VAY TRẢ GÓP
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHO VAY
1.1.1. Khái niệm về cho vay
Đối với ngân hàng thương mại, cho vay luôn là một nguồn thu chủ yếu
của ngân hàng. Có thể hiểu cho vay là một quan hệ giao dịch giữa hai chủ thể,
trong đó ngân hàng thương mại chuyển giao tiền hoặc tài sản cho người vay
sử dụng trong một thời gian nhất định, đồng thời bên vay tiền hoặc tài sản
cam kết hoàn trả vốn (gồm cả gốc và lãi) cho ngân hàng theo thời hạn đã thỏa
thuận.
Việc phân loại cho vay có cơ sở khoa học sẽ là tiền đề để thiết lập các quy
trình cho vay thích hợp và nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng.
1.1.3. Nguyên tắc cho vay
Cho vay có hiệu quả là điều kiện để ngân hàng duy trì sự tồn tại và phát
triển ổn định. Vì vậy, ngân hàng phải luôn đảm bảo hoạt động cho vay của
mình lành mạnh và có hiệu quả. Trước khi cho khách hàng vay vốn, các ngân
hàng phải thực hiện tốt việc kiểm tra khả năng hoàn trả của người vay, đảm
bảo tính độc lập trong quá trình kiểm tra, tuân thủ quy trình cho vay…
Từ đó, ngân hàng đặt ra nguyên tắc cho vay đối với khách hàng. Nói
chung, khách hàng vay vốn phải đảm bảo hai nguyên tắc:
Thứ nhất, sử dụng vốn vay đúng mục đích theo thoả thuận trong hợp
đồng tín dụng. Đây là nguyên tắc cơ bản, vì khách hàng sử dụng vốn đúng
mục đích mới thực hiện được dự án, phương án sản xuất kinh doanh theo lợi
ích dự kiến và vì thế mới thu hồi được vốn trả nợ cho ngân hàng. Do đó,
nguyên tắc này nhằm hạn chế rủi ro đạo đức và hạn chế việc khách hàng sử
dụng vốn bất hợp pháp. Đồng thời, nâng cao uy tín và củng cố mối quan hệ
vay vốn giữa khách hàng và ngan hàng.
Phạm Thị Hoài Thu Tài chính công 46
3
Chuyên đề tốt nghiệp
Thứ hai, phải hoàn trả gốc và lãi đúng thời hạn. Đây là nguyên tắc đảm
bảo phương châm hoạt động của ngân hàng là “đi vay để cho vay” và thực
hiện nguyên tắc lấy thu bù chi và có lãi trong hạch toán kinh doanh.
1.1.4. Điều kiện vay vốn
Các ngân hàng thường chỉ cho khách hàng vay vốn khi đáp ứng những
yêu cầu về điều kiện vay vốn do ngân hàng đề ra. Đó là những quy định cụ
thể của ngân hàng đối với khách hàng khi có nhu cầu vay vốn. Điều kiện vay
vốn đó là:
Khách hàng phải có địa vị pháp lý: tức là phải có năng lực pháp luật,
năng lực hành vi dân sự và phải chịu trách nhiệm dân sự theo quy định của
Ngân hàng cho vay nhằm đáp ứng khả năng vay vốn hợp pháp của
khách hàng, thông qua đó để tìm kiếm lợi nhuận. Ở các nước khác nhau có
quy định cụ thể đối tượng cho vay khác nhau.
Ở Việt Nam theo quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN quy định đối tượng cho
vay của các tổ chức tín dụng bao gồm:
Các pháp nhân và cá nhân Việt Nam gồm:
- Các pháp nhân là: Doanh nghiệp nhà nước, hợp tác xã, công ty trách
nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
và các tổ chức khác có đủ các điều kiện quy định tại Điều 94 Bộ Luật Dân
sự;
- Cá nhân;
- Hộ gia đình;
- Tổ hợp tác;
- Doanh nghiệp tư nhân;
- Công ty hợp doanh.
