Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
LỜI MỞ ĐẦU
Ở mỗi nền kinh tế quốc gia hay lãnh thổ, các doanh nghiệp vừa và nhỏ
có thế giữ những vai trò với mức độ khác nhau. Ở Việt Nam số doanh nghiệp
vừa và nhỏ chiếm trên 90% tổng số doanh nghiệp trên cả nước, đóng góp
khoảng 40% GDP, 37% tổng vốn đầu tư toàn nền kinh tế. Đây là bộ phận
kinh tế năng động, giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế và là trụ cột của
nền kinh tế địa phương. Nhận ra ý nghĩa quan trọng của doanh nghiệp vừa và
nhỏ trong sự phát triển của đất nước, chính phủ có những chính sách khuyến
khích, hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ phát triển. Nhưng trên thực tế, khối
doanh nghiệp vừa và nhỏ này còn gặp rất nhiều trở ngại trong quá trình giải
quyết những tồn tại của bản thân doanh nghiệp, những khó khăn từ môi
trường xung quanh, cũng như trong quá trình hội nhập nền kinh tế. Một trong
những vấn đề của doanh nghiệp vừa và nhỏ là vấn đề thiếu vốn hoạt động,
thiếu vốn để đổi mới công nghệ và nguồn vốn tài trợ chủ yếu cho các doanh
nghiệp vừa và nhỏ là nguồn vốn từ Chính phủ thông qua Ngân hàng thương
Mại. Sau một thời gian thực tập tại chi nhánh Ngân hàng Ngoại thương Thành
Công 30-32 Láng Hạ Hà Nội, em đã nghiên cứu, tìm hiểu tình hình hoạt động
của chi nhánh và đặc biệt quan tâm đến vấn đề phát triển hoạt động cho vay
doanh nghiệp vừa và nhỏ nhằm bổ sung thêm nguồn vốn cho khối doanh
nghiệp này.
Với mục đích như trên, trong chuyên đề tốt nghiệp của mình, em đã
chọn đề tài nghiên cứu: “Phát triển hoạt động cho vay doanh nghiệp vừa và
nhỏ tại chi nhánh Ngân hàng Ngoại thương Thành Công”. Ở đề tài này em
sẽ làm rõ những vấn đề cơ bản về doanh nghiệp vừa và nhỏ, thực trạng hoạt
động cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ tại chi nhánh Ngân hàng Ngoại
Lª Hång V©n Líp: Ng©n hµng 45B
1
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
thương Thành Công và đưa ra một số giải pháp, kiến nghị nhằm phát triển
hoạt động cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ tại chi nhánh Ngân hàng Ngoại
VCB : Vietcombank
TCTD : Tổ chức tín dụng
HĐQT : Hội đồng quan trị
CBTD : Cán bộ tín dụng
NQH : Nợ quá hạn
TSCĐ : Tài sản cố định
TSBĐ : Tài sản bảo đảm
XHCN : Xã hội chủ nghĩa
Lª Hång V©n Líp: Ng©n hµng 45B
3
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
Các bảng dữ liệu
1) Bảng 1: Tình hình huy động vốn tại chi nhánh NHNT Thành Công
(trang 37)
2) Bảng 2: Tình hình cho vay tại chi nhánh NHNT Thành Công (trang 38)
3) bảng 3: Dư nợ cho vay các DNV&N tại chi nhánh NHNTTC (trang 52)
4) Bảng 4: Cơ cấu dư nợ cho vay theo thời hạn tại chi nhánh NHNTTC
(trang 54)
5) bảng 5: Cơ cấu dư nợ cho vay theo thành phần kinh tế tại chi nhánh
NHNT Thành Công (trang 55)
6) Bảng 6: Tình hình nợ quá hạn của chi nhánh NHNT (trang 57)
Các biểu đồ
1) Biểu đồ 1: Dư nợ cho vay phân theo quy mô của chi nhánh NHNTTC
(trang 53)
2) Biểu đồ 2: Cơ cấu dư nợ cho vay theo thời hạn tại chi nhánh NHNTTC
(trang 54)
3) Biểu đồ 3: Cơ cấu dư nợ cho vay DNV&N theo thành phần kinh tế tại
chi nhánh NHNTTC (trang 56)
Sơ đồ
5
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
Thứ nhất, cho vay là hoạt động cơ bản kết nối những nguồn vốn nhàn
rỗi với những người thực sự có nhu cầu về vốn trong nền kinh tế. Hoạt động
này làm tăng thu nhập cho những người chưa có kế hoặch đầu tư nói chung và
những khoản tiền nhàn rỗi nói riêng, đồng thời làm tăng khả năng hoạt động
của những người có nhu cầu về vốn là doanh nghiệp hay cá nhân. Có thể nói,
hoạt động cho vay tạo ra sự phát triển chung của cả nền kinh tế.
