Chuyên đề thực tập
CHƯƠNG I
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TÍN DỤNG ĐẦU TƯ
PHÁT TRIỂN CỦA NHÀ NƯỚC
1.1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TÍN DỤNG ĐẦU TƯ PHÁT
TRIỂN CỦA NHÀ NƯỚC
1.1.1. Khái niệm tín dụng ĐTPT của Nhà nước
Thuật ngữ “tín dụng” ra đời bắt nguồn từ chữ Latin “credo”, có thể hiểu là
tin tưởng, tín nhiệm. Tuy nhiên, ngày nay, thuật ngữ “tín dụng” được hiểu theo
nhiều nghĩa khác nhau, cả trong đời sống và trong lĩnh vực tài chính. Cụ thể:
- Xét trên góc độ chuyển dịch nguồn vốn từ chủ thể thừa vốn sang chủ thể
thiếu vốn thì “tín dụng” được hiểu là phương pháp chuyển dịch quỹ theo nguyên
tắc hoàn trả từ người cho vay sang người đi vay.
- Xét trên góc độ tài chính, “tín dụng” là một giao dịch về tài sản trên cơ sở
có hoàn trả giữa hai chủ thể. Đó có thể là giao dịch mua bán chịu hàng hóa giữa
hai công ty; hay giao dịch giữa ngân hàng và các định chế tài chính khác, hay giữa
ngân hàng và các tổ chức, cá nhân dưới hình thức cho vay. Theo đó, người vay cần
phải hoàn trả cả gốc lẫn lãi theo một thời hạn được ấn định trước cho ngân hàng.
- Trong một số trường hợp cụ thể, thuật ngữ “tín dụng” được hiểu theo
nghĩa tương đương như thuật ngữ “cho vay”. Chẳng hạn như, tín dụng ngắn hạn
(short-term credit) và tín dụng dài hạn (long-term credit) được hiểu là cho vay
ngắn hạn và cho vay dài hạn.
Nếu coi tín dụng như là một chức năng cơ bản của ngân hàng, thì tín dụng
được hiểu là:
Tín dụng là việc tổ chức tín dụng sử dụng nguồn vốn tự có, hoặc nguồn vốn huy
động được trong một thời gian nhất định để thỏa thuận cho khách hàng sử dụng
khoản tiền đó với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc lẫn lãi.
Xét dưới góc độ quản lý nhà nước, thì:
Tín dụng nhà nước là quan hệ tín dụng mà trong đó nhà nước đóng vai trò là chủ
thể vay nợ hoặc cho vay, hay nói một cách khác, tín dụng nhà nước là hoạt động
vay và cho vay được nhà nước thực hiện trong những điều kiện nhất định.
phải sử dụng nguồn tín dụng này để đầu tư nhằm đảm bảo cho việc xây dựng được
hoàn thành.
Thứ tư, tín dụng ĐTPT có các điều kiện vay vốn được ưu đãi: lãi suất cho
vay thấp hơn lãi suất thị trường, thời hạn cho vay dài, điều kiện đảm bảo tiền vay
được nới lỏng hơn… Tất cả những ưu đãi này của Nhà nước là nhằm mục đích
khuyến khích ĐTPT kinh tế - xã hội.
Qua những đặc điểm trên của tín dụng ĐTPT, chúng ta có thể thấy rằng đây
là nguồn vốn đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của một quốc
gia.
1.1.3. Sự cần thiết của tín dụng ĐTPT
Tín dụng ĐTPT là một công cụ quản lý và phát triển kinh tế - xã hội của
Nhà nước thông qua đó để huy động các nguồn vốn cho ĐTPT. Sự hình thành của
Nguyễn Thị Nhung Lớp đầu tư 47C
2
Chuyên đề thực tập
nguồn tín dụng ĐTPT là một tất yếu khách quan và đặc biệt quan trọng đối với
nền kinh tế.
Thứ nhất, tín dụng ĐTPT đáp ứng nhu cầu vốn đầu tư trung và dài hạn cho
phát triển kinh tế của một quốc gia.