Các pháp nhân và cá nhân nước ngoài.
Phạm Thị Hoài Thu Tài chính công 46
5
Chuyên đề tốt nghiệp
1.1.6. Thời hạn cho vay
1.1.6.1. Căn cứ để xác định thời hạn cho vay
Thứ nhất, căn cứ vào đặc điểm và chu kỳ hoạt động tương ứng với các
nghiệp vụ kinh doanh của khách hàng vay vốn.
Chu kỳ hoạt động là khoảng thời gian từ khi doanh nghiệp đưa nguyên
vật liệu vào, sản xuất ra sản phẩm cho tới khi thu được tiền bán hàng để bù
đắp chi phí và tiếp tục chu kỳ hoạt động khác. Tương ứng với các nghiệp vụ
kinh doanh của khách hàng, chu kỳ hoạt động bao gồm: Mua hàng hoá,
nguyên vật liệu chính, nguyên vật liệu phụ, dự trữ, sản xuất, dự trữ sản phẩm,
bán sản phẩm.
Độ dài thời gian chu kỳ hoạt động tuỳ theo ngành và lĩnh vực kinh
hàng xin vay vốn để đầu tư mua sắm tài sản lưu động hay tài sản cố định cho
phù hợp, đảm bảo cho khách hàng có đủ chi phí đầu vào để có thể hoạt động
bình thường. Vì vậy, khi có nhu cầu vay vốn, khách hàng phải gửi tới ngân
hàng Giấy đề nghị vay vốn trong đó xác định rõ nhu cầu vay vốn ngân hàng
và mục đích sử dụng vốn của khách hàng.
Đối tượng vay vốn là một bộ phận cấu thành của chi phí sản xuất. Nó
tham gia vào chu kỳ sản xuất kinh doanh của khách hàng. Giá trị của nó được
chuyển dịch dần (đối với tài sản cố định) hay chuyển dịch toàn phần (đối với
tài sản lưu động) vào chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ và là một bộ phận
cấu thành giá trị sản phẩm. Khi kết thúc chu kỳ ngân quỹ cũng là lúc khách
hàng có nguồn thu để bù đắp chi phí. Do đó, ngân hàng phải chú trọng nghiên
cứu đặc điểm đối tượng vay vốn của khách hàng để có biện pháp quản lý, tính
toán, xác định thời hạn cho vay phù hợp với đặc điểm luân chuyển vốn của
đối tượng vay. Khách hàng phải sử dụng vốn vay đúng mục đích đã ghi trong
đơn xin vay. Đây là cơ sở để ngân hàng kiểm tra tình hình sử dụng vốn vay
của khách hàng.
Thứ ba, căn cứ vào thời gian hoàn vốn đầu tư của dự án, phương án đầu tư.
Phạm Thị Hoài Thu Tài chính công 46
7
Chuyên đề tốt nghiệp
Thời gian hoàn vốn đầu tư là số thời gian cần thiết để dự án, phương án
hoạt động của khách hàng thu hồi đủ số vốn đầu tư ban đầu đã bỏ ra. Chính là
khoảng thời gian để hoàn trả vốn đầu tư ban đầu bằng các khoản lợi nhuận và
khấu hao thu hồi hàng năm. Thời hạn hoàn vốn của dự án là cơ sở để ngân
hàng xác định thời hạn cho vay phù hợp, đảm bảo thu hồi được gốc và lãi khi
đến hạn thanh toán.
Thời gian thu hồi vốn ngắn hay dài phụ thuộc vào khả năng cân đối
nguồn tiền để trả nợ từ lợi nhuận thuần và khấu hao cơ bản. Thời gian thu hồi
vốn đầu tư được xác định bằng phương pháp trừ dần hay cộng dồn. Nó có thể
được xác định khi chưa tính đến yếu tố thời gian của tiền (thời gian thu hồi
ở Việt Nam, thời gian ân hạn được tính từ khi rút khoản vốn đầu tiên đến khi
bắt đầu trả nợ.