Thứ hai, bằng việc cho vay ngân hàng đã tạo ra khối lượng tiền tệ lớn
trong nền kinh tế. Khi ngân hàng cho vay, số dư trên tài khoản tiền gửi thanh
toán của khách hàng tăng lên, khách hàng có thể dùng để mua hàng và dịch
vụ. Toàn bộ hệ thống ngân hàng đã tạo ra khối lượng tiền lớn khi các khoản
tiền gửi được mở rộng từ ngân hàng này đến ngân hàng khác trên cơ sở cho
vay. Khi khách hàng tại một ngân hàng sử dụng khoản tiền vay để chi trả thì
sẽ tạo nên khoản thu ( tức làm tăng số dư tiền gửi) của một khách hàng khác
tại một ngân hàng khác tạo ra các khoản cho vay mới. Trong khi không có
một ngân hàng riêng lẻ nào có thể cho vay lớn hơn dự trữ dư thừa, toàn bộ hệ
thống ngân hàng có thể tạo ra khối lượng tiền gửi (tạo phương tiện thanh
toán) gấp bội thông qua hoạt động cho vay (tạo tín dụng).
Thứ ba, bằng việc cho vay với lãi suất ưu đãi cho một dự án phát triển
mang tính chất chiến lược cũng là hoạt động tài trợ nằm trong chính sách của
chính phủ để phát triển đất nước.
Thứ tư, cho vay là hoạt động mang lại thu nhập chính, lợi nhuận cao
cho ngân hàng, dùng chi trả các khoản lãi tiền gửi huy động và các khoản chi
phí quản lý, trang thiết bị, tiền lương và các khoản chi phí khác để duy trì hoạt
động của ngân hàng.
Lª Hång V©n Líp: Ng©n hµng 45B
6
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
1.1.2.Các hình thức cho vay của ngân hàng
kiểm soát từng món vay tách biệt. Tiền cho vay dựa vào giá trị của tài sản
đảm bảo.
Cho vay theo hạn mức tín dụng: Đây là nghiệp vụ tín dụng theo đó
ngân hàng thoả thuận cấp cho khách hàng hạn mức tín dụng. Hạn mức tín
dụng có thể cấp cho cả kì hoặc cuối kì. Đó là số dư tối thiểu tại thời điểm tính.
Hạn mức tín dụng được cấp trên cơ sở kế hoặch sản xuất kinh doanh,
nhu cầu vốn và nhu cầu vay vốn của khách hàng. Trong kì khách hàng có thể
thực hiện vay trả nhiều lần, song dư nợ không vượt quá hạn mứac tín dụng.
Mối lần vay khách hàng chỉ cần trình bày phương án sử dụng tiền vay, nộp
các chứng từ chứng minh đã mua hàng hoặc dịch vụ và nêu yêu cầu vay. Sau
khi kiểm tra tính chất hợp pháp và hợp lệ của chứng từ, ngân hàng sẽ phát tiền
cho khách hàng.
Đây là hình thức vay thuận tiện cho khách hàng vay mượn thường
xuyên, vốn vay tham gia thường xuyên vào quá trình sản xuất kinh doanh.
Ngân hàng không ấn định ngày trả nợ mà sẽ thu nợ khi khách hàng có thu
nhập.. do đó tạo tính chủ động trong quản lý ngân quỹ cho khách hàng. Tuy
nhiên do các lần vay không tách biệt thành các kì hạn nợ cụ thể nên ngân
hàng khó có thể kiểm soát hiệu quả sử dụng từng lần vay.