Nhu cầu về vốn cho phát triển kinh tế của một quốc gia là rất lớn. Những nhu
cầu về vốn thiết yếu có thể kể đến như: nhu cầu về cải tạo xây dựng cơ sở hạ tầng
quan trọng cho phát triển đường giao thông, bến cảng, cung cấp điện nước, nghiên
cứu cơ bản... ; nhu cầu về vốn của các doanh nghiệp về đầu tư mới, trang bị máy móc,
mở rộng quy mô sản xuất… Các nhu cầu này chủ yếu được tài trợ bằng nguồn thu
ngân sách của Nhà nước, tiền tiết kiệm của dân cư… Tuy nhiên, quy mô nguồn này
rất hạn chế, đặc biệt ở các nước đang phát triển, nguyên nhân là do:
- Nguồn vốn mà hệ thống ngân hàng thương mại huy động được từ dân cư
chủ yếu là nguồn vốn ngắn hạn, chỉ vì vậy nên ngân hàng chỉ tập trung cho vay
ngắn hạn đối với những đối tượng cần vốn. Tỷ trọng cho vay trung và dài hạn thấp
và kỳ hạn thường chỉ là 3 – 7 năm. Lý do là vì các ngân hàng thương mại không
chính rất thấp, hoặc rủi ro cao, đặc biệt là các dự án trong các ngành công nghiệp
mũi nhọn và vùng nông thôn rộng lớn cần nhiều vốn. Các ngân hàng thương mại
không sẵn sàng đầu tư vào các dự án này do phần lớn các khoản tín dụng của ngân
hàng thương mại đòi hỏi phải có tài sản thế chấp và phải đạt được mục tiêu hiệu
quả tài chính theo cơ chế thị trường. Do sự khan hiếm nguồn vốn nói chung và
nguồn vốn trung và dài hạn nói riêng đã làm cho lãi suất các nguồn tài chính này
trở nên rất đắt, không thích hợp với các dự án dài hạn có tỷ lệ sinh lời thấp, song
lại đóng vai trò quan trọng đối với phát triển kinh tế. Để khắc phục hạn chế này,
tín dụng ĐTPT thực hiện chính sách lãi suất, điều kiện tài trợ ưu đãi, thời hạn cho
vay dài, chấp nhận rủi ro cao hơn.
Thứ ba, tín dụng ĐTPT nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của Nhà nước.
Trước đây, tại phần lớn các nước trên thế giới, vốn dành cho ĐTPT từ ngân sách
và các nguồn vốn khác của Nhà nước thường dưới hình thức cấp phát, có nghĩa là
đối với các lĩnh vực, chương trình và địa bàn nằm trong chương trình phát triển
trọng điểm, ngân sách Nhà nước sẽ cấp vốn không hoàn lại để thực hiện. Tuy
nhiên, điều này đặt ra hai vấn đề: gánh nặng đối với ngân sách Nhà nước và hiệu
quả thực hiện dự án do những người tiếp nhận vốn có tâm lý coi đó là “tiền chùa”
dẫn đến móc nối, rút ruột công trình làm giảm hiệu quả của dự án. Cùng với việc
giải quyết hai vấn đề trên, xu thế tất yếu của sự phát triển nền kinh tế thế giới đòi
hỏi việc hỗ trợ bình đẳng đối với tất cả các thành phần kinh tế làm cho việc cấp
phát vốn đầu tư không còn phù hợp. Thay vào đó, Nhà nước chuyển dần từ cấp
phát sang tín dụng (cho vay có hoàn lại) và chỉ xem xét cho vay đối với các dự án
thực sự cần thiết cho sự phát triển kinh tế.
1.1.4. Vai trò của tín dụng ĐTPT
Xét trên nhiều khía cạnh, tín dụng ĐTPT không chỉ là biện pháp huy động
nguồn tài chính nhàn rỗi bổ sung cho ngân sách Nhà nước mà còn là công cụ tài chính
quan trọng để Nhà nước thực hiện việc điều tiết và kiểm soát vĩ mô. Vai trờ điều tiết
và kiểm soát vĩ mô của tín dụng ĐTPT được biểu hiện cụ thể như sau:
Tín dụng ĐTPT là đòn bẩy kinh tế quan trọng mà Nhà nước sử dụng để
Nguyễn Thị Nhung Lớp đầu tư 47C
Chúng ta có thể hiểu cho vay là việc các cơ quan quản lý tín dụng ĐTPT
cho các chủ đầu tư vay vốn để thực hiện các dự án ĐTPT.