Thời hạn trả nợ là khoảng thời gian tính từ khi khách hàng bắt đầu trả
nợ cho đến khi trả hết nợ cho ngân hàng. Tuỳ thuộc vào tình hình thu nhập
cũng như khả năng trả nợ của khách hàng, thời hạn trả nợ có thể được chia ra
các kỳ hạn trả nợ khác nhau.
Thời hạn trả nợ = Tổng số tiền cho vay/Mức trả nợ một kỳ
Mức trả nợ một kỳ = Nguồn trả nợ một năm/ Số kỳ trả nợ một năm
Trong đó, nguồn trả nợ của khách hàng được lấy từ khấu hao tài sản
hình thành từ vốn vay, một phần lợi nhuận và các nguồn vốn khác (nếu có).
Thời hạn cho vay trung bình
Khoảng thời gian khách hàng được sử dụng toàn bộ tiền vay chính là
thời hạn cho vay trung bình.
Thời hạn cho vay trung bình được xác định bằng tổng của thời hạn
trung bình của kỳ rút vốn, thời hạn ân hạn và thời hạn trung bình của kỳ trả
Phạm Thị Hoài Thu Tài chính công 46
9
Chuyên đề tốt nghiệp
nợ
Thời hạn trung bình của từng kỳ = Tổng dư nợ trong kỳ/Tổng số tiền vay
Trong đó:
Tổng dư nợ trong kỳ = ∑ ( Dư nợ thực tế * Thời hạn dư nợ )
1.1.7. Phương pháp cho vay
Để đáp ứng nhu cầu của khách hàng trong việc vay vốn, ngân hàng
thương mại đưa ra nhiều phương thức cho vay khác nhau. Tuy nhiên, theo
cách rút vốn vay và trả nợ thì hoạt động cho vay của ngân hàng được thực
hiện theo hai phương pháp cho vay cơ bản là: Phương pháp cho vay từng lần
và phương pháp cho vay theo hạn mức tín dụng.
1.1.7.1. Phương pháp cho vay từng lần
Phương pháp cho vay từng lần là phương pháp cho vay mà mỗi lần vay
đề nghị trong bảng kê rút vốn. Số tiền mà khách hàng được ngân hàng duyệt
rút vốn là khoản nợ chính thức của lần rút vốn đó.
Khách hàng trả nợ theo lịch trả nợ đã được thỏa thuận và xác định
trong hợp đồng tín dụng. Khi đến hạn trả nợ của khách hàng theo hợp đồng đã
kí kết, khách hàng phải chủ động đến trả nợ tại ngân hàng. Nếu khách hàng
không đến đúng hạn thì ngân hàng có quyền trích tài khoản tiền gửi của khách
hàng để thu nợ.
Ngoài ra, ngân hàng có thể cho khách hàng vay theo hình thức “cho
vay trên tài sản”. Đây là hình thức cho vay được đảm bảo trực tiếp bằng các
khoản phải thu hoặc hàng tồn kho của khách hàng. Ngân hàng sẽ cho vay theo
tỷ lệ phần trăm nhất định trên giá trị ghi sổ của các khoản phải thu hoặc trên
giá trị hàng tồn kho. Khi bán được hàng hoặc thu hồi các khoản phải thu,
khách hàng sẽ đến trả nợ ngân hàng. Hình thức này giống như chiết khấu bộ
chứng từ hàng bán.