Cho vay luân chuyển : là nghiệp vụ cho vay dựa trên luân chuyển hàng
hoá. Doanh nghiệp khi mua hàng có thể thiếu vốn, ngân hàng có thể cho vay
để mua hàng và sẽ thu nợ khi doanh nghiệp bán hàng. Việc cho vay dựa trên
luân chuyển của hàng hoá nên cả ngân hàng lẫn doanh nghiệp đều phải
nghiên cứu kế hoặch lưu chuyển hàng hoá để dự phòng ngân quỹ trong thời
Lª Hång V©n Líp: Ng©n hµng 45B
8
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
gian tới. Khi khách hàng chỉ cần gửi đến ngân hàng các chứng từ hoá đơn
nhập hàng và số tiền cần vay. Đồng thời khách hàng phải đảm bảo rằng tất cả
số tiền cần vay sẽ được trả cho người bán và mọi khoản thu bán hàng đều
dùng trả vào tài khoản tiền vay trước khi trích trả lại tài khoản tiền gửi thanh
hạn mức tín dụng dự phòng, mức phí trả cho hạn mức tín dụng dự phòng.
Cho vay hợp vốn: Một nhóm tổ chức tín dụng cùng cho vay đối với một
dự án vay vốn hoặc phương án vay vốn của khách hàng, trong đó có một tổ
chức tín dụng làm đầu mối dàn xếp, phối hợp với một tổ chức tín dụng khác.
Việc cho vay hợp vốn thực hiện theo quy định của Quy chế cho vay của các
tổ chức tín dụng và Quy chế đồng tài trợ của các tổ chức tín dụng do Thống
đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành.
Hình thức cho vay này thường áp dụng đối với những dự án quy mô
lớn, một ngân hàng không dủ khả năng cho vay đồng thời cũng không thể
chiu đựng được rủi ro khi dự án không thành công. Vì vậy khi nhận được dự
án vay vốn, ngân hàng này liên kết với nhiều ngân hàng khác để cùng tài trợ
cho dự án.
Cho vay khác: Ngoài các phương thức trên, ngân hàng có thể cho vay
theo các phương thức mà pháp luật không cấm, phù hợp với các quy định tại
các Quy chế cho vay của các tổ chức tín dụng, điều kiện kinh doanh của tổ
chức tín dụng và đặc điểm của khách hàng vay. Ví dụ như cho vay theo dự án
đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ các dự án đầu tư phục vụ đời
sống; cho vay gián tiếp - tức là ngân hàng cho vay thông qua các tổ chức
trung gian tổ, đội, nhóm như nhóm sản xuất, Hội nông dân, Hội Cựu chiến
binh, Hội Phụ nữ…
Lª Hång V©n Líp: Ng©n hµng 45B
10
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
1.1.2.2. Theo thời hạn cho vay
Thời hạn cho vay là khoảng thời gian tính từ khi khách hàng nhận vốn
vay cho đến thời điểm khách hàng trả hết nợ gốc và lãi vốn vay đã được thoả
thuận trong hợp đồng tín dụng giữa tổ chức tín dụng và khách hàng. Theo đó
thì cho vay có thể chia làm thành hai loại:
Cho vay ngắn hạn: là các khoản cho vay có thời hạn cho vay đến 12
tháng. Hơn một nửa số khoản vay thương mại của ngân hàng được thực hiện
Cho vay có tài sản đảm bảo: đây là hình thức cho vay có đảm bảo
đối vật, tài sản có thể được đảm bảo theo hình thức thế chấp hoặc cầm cố. Các
tài sản đảm bảo thường là giấy tờ có giá, hàng hoá trong kho, nhà cửa, thiết
bị…Ngân hàng chỉ chấp nhận những tài sản hợp pháp, có khả năng bán được
làm đảm bảo.
+ Cho vay có tài sản đảm bảo theo hình thức thế chấp: là hình
thức theo đó người nhận tài trợ phải chuyển các giấy tờ chứng nhận sở hữu
(hoặc sử dụng) của các tài sản đảm bảo sang ngân hàng nắm giữ trong thời
gian cam kết song vẫn được quyền sử dụng tài sản với cam kết giữ nguyên
hiện trạng.