Các nội dung chủ yếu trong cho vay:
- Đối tượng cho vay: là các dự án, chương trình mục tiêu thuộc đối tượng
cần đầu tư của Nhà nước trong từng thời kỳ kế hoạch. Đây là những chương trình,
Nguyễn Thị Nhung Lớp đầu tư 47C
5
Chuyên đề thực tập
dự án có tầm ảnh hưởng lớn, đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển của
quốc gia đó.
- Điều kiện cho vay: điều kiện cho vay được xem xét theo các khía cạnh
pháp lý, tài chính, phương án trả nợ khả thi… của chủ đầu tư cũng như bản thân
dự án đầu tư.
- Mức vốn cho vay: mức vốn cho vay được xác định tùy thuộc vào tình
hình nhu cầu vốn thực tế, đặc điểm riêng, tính cấp thiết của dự án và theo quy định
của mỗi nước. Thông thường, mức vốn được phép cho vay chiếm từ 70% đến
100% tổng nhu cầu vốn thực tế của dự án.
- Thời hạn cho vay: đối với từng dự án cụ thể, thời hạn cho vay thường
được xác định theo thời gian hoàn vốn của dự án. Các dự án ĐTPT thường là các
dự án trọng điểm, thời gian thu hồi vốn dài nên thời hạn cho vay đối với các dự án
này thường rất lớn, có những quốc gia, tổ chức tài chính quy định thời gian cho
vay lên đến 30 – 40 năm.
- Lãi suất cho vay: tín dụng ĐTPT là hình thức tín dụng ưu đãi của Nhà
nước nên lãi suất được áp dụng thường thấp hơn lãi suất của thị trường. Tuy nhiên,
do yêu cầu của hội nhập đòi hỏi phải có cạnh tranh lành mạnh nên các nước dần
dần phải cắt giảm sự hỗ trợ này. Cũng vì vậy, theo tiến độ và cam kết của các quốc
gia thì lãi suất tín dụng ĐTPT có xu hướng tiếp cận gần hơn với lãi suất thị trường.
- Đảm bảo tiền vay: tín dụng ĐTPT là một chính sách tín dụng ưu đãi của
Nhà nước đối với các chủ dự án nên các chủ dự án thường được nới lỏng các điều
kiện đảm bảo tiền vay so với việc vay vốn ở các ngân hàng thương mại như: được
Ngân hàng Phát triển Việt Nam tiền thân là Tổng cục ĐTPT, hoạt động
theo nhiệm vụ, quyền hạn được quy định tại Nghị định 187/CP ngày 10 tháng 12
năm 1994 của Chính phủ.
Theo đó, Tổng cục ĐTPT là tổ chức trực thuộc Bộ Tài chính có nhiệm vụ
giúp Bộ trưởng Bộ Tài chính thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về tài chính
ĐTPT, tổ chức thực hiện việc cấp phát vốn ngân sách Nhà nước đầu tư và vốn tín
dụng ưu đãi của Nhà nước đối với các dự án, mục tiêu, chương trình theo danh
mục do Chính phủ quyết định hàng năm.
Tổng cục Đầu tư và phát triển có nhiệm vụ và quyền hạn cụ thể sau đây:
- Giúp Bộ trưởng Bộ Tài chính thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về
tài chính ĐTPT:
+ Nghiên cứu các chính sách, chế độ về quản lý vốn đầu tư để Bộ trưởng Bộ
Tài chính ban hành theo thẩm quyền hoặc trình Thủ tướng Chính phủ ban hành.
+ Tham gia ý kiến với các cơ quan Nhà nước về chủ trương, chính sách, kế
hoạch ngắn hạn và dài hạn có liên quan đến đầu tư của Nhà nước.
+ Thẩm định về mặt tài chính và tham gia việc xét thầu, chọn thầu các dự
án đầu tư có sử dụng nguồn vốn đầu tư của Nhà nước.
+ Thông báo kế hoạch vốn đầu tư của Nhà nước cho các chủ đầu tư theo kế
hoạch hàng năm đã được duyêt.
+ Kiểm tra việc sử dụng nguồn vốn nói trên của chủ đầu tư; kiến nghị với
cấp có thẩm quyền về chính sách, biện pháp cần thiết nhằm nâng cao hiệu quả sử
dụng nguồn vốn đầu tư của Nhà nước.
Được yêu cầu chủ đầu tư cung cấp tài liệu và giải trình những vấn đề liên
quan đến quản lý vốn đầu tư, vốn tín dụng ưu đãi của Nhà nước.