1.1.7.2. Phương pháp cho vay theo hạn mức tín dụng
Phạm Thị Hoài Thu Tài chính công 46
11
Chuyên đề tốt nghiệp
Phương pháp cho vay theo hạn mức tín dụng là phương pháp cho vay
mà ngân hàng và khách hàng xác định và thoả thuận một hạn mức tín dụng,
duy trì trong một khoảng thời gian nhất định. Hạn mức tín dụng là mức dư nợ
vay tối đa được duy trì trong một thời hạn nhất định mà khách hàng và ngân
hàng đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng
Căn cứ vào phương án sản xuất kinh doanh, nhu cầu vay vốn của khách
hàng, tỷ lệ cho vay tối đa so với tài sản đảm bảo, khả năng nguồn vốn của
ngân hàng để tính toán và thoả thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong thời
hạn nhất định hoặc theo chu kỳ sản xuất kinh doanh của khách hàng. Trong
phạm vi hạn mức tín dụng còn lại, khách hàng được rút tiền vay để tài trợ cho
các chi phí kinh doanh, mua hàng hoá dự trữ hoặc đầu tư vào các dự án sản
xuất…
vốn vay.
Bên cạnh 2 phương pháp trên, các ngân hàng còn có thể cho vay theo
các phương pháp khác không trái so với quy định của pháp luật như: Ngân
hàng VPBank có các phương thức cho vay như sau:
Cho vay theo dự án đầu tư
Cho vay hợp vốn
Cho vay trả góp
Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng
Cho vay thông qua nghiệp vụ thẻ tín dụng
Cho vay theo hạn mức thấu chi
Các phương thức cho vay khác
1.2. Những vấn đề chung về cho vay trả góp
1.2.1. Khái niệm về cho vay trả góp
Cho vay trả góp là hình thức tín dụng, theo đó ngân hàng cho phép
khách hàng trả gốc làm nhiều lần trong thời hạn tín dụng đã thoả thuận.
Phạm Thị Hoài Thu Tài chính công 46
13
Chuyên đề tốt nghiệp
Theo đúng định nghĩa của ngân hàng nhà nước, thì khoản cho vay trả
góp là khoản vay mà toàn bộ tiền lãi được tính theo dư nợ ban đầu, cộng với
nợ gốc và chia đều cho các kỳ trả nợ (lãi gộp).
Theo quy chế cho vay của một số ngân hàng ví dụ như VPBank,
VPBank quy định thêm hình thức cho vay trả góp là hình thức mà tiền lãi
được tính trên dư nợ thực tế, tiền gốc trả dần làm nhiều kỳ (lãi theo dư nợ
thực tế).
1.2.2. Đặc điểm của cho vay trả góp
1.2.2.1. Đối tượng cho vay trả góp
Cho vay trả góp thường được áp dụng đối với các khoản vay trung và
dài hạn, tài trợ cho hàng lâu bền hay tài sản cố định như: nhà, đất, ô tô…Đối
tượng cho vay chủ yếu của hoạt động này là các cá nhân, hộ gia đình có thu
hoạt động tín dụng nhưng cũng tiềm ẩn rất nhiều rủi ro. Bên cạnh những rủi
ro khách quan như thiên tai, lũ lụt…Hoạt động này cũng tồn tại những rủi ro
như:
Khách hàng vay trả góp thường thế chấp bằng chính hàng hoá được
hình thành từ vốn vay. Do vậy, ngân hàng phải đối mặt với rủi ro cao hơn các
hình thức cho vay khác vì hàng hoá được hình thành từ vốn vay này rất có thể
bị hao mòn, giảm giá trị sau một thời gian sử dụng.
Mặt khác, khả năng trả nợ của khách hàng lại phụ thuộc vào thu nhập
đều đặn của họ. Nếu khách hàng bị ốm đau, mất việc hay kinh doanh gặp khó
khăn thì thu nhập của họ bị giảm sút, ảnh hưởng đến khả năng thu hồi nợ của
ngân hàng.
1.2.2.4. Đặc điểm về lãi suất cho vay .