Đảm bảo bằng thế chấp thuận lợi cho người đi vay có thể sử dụng
tài sản đảm bảo để thực hiện hoạt động kinh doanh, tuy nhiên có thể gây khó
khăn cho ngân hàng trong việc quản lý và kiểm soát tài sản đảm bảo bởi quá
trình sử dụng sẽ làm biến dạng tài sản hoặc khách hàng có thể lợi dụng phân
tán, làm giảm giá trị tài sản, gây thiệt hại cho ngân hàng. Vì vậy ngân hàng
phải tăng khả năng đánh giá, xem xét kĩ vật thế chấp.
Lª Hång V©n Líp: Ng©n hµng 45B
12
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
+ Cho vay có tài sản đảm bảo theo hình thức cầm cố : là hình thức
cho vay theo đó người nhận tài trợ của ngân hàng phải chuyển quyền kiểm
soát tài sản đảm bảo sang cho ngân hàng trong thời gian cam kết ( thường gọi
là thời gian tài trợ). Ngân hàng quản lý toàn bộ tài sản đó, mọi chi phí liên
quan đến việc quản lý do người vay chịu.
Các tài sản cầm cố thưòng gọn nhẹ, dễ quản lý, ít chiu ảnh hưởng của
các yếu tố môi trưòng tự nhiên. Cầm cố thích hợp với những tài sản ngân
hàng có thể kiểm soát và bảo quản tương đối chắc chắn, đồng thời viêc ngân
hàng nắm giữ không ảnh hưởng đến quá trình hoạt động của người nhận tài
trợ. Khi tài trợ dựa trên đảm bảo bằng cầm cố, ngân hàng kiểm tra tính hợp lệ
hợp pháp của vật cầm cố, sau đó ngân hàng cùng với khách hàng định giá vật
là những doanh nghiệp vừa và nhỏ. Việc phân loại như thế này sẽ giúp cho
việc quản lý, việc cho vay đối với những đối tượng này có hiệu quả hơn
Sau đây là những vấn đề nghiên cứu liên quan đến DNV&N
1.2.Những vấn đề cơ bản về doanh nghiệp vừa và nhỏ
1.2.1.Khái niệm DNV&N
Trong phần các hình thức cho vay của ngân hàng thì doanh nghiệp
vừa và nhỏ được đề cập dưới tiêu thức phân loại là đối tượng cho vay. Trên
thực tế, ở các quốc gia khác nhau, ở các địa phương khác nhau, ở các thời
điểm kinh tế xã hội khác nhau thì DNV&N lại được xác định trên những cơ
sở về quy mô vốn, số lượng lao động khác nhau. Có nghĩa là mặc dù được
xác định trên cơ sở những số tuyệt đối ( quy mô vốn, số lượng lao động)
nhưng khái niệm DNV&N lại vẫn mang tính chất tương đối. Vậy nên khi nói
đến một doanh nghiệp là lớn hay vừa và nhỏ thì ta phải đặt doanh nghiệp vào
Lª Hång V©n Líp: Ng©n hµng 45B
14
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
những điều kiện cụ thể là quốc gia nào, địa phương nào, thời điểm nào, tình
hình kinh tế nào, hoạt đông trong lĩnh vực kinh doanh nào.
Qua nghiên cứu và tìm hiểu cho thấy có rất nhiều tiêu thức phân loại
DNV&N phổ biến như số lượng lao động thường xuyên, số vốn sản xuất kinh
doanh, doanh thu, lợi nhuận, giá trị gia tăng..trong đó thì hai tiêu thức được sử
dụng nhiều nhất là quy mô vốn và lao động.
Ở Việt Nam: theo Nghị định 90/2001/NĐ-CP ngày 23/11 của Chính phủ
về trợ giúp phát triển DNV&N đã đưa ra khái niệm: “ DNV&N là những cơ
sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký theo pháp luật hiện hành, có số
vốn đăng kí không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm
không quá 300 người”
Như vậy, DNV&N ở Việt Nam bao gồm:
- Các doanh nghiệp thành lập và hoạt đông theo Luật doanh nghiệp, Luật
doanh nghiệp Nhà nước.