- Tổ chức thực hiện việc cấp phát vốn ngân sách Nhà nước đầu tư; cấp và
thu hồi vốn tín dụng ưu đãi của Nhà nước đối với dự án, mục tiêu, chương trình
theo chỉ định của Chính phủ hàng năm;
Nguyễn Thị Nhung Lớp đầu tư 47C
8
Chuyên đề thực tập
Theo nghị định 145/1999/NĐ-CP có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng
01 năm 2000, Tổng cục ĐTPT được giải thể và thành lập Quỹ Hỗ trợ phát triển.
Quỹ được hoạt động theo quy định tại Nghị định số 50/1999/NĐ-CP ngày 08
tháng 7 năm 1999.
Nguyễn Thị Nhung Lớp đầu tư 47C
9
Chuyên đề thực tập
Quỹ hỗ trợ phát triển được thành lập để huy động vốn trung và dài hạn, tiếp
nhận và quản lý các nguồn vốn của Nhà nước dành cho tín dụng ĐTPT để thực
hiện chính sách hỗ trợ ĐTPT của Nhà nước.
Quỹ hỗ trợ phát triển là một tổ chức tài chính nhà nước hoạt động không vì
mục đích lợi nhuận, bảo đảm hoàn vốn và bù đắp chi phí, có tư cách pháp nhân, có
vốn điều lệ, có bảng cân đối, có con dấu, được mở tài khoản tại Kho bạc Nhà
nước, các ngân hàng trong nước và ngoài nước. Quỹ hỗ trợ phát triển hoạt động
theo điều lệ do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
Quỹ được miễn nộp thuế và các khoản nộp ngân sách nhà nước để giảm
lãi suất cho vay và giảm phí bảo lãnh.
Quỹ hỗ trợ phát triển là đơn vị hạch toán kinh tế tập trung, có chế độ tài
chính do Bộ Tài chính trình Thủ tướng Chính phủ quyết định.
Vốn điều lệ của Quỹ là 3.000 tỷ đồng từ nguồn vốn điều lệ hiện có của Quỹ
hỗ trợ đầu tư quốc gia và ngân sách nhà nước cấp bổ sung hàng năm.
Quỹ Hỗ trợ phát triển có nhiệm vụ
- Huy động vốn trung và dài hạn, tiếp nhận các nguồn vốn của Nhà nước (bao
gồm cả vốn trong và ngoài nước) để thực hiện chính sách hỗ trợ ĐTPT của Nhà
nước;
- Sử dụng đúng mục tiêu, có hiệu quả các nguồn vốn của Quỹ;
- Cho vay đầu tư và thu hồi nợ;
- Hỗ trợ lãi suất sau đầu tư;
- Thực hiện việc bảo lãnh cho các chủ đầu tư vay vốn đầu tư; tái bảo lãnh và
nhận tái bảo lãnh cho các quỹ đầu tư;
vụ.
Việc bổ nhiệm và miễn nhiệm, khen thưởng và kỷ luật thành viên của Hội
đồng quản lý, Trưởng Ban kiểm soát, Tổng giám đốc và các Phó Tổng giám đốc
Quỹ do Thủ tướng Chính phủ quyết định theo đề nghị của Bộ trưởng, Trưởng ban
Tổ chức - Cán bộ Chính phủ.
Hội đồng quản lý Quỹ hỗ trợ phát triển có 5 thành viên, trong đó có 2 thành
viên chuyên trách là Chủ tịch và Phó Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc và 3 thành
viên bán chuyên trách là đại diện có thẩm quyền của Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch
và Đầu tư, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Ban kiểm soát chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản lý Quỹ kiểm soát toàn
bộ hoạt động của Quỹ.
Ngày 19/5/2006, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 108/2006/QĐ-TTg thành
lập Ngân hàng Phát triển Việt Nam trên cơ sở tổ chức lại hệ thống Quỹ Hỗ trợ
phát triển để thực hiện chính sách tín dụng ĐTPT và tín dụng xuất khẩu của Nhà
nước.Tên giao dịch quốc tế: The Vietnam Development Bank (VDB).
2.1.2. Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Phát triển Việt Nam
Hoạt động của Ngân hàng phát triển không vì mục đích lợi nhuận, tỷ lệ dự
trữ bắt buộc bằng 0% (không phần trăm), không phải tham gia bảo hiểm tiền gửi.