Lãi suất cho vay chính là chi phí mà người đi vay phải trả cho ngân
hàng cho việc sử dụng vốn. Cho vay trả góp có rủi ro cao vì thế lãi suất cho
vay trả góp thường là lãi suất cao nhất trong khung lãi suất của các ngân hàng.
Phạm Thị Hoài Thu Tài chính công 46
15
Chuyên đề tốt nghiệp
1.2.2.5. Đặc điểm về khả năng sinh lời
Cho vay trả góp thường có lãi suất cao nhất trong khung lãi suất. Do
đó, nó là một hoạt động đem lại lợi nhuận cao cho các ngân hàng. Thêm vào
đó, nhu cầu mua sắm và tiêu dùng của khách hàng không ngừng tăng lên cùng
với sự phát triển của xã hội. Vì thế, cho vay trả góp được đánh giá là một hoạt
động có triển vọng phát triển trong tương lai của các ngân hàng thương mại.
Quy trình cho vay trả góp
Mỗi ngân hàng tự thiết kế cho mình một quy trình tín dụng riêng tuỳ
thuộc vào nhiều yếu tố như: đặc điểm khách hàng, khả năng tổ chức quản
lý…Tuy nhiên chúng đều có những công việc chính dưới đây. Cho vay trả
góp cũng có quy trình giống như vậy.
Bước 1: Tiếp nhận hồ sơ và thu thập thông tin về khách hàng
phải lôgic, thống nhất, có nội dung về điều kiện vay, mục đích sử dụng tiền
vay, hình thức vay, lãi suất vay, thời hạn, hình thức đảm bảo, giá trị tài sản
đảm bảo, phương thức trả nợ gốc, lãi và các cam kết được thoả thuận giữa
ngân hàng và khách hàng.
Bước 4: Thực hiện hợp đồng
Khi hợp đồng tín dụng được ký kết, cán bộ tín dụng sẽ hướng dẫn
khách hàng làm các thủ tục cần thiết để rút vốn theo thoả thuận trong hợp
đồng. Trong quá trình khách hàng sử dụng vốn, cán bộ tín dụng phải thường
xuyên theo dõi việc sử dụng vốn vay của khách hàng có đúng mục đích vay
vốn không. Khách hàng có trả nợ đúng hạn không, tình hình tài chính và sản
xuất kinh doanh của khách hàng thế nào. Các khoản vay có dấu hiệu nghi
ngờ, cần xem xét thận trọng để có phương án xử lý kịp thời.
Kết thúc hợp đồng tín dụng, cán bộ tín dụng có những đánh giá tổng
kết và lưu trữ thông tin về khách hàng để có thể sử dụng khi cần thiết.
Phạm Thị Hoài Thu Tài chính công 46
17
Chuyên đề tốt nghiệp
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHO VAY TRẢ GÓP MUA Ô TÔ
TẠI CHI NHÁNH VPBANK HOÀN KIẾM
2.1. TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CHUNG TẠI CHI NHÁNH VPBANK
HOÀN KIẾM.
2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển
Ngày 12/8/1993, phòng giao dịch Hoàn Kiếm được khai trương.
Đến tháng 7/2003 phòng giao dịch Hoàn Kiếm được đổi tên thành chi
nhánh VPBank Hoàn Kiếm trực thuộc chi nhánh cấp 1 VPBank Hà Nội.
Ngày 8/10/2007, VPBank Hoàn Kiếm đã chính thức khai trương trụ sở
mới tại địa chỉ số 3 Hai Bà Trưng, Phường Tràng Tiền, Quận Hoàn Kiếm, Hà
Nội trực thuộc chi nhánh VPBank Ngô Quyền.
Với địa điểm mới được đầu tư, khang trang hiện đại, đội ngũ CBNV
nhiệt tình, chu đáo, VPBank Hoàn Kiếm hy vọng sẽ làm hài lòng mọi khách
Phòng phục vụ khách hàng bao gồm phục vụ khách hàng doanh nghiệp
và phục vụ khách hàng cá nhân.