trong rất nhiều lĩnh vực, nhạy cảm với sự biến động của thị trường, DNV&N
cung cấp ngày càng lớn và đa dạng sản phẩm phục vụ cho đời sống và xuất
khẩu. Những lĩnh vực hoạt động chính của các DNV&N là ngành nghề thủ
công truyền thống, mỹ nghệ, giầy da, may mặc, sản xuất gia công chế biến,
đại lý khai thác những sản phẩm cho xuất khẩu. Đây là một yếu tố đặc biệt
nổi bật của các DNV&N bởi sự phân bố của các DNV&N là rộng khắp trên
cả nước nên có thể khai thác nguồn nguyên liệu riêng lẻ, trong khi đó các
doanh nghiệp lớn thì chỉ thường tập trung khai thác nguồn nguyên liệu, hạn
chế về khu vực địa lý nên khó tiếp cận với nguồn nguyên liệu. Trên thực tế,
nhiều DNV&N lại trở thành đầu mối thu gom nguyên vật liệu cho các doanh
nghiệp lớn hoặc thực hiện một số công đoạn khác như chế biến, đóng gói…
Lª Hång V©n Líp: Ng©n hµng 45B
16
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
các công đoạn dịch vụ khác cho doanh nghiệp lớn. Vậy ở một khía cạnh khác,
DNV&N có vai trò tích cực đối với các doanh nghiệp lớn.
Thứ ba, DNV&N góp phần lớn vào sự phát triển kinh tế địa
phương, khai thác tiềm năng thế mạnh của vùng.
Chỉ có các DNV&N hoạt động trên khắp các vùng mới có điều
kiện hiểu rõ về tiềm năng cũng như thế mạnh riêng có của các vùng. Cùng với
các lĩnh vực hoạt động chính vốn có cộng với sự năng động của chính mình
thì các DNV&N có những điều kiện và cơ sở để phát huy những thế mạnh đó
của vùng. Ngoài ra, các DNV&N còn có điều kiện khai thác triệt để nguồn
nguyên nhiên liệu trong vùng, tránh tình trạng lãng phí cho xã hội. Thêm vào
đó, các DNV&N cũng góp phần khôi phục, duy trì và phát triển các ngành
nghề thủ công truyền thống bởi mô hình DNV&N phù hợp với điều kiện sản
xuất kinh doanh của làng nghề thủ công.
Thứ tư, là một bộ phận kinh tế năng động nên các DNV&N góp
phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, thúc đẩy đô thị
hoá.
các DNV&N .
Thứ hai, với số lượng lao động không nhiều, việc tổ chức sản xuất
cũng như bộ máy quản lý, kiểm tra, giám sát trong các DNV&N tương đối
gọn, không có quá nhiều khâu trung gian. Đặc điểm này tiết kiệm chi phí
quản lý cho doanh nghiệp và làm tăng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
Ngoài ra, với số lượng lao động không nhiều, mối quan hệ giữa người quản lý
và người lao động trong DNV&N tương đối chặt chẽ, có thể dễ dàng trao đổi
Lª Hång V©n Líp: Ng©n hµng 45B
18
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
ý kiến, nhờ đó người lãnh đạo có thể nắm bắt được trình độ chuyên môn cũng
như nguyện vọng, tâm tư của người lao động để phân công công tác hợp lý.
Các quyết định, chính sách, tư tưởng của người lãnh đạo sẽ nhanh chóng được
tiếp cận và triển khai bởi người lao động.
Thứ ba, phần lớn các chủ DNV&N là nhừng người có tính sáng tạo,
bản thân họ phải vất vả gây dựng sự nghiệp trong cơ chế thị trường nên họ có
xu hướng tạo ra tính năng động cho các DNV&N, thích nghi trước những
thay đổi của nền kinh tế. Ngoài ra, số lượng doanh nghiệp quá lớn, Nhà nước
không kham nổi, những điều khoản ưu đãi mà Nhà nước dành cho các
DNV&N là không dễ dàng đạt được. Hiểu được tình hình đó, DNV&N phải
đề cao tinh thần tự lực, tự cường cao, đi lên trong cạnh tranh.