Ngân hàng phát triển được Chính phủ đảm bảo khả năng thanh toán, được
miễn nộp thuế và các khoản nộp ngân sách Nhà nước theo quy định của pháp luật.
Nguyễn Thị Nhung Lớp đầu tư 47C
11
Chuyên đề thực tập
Trụ sở hoạt động: 25A Cát Linh – Đống Đa – Hà Nội
Các đơn vị trực thuộc gồm:
Văn phòng đại diện (tại thành phố Hồ Chí Minh)
Ban quản lý các dự án đầu tư
02 Sở giao dịch (Sở giao dịch I tại TP. Hà Nội, Sở giao dịch II tại
TP. Hồ Chí Minh)
60 chi nhánh tại các tỉnh, thành phố
Chuyên đề thực tập
của Ngân hàng Phát triển Việt Nam sẽ hoạt động theo nghị định 151/2006/NĐ-CP
ngày 20/12/2006 về tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu của Nhà nước.
Doanh nghiệp vay vốn của Ngân hàng Phát triển với lãi suất cho vay sẽ rẻ
hơn vay của các ngân hàng thương mại khác. Bởi vì ngân hàng cho vay theo lãi
suất thị trường, theo thông lệ quốc tế là lãi suất trái phiếu Chính phủ kỳ hạn 5 năm
cộng thêm một khoản phí nhất định (khoảng 1%/năm). Điều này cho thấy sự ưu
đãi không chỉ được vay rẻ mà thời hạn cho vay dài sẽ giúp cho đối tượng vay vốn
chủ động hơn trong kế hoạch sản xuất. Hơn nữa, việc khấu hao máy móc, nhà
xưởng, v.v. cũng được dài hơn nên khách hàng vay vốn có điều kiện tích lũy để tái
sản xuất và mở rộng đầu tư. Lãnh đạo của Ngân hàng Phát triển cho biết, điều kiện
cho vay của ngân hàng đơn giản hơn so với vay từ các ngân hàng thương mại khác
như không phải thế chấp, hoặc nếu có thì tỷ lệ thế chấp ở mức tương đối thấp,
bằng 30% giá trị khoản vay. Trong tương lai, ngân hàng có dự định trình Chính
phủ giảm mức thế chấp xuống còn 15% giá trị khoản vay.
Nếu như Tổng cục đầu tư có nhiệm vụ quản lý về mặt tài chính của Nhà
nước nhiều như: tham gia góp ý về xây dựng luật, nghiên cứu các chính sách chế
độ về quản lý vốn đầu tư... thì Quỹ hỗ trợ phát triển có nhiều chức năng về quản lý
tín dụng ưu đãi của Nhà nước. Và đến khi thành lập Ngân hàng Phát triển thì chức
năng này được thể hiện rõ, qua việc quản lý tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu.
Cụ thể, chức năng và nhiệm vu của Ngân hàng Phát triển như sau:
- Huy động, tiếp nhận vốn của các tổ chức trong và ngoài nước để thực hiện
tín dụng ĐTPT và tín dụng xuất khẩu của Nhà nước theo quy định của Chính phủ;
- Thực hiện chính sách tín dụng ĐTPT:
Cho vay ĐTPT
Hỗ trợ sau đầu tư
Bảo lãnh tín dụng đầu tư.
- Thực hiện chính sách tín dụng xuất khẩu:
Cho vay xuất khẩu;
Bảo lãnh tín dụng xuất khẩu;
SỞ
GIAO DỊCH
CHI NHÁNH
NGÂN HÀNG
TẠI ĐỊA
PHƯƠNG
VĂN PHÒNG
ĐẠI DIỆN TẠI
NƯỚC NGOÀI
VĂN PHÒNG
ĐẠI DIỆN
TRONG NƯỚC
Chuyên đề thực tập
hoạt động của Ngân hàng Phát triển Việt Nam thì:
Hội đồng Quản lý:
- Hội đồng quản lý có 05 thành viên, trong đó có thành viên chuyên trách và
thành viên không chuyên trách. Chủ tịch, Tổng giám đốc Ngân hàng Phát triển là
thành viên chuyên trách; thành viên kiêm nhiệm là lãnh đạo các Bộ: Tài chính, Kế
hoạch và Đầu tư và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
- Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm, miễn nhiệm các thành viên Hội đồng quản
lý theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Nội vụ, sau khi có ý kiến của Bộ trưởng Bộ Tài
chính và các cơ quan có liên quan.