Phục vụ khách hàng doanh nghiệp có chức năng, nhiệm vụ lập kế
hoạch cho vay, thu nợ của chi nhánh theo quý, năm, tiếp xúc hướng dẫn
khách hàng bán chéo sản phẩm, dịch vụ ngân hàng tư vấn, góp ý và đề xuất
sản phẩm dịch vụ phục vụ yêu cầu của khách hàng; kiến nghị dịch vụ, sản
phẩm mới phục vụ nhu cầu của khách hàng; thường xuyên thu thập thông tin,
tìm hiểu về khách hàng; đồng thời thực hiện việc tiếp nhận hồ sơ vay, bảo
lãnh, chịu trách nhiệm về mặt pháp lý liên quan đến hoạt động tín dụng cho
khách hàng; giám sát, kiểm tra tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của
khách hàng thường xuyên khi cấp tín dụng; đôn đốc thu hồi nợ, gia hạn nợ
hoặc đề xuất chuyển món vay sang món nợ khó đòi…
Phạm Thị Hoài Thu Tài chính công 46
19
Chuyên đề tốt nghiệp
Phục vụ khách hàng cá nhân có chức năng nghiên cứu thị trường, tìm
hiểu nhu cầu khách hàng, đề xuất chính sách tiếp thị khách hàng theo từng đối
tượng, chú trọng các khách hàng từ tầng lớp trung lưu trở lên, lập kế hoạch
tiếp thị và thực hiện kế hoạch đã được duyệt, nghiên cứu đề xuất các hình
thức quảng cáo thu hút khách hàng cá nhân. Đồng thời cũng tiếp xúc hướng
dẫn khách hàng bán chéo sản phẩm, tư vấn góp ý, đề xuất, kiến nghị sản
phẩm, dịch vụ mới phục vụ yêu cầu khách hàng.
2.1.4. Tình hình huy động vốn
Huy động vốn là một công tác vô cùng quan trọng đối với hoạt động
của bất kỳ một ngân hàng nào. Bởi vì, vốn phản ánh quy mô hoạt động và khả
năng kinh doanh của doanh nghiệp đó. Với mục tiêu bảo đảm vốn cho vay, an
toàn thanh khoản và tăng tài sản Có, nâng cao vị thế của VPBank trong hệ
thống ngân hàng. Do đó, trong các năm qua, chi nhánh VPBank Hoàn Kiếm
đã tích cực đẩy mạnh công tác huy động vốn từ khu vực dân cư đến các khu
vực liên ngân hàng bằng cách đưa ra những chương trình khuyến mại hấp
235.14
2
47.82
9
47.31
%
86.217 57.89%
Phân loại theo kỳ
hạn
101.096 148.925 235.142 47.829 47.31% 86.217 57.89%
Ngắn hạn 68.801 107.226 179.835 38.425 55.85% 72.609 67.72%
Trung và dài hạn 32.295 41.699 55.307 9.404 29.12% 13.608 32.63%
Phân loại theo
khách hàng
101.096 148.925 235.142 47.829 47.31% 86.217 57.89%
Tiền gửi của dân
cư và các TCKT
90.569 135.522 215.408 44.953 49.63% 79.886 58.95%
Tiền gửi của các
TCTD khác
10.527 13.403 19.734 2.876 27.32% 6.331 47.24%
Nguồn: Báo cáo tình hình huy động vốn tại VPBank Hoàn Kiếm
Nhìn vào bảng số liệu trên ta thấy, tình hình huy động vốn tại VPBank
Hoàn Kiếm tăng dần qua các năm. Cụ thể là:
Tổng nguồn vốn huy động trong năm 2006 là 148.925 triệu đồng, tăng
so với năm 2005 là 47.829 triệu với mức tăng 47.31%. Con số này tiếp tục
tăng lên là 235.142 triệu vào năm 2007, tăng so với nguồn huy động năm
2006 là 86.217 triệu với mức tăng 57.89%. Điều này cho thấy hoạt động huy
động vốn của chi nhánh VPBank Hoàn Kiếm rất có hiệu quả, đang trên đà
phát triển.