Thứ tư, do vốn đầu tư nhỏ, vốn thiết bị công nghệ không lớn, các
DNV&N dễ dàng đổi mới thiết bị, công nghệ và đối tượng kinh doanh để
nâng cao chất lưọng, hạ giá thành sản phẩm. Ngoài ra, DNV&N có thể dễ
dàng chuyển hướng kinh doanh kịp thời khi gặp những điều kiện bất lợi trong
kinh doanh và nền kinh tế có những biến động bất thường.
Những hạn chế, khó khăn của doanh nghiệp vừa và nhỏ
Thứ nhất, điều kiện thành lập nên các DNV&N là rất đơn giản, không
đòi hỏi quá cao nên nhìn chung trình độ kĩ năng quản lý, trình độ tay nghề
công nhân còn hạn chế. Hiện nay, khoảng một nửa số chủ doanh nghiệp chưa
tiếp với khách hàng để xuất khẩu, hầu như phải thông qua đối tác thứ ba …
Nhìn chung năng lực cạnh tranh của các DNV&N là còn rất yếu.
Thứ tư, nguồn vốn tiếp cận của các DNV&N là rất hạn chế. Đối với
nguồn vốn vay từ bạn bè, sử dụng tín dụng thương mại của các đối tác kinh
doanh( mua trả chậm, nợ gối đầu…) thì thường có lãi suất cao,rủi ro lớn,
không ổn định, số lượng vốn nhỏ, phân tán không đáp ứng được yêu cầu mua
sắm tài sản cố định, mở rộng sản xuất kinh doanh. Đối với nguồn vốn vay từ
Lª Hång V©n Líp: Ng©n hµng 45B
20
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
các ngân hàng thương mại và nguồn vốn viện trợ của các tổ chức trong và
ngoài nước, các DNV&N gặp rất nhiều khó khăn trong việc tiếp cận các
khoản tín dụng ngắn hạn, trung hạn và dài hạn đặc biệt là các khoản tín dụng
trung và dài hạn. Khi vay vốn thì các DNV&N luôn được yêu cầu phải có thế
chấp hoặc không thì phải có 2-3 năm làm ăn có lãi và dự án có khả thi hay
không. Ngoài ra các khoản vay có bảo lãnh rất hiếm khi được dành cho các
DNV&N. Bên cạnh đó các ngân hàng thường mong muốn giữ mối quan hệ
với một số lượng nhỏ các doanh nghiệp lớn thay vì một số lớn các DNV&N
và tư tưởng thời bao cấp vẫn còn tồn tại nên ngân hàng chủ yếu cho các
doanh nghiệp Nhà nước vay vì cảm thấy có sự đảm bảo hơn các DNV&N
ngoài quốc doanh. Cũng chính vì thiếu vốn mà các DNV&N không có điều
kiện mua đất đai, cơ sỏ hạ tầng làm mặt bằng sản xuất kinh doanh như các
doanh nghiệp lớn, họ chủ yếu phải đi thuê để hoạt động.
Như vậy đối với các DNV&N thì vấn đề lớn nhất chính là vấn đề thiếu
vốn. Giải quyết được vấn đề này đồng nghĩa với việc nâng cao trình độ công
nghệ, năng lực cạnh tranh cho các DNV&N .
1.2.4. Sự cần thiết phát triển hoạt động cho vay DNV&N
Thứ nhất, Doanh nghiệp vừa và nhỏ - Thị trường tiềm năng với các
Ngân hàng.
Số liệu thống kê gần đây cho thấy các Doanh nghiệp vừa và nhỏ đang là
là các vệ tinh gắn kết, hỗ trợ và thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp lớn
trong nền kinh tế.
Phát triển DNV&N đang là vấn đề được Đảng và Nhà nước rất chú
trọng, được coi là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong chiến lược phát
triển kinh tế xã hội của nước ta. Trong tương lai, môi trường hoạt động của
các doanh nghiệp này sẽ được cải thiện, các chính sách hỗ trợ sẽ được thực thi
Lª Hång V©n Líp: Ng©n hµng 45B
22
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
tốt hơn, có hiệu quả hơn và do đó các DNV&N sẽ có điều kiện phát triển
mạnh mẽ hơn nữa.