- Nhiệm kỳ của thành viên Hội đồng quản lý là 05 năm. Hết nhiệm kỳ, thành
viên Hội đồng quản lý có thể được bổ nhiệm lại.
Ban Kiểm soát:
- Ban Kiểm soát có tối đa 07 thành viên chuyên trách, là các chuyên gia am
hiểu về lĩnh vực tài chính, tín dụng, đầu tư..., hiểu biết về pháp luật, không có tiền
án, tiền sự về các tội danh liên quan đến hoạt động kinh tế theo quy định của pháp
luật.
- Trưởng Ban Kiểm soát do Hội đồng quản lý quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm.
trước Tổng giám đốc và pháp luật về nhiệm vụ được Tổng giám đốc phân công.
Tổng giám đốc, các Phó Tổng giám đốc, Kế toán trưởng Ngân hàng Phát
triển là những người cư trú tại Việt Nam trong thời gian đương nhiệm, có trình độ
chuyên môn, năng lực điều hành ngân hàng.
Tổng giám đốc Ngân hàng Phát triển do Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm,
miễn nhiệm theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Nội vụ, sau khi có ý kiến của Bộ
trưởng Bộ Tài chính và các cơ quan có liên quan.
Phó Tổng giám đốc, Kế toán trưởng Ngân hàng Phát triển do Hội đồng quản
lý bổ nhiệm, miễn nhiệm trên cơ sở đề nghị của Tổng giám đốc.
Các phòng ban tại Hội sở chính – 25A, Cát Linh, Đống Đa, Hà Nội
Ban Kế hoạch – Tổng hợp
Ban Thẩm định
Ban Tín dụng trung ương
Ban Tín dụng địa phương
Ban Tín dụng xuất khẩu
Ban Hỗ trợ sau đầu tư và quản lý vốn ủy thác
Ban Quản lý vốn nước ngoài và quan hệ quốc tế
Ban Kiểm tra nội bộ
Ban Pháp chế
Ban Tài chính – Kế toán – Kho quỹ
Ban Quản lý tài sản và xây dựng cơ bản nội bộ ngành
Ban Tổ chức cán bộ
Trung tâm xử lý nợ
Trung tâm công nghệ thông tin
Trung tâm đào tạo và nghiên cứu khoa học
Tạp chí Hỗ trợ phát triển
Văn phòng
Nguyễn Thị Nhung Lớp đầu tư 47C
16
Chuyên đề thực tập
7. Vốn đóng góp tự nguyện không hoàn trả của các cá nhân, các tổ chức kinh
tế, tổ chức tài chính, tín dụng và các tổ chức chính trị - xã hội, các hiệp hội, các
hội, các tổ chức trong và ngoài nước.
Nguyễn Thị Nhung Lớp đầu tư 47C
17
Chuyên đề thực tập
8. Vốn nhận uỷ thác, cấp phát cho vay đầu tư và thu hồi nợ của khách hàng
từ các tổ chức trong và ngoài nước th”ng qua Hợp đồng nhận uỷ thác giữa ngân
hàng Phát triển với các tổ chức uỷ thác.
9. Các nguồn vốn khác theo quy định của pháp luật.
Cụ thể, tình hình huy động vốn của Ngân hàng Phát triển thời gian qua như sau:
Bảng 1: Tình hình huy động vốn tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam
Đơn vị: tỷ đồng
Lũy kế đến 31/12/2006
Vốn điều lệ 5.007,66
Vốn huy động từ các đơn vị, tổ chức:
- Tín phiếu kho bạc Nhà nước
- Tồn ngân kho bạc Nhà nước
- Vay Quỹ tích lũy trả nợ nước ngoài
- Vay công ty Dịch vụ tiết kiệm Bưu điện
- Vay Bảo hiểm xã hội
- Vốn NSNN cho vay kiên cố hóa kênh mương
- Vốn NSNN cho vay tôn nền vượt lũ
- Vốn khấu hao của Tập đoàn Điện lực
3.511,827
500,000
2.275,512
5.400,000
9.200,000
500,000
Vay NSNN, TCTC,
TCTD
23.193.210 17.316.350
4 Vốn ủy thác đầu 49.266.881 53.178.770
5
Phát hành giấy tờ có