hàng được cầm cố tại kho mình, …nên hoạt động tín dụng vẫn trên đà phát
triển. Điều này có thể thấy trong bảng dưới đây:
BẢNG 2.2: TÌNH HÌNH TÍN DỤNG CỦA CHI NHÁNH VPBANK
Phạm Thị Hoài Thu Tài chính công 46
22
Chuyên đề tốt nghiệp
HOÀN KIẾM
( Đơn vị: triệu đồng )
Chỉ tiêu 2005 2006 2007
So sánh 06/05 So sánh 07/06
Số
tiền
Tốc độ
tăng
(%)
Số
tiền
Tốc độ
tăng
(%)
1 2 3 4 5 6 7 8
Tổng dư nợ 91.385
102.68
5
116.78
7
11.30
0
12.37
%
Nợ trung, dài hạn năm 2006 là 86.874 triệu đồng tăng 3.703 triệu so với
năm 2005 với mức tăng là 4.45%. Đến năm 2007, nợ trung và dài hạn đã tăng
lên là 91.264 triệu, tăng 4.390 triệu so với năm 2006 với mức tăng 5.05%.
Tổng doanh số cho vay của VPBank Hoàn Kiếm cũng không ngừng
tăng lên, từ mức 125.793 triệu đồng năm 2005 tăng lên 146.475 triệu đồng
năm 2006 rồi lên 171.369 triệu vào năm 2007. So với năm 2006, tổng doanh
số cho vay năm 2007 tăng 28.894 triệu với mức tăng 17%. Trong đó, đáng
Phạm Thị Hoài Thu Tài chính công 46
23
Chuyên đề tốt nghiệp
lưu ý là:
Doanh số cho vay của các tổ chức, cá nhân năm 2006 đạt 114.251 triệu
đồng tăng 18.926 triệu so với năm 2005 với mức tăng 19.85%. Năm 2007 đạt
137.095 triệu, tăng so với năm 2006 là 22.845 triệu đồng, tăng 20%.
Doanh số cho vay các tổ chức tín dụng cũng tăng qua các năm từ
30.468 triệu năm 2005 tăng lên 32.225 triệu năm 2006 và đạt 34.274 triệu
đồng năm 2007.
Đây là kết quả từ sự cố gắng nỗ lực của toàn cán bộ nhân viên ngân
hàng, đánh dấu sự phát triển của VPBank Hoàn Kiếm trong điều kiện hoạt
động tín dụng còn nhiều khó khăn. Đặc biệt, chi nhánh vẫn duy trì một chất
lượng tín dụng tốt. Tỷ lệ nợ xấu của chi nhánh giảm dần trong 3 năm, đến
cuối tháng 12/2007 tỷ lệ này là 1.07%. Có thể thấy qua bảng số liệu dưới đây:
BẢNG 2.3: TÌNH HÌNH NỢ XẤU CỦA CHI NHÁNH VPBANK – HOÀN
KIẾM NĂM 2007
( Đơn vị: triệu đồng )
Chỉ tiêu 2005 2006 2007
I. Tổng dư nợ 91.385 102.685 116.787
II. Các khoản nợ xấu 1.885 1.602 1.253
1. Nợ dưới tiêu chuẩn. 1.885 1.602 1.253
2. Nợ nghi ngờ
Kiếm cũng rất phát triển. Cán bộ nhân viên chi nhánh đã nỗ lực giới thiệu sản
phẩm thẻ mới với nhiều tính năng hiện đại tới các đối tượng khách hàng và
thu hút số lượng khách hàng ngày càng tăng lên.
Phạm Thị Hoài Thu Tài chính công 46
25