Thứ hai, các ưu thế của nhiều doanh nghiệp lớn đang giảm sút
-Việt Nam đang trong xu hướng xoá bỏ độc quyền, tạo lập môi trường cạnh
tranh bình đẳng. Trước sức ép của hội nhập, qui mô của một số Tổng công ty
đang độc quyền hiện nay sẽ thu hẹp, song song với việc cổ phần hoá từng phần
hoặc toàn bộ các Tổng công ty này thì các công ty mới, nhỏ hơn cùng ngành ra
đời.
-Chính bản thân một số doanh nghiệp được coi là lớn hiện nay không có tiềm
lực kinh tế thực sự, điển hình là các Tổng Công ty khối Giao thông- Xây dựng
cơ bản.
-Khu vực Nhà nước, nơi tập trung hầu hết các doanh nghiệp lớn hiện nay, đã
và đang bộc lộ tính kém hiệu quả.
Thứ ba, những lợi ích của ngân hàng từ phát triển cho vay đối với
DNV&N
Các DNV&N từ trước đến nay vẫn bị coi là nhóm khách hàng có độ
rủi ro và chi phí giao dịch lớn. Tuy nhiên nếu thực hiện tốt công tác thẩm định
và sàng lọc thì ngân hàng có thể duy trì một danh mục khách hàng hiệu quả.
Việc ngân hàng phát triển cho vay đối với DNV&N đem lại các lợi ích
cơ bản sau :
-Phân tán rủi ro : Do số lượng khách hàng DNV&N lớn, quy mô từng khoản
khích các doanh nghiệp tham gia vào quá trình sử dụng vốn của ngân hàng.
Tuy nhiên trong một só trường hợp, nền kinh tế lại phát triển quá nóng,
NHTW muốn kiềm chế sự phát triển đó hoặc tình hình các doanh nghiệp hoạt
động kém, ngân hàng cần phải nâng cao chất lượng tín dụng… thì chính sách
Lª Hång V©n Líp: Ng©n hµng 45B
24
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
tín dụng sẽ bi thắt chặt hơn, gây khó khăn trong quá trình tiếp cận vốn ngân
hàng của doanh nghiệp.
Thứ hai, một nhân tố khác cũng ảnh hưởng đến việc phát triển hoạt
động cho vay của ngân hàng đối với các DNV&N là tâm lý phân biệt cho vay
giữa doanh nghiệp lớn và DNV&N. Thực tế cho thấy rằng tỷ trọng cho vay
các DNV&N tại các ngân hàng thương mại cổ phần cao hơn so với các ngân
hàng thương mại Nhà nước trên cùng địa bàn. Tâm lý phân biệt cho vay giữa
doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp nhỏ bắt nguồn từ nguyên nhân e sợ rủi ro
và chi phí giao dịch lớn của các ngân hàng. Ngân hàng luôn đặt mục tiêu an
toàn lên hàng đầu, coi trọng chất lượng hơn số lượng, vì vậy ngân hàng luôn
có tâm lý giữ mối quan hệ với một lượng nhỏ các doanh nghiệp lớn thay vì
một số lượng lớn các DNV&N. Với lại cũng đã từng có những bài học về sự
lừa đảo của các DNV&N gây tổn thất cho ngân hàng nên họ luôn e ngại cho
các đối tượng này vay. Mặc dù hiện nay đã có rất nhiều sự thay đổi trong cách
nhìn nhận đối với các DNV&N song các NHTM Nhà nước vẫn chưa hoàn
toàn thoải mái về mặt tâm lý khi cho các DNV&N vay. Điều này cho thấy
rằng, nếu còn kéo dài tình trạng phân biệt giữa các doanh nghiệp lớn và các
DNV&N thì sẽ gây khó khăn rất lớn, cản trở hoạt động cho vay DNV&N,
đồng thời cũng cản trở sự phát triển của các DNV&N bởi loại hình doanh
nghiệp nào khi bước vào kinh doanh đều có thể gặp những rủi ro. Ngay cả các
doanh nghiệp lớn, khi thực hiện hoạt động kinh doanh đều có thể xảy ra rủi ro
và đặc biệt là nếu loại doanh nghiệp này mà xảy ra rủi ro thì tổn thất sẽ lớn
hơn các DNV&N rất nhiều. Vì vậy chỉ cần các ngân hàng quan tâm hơn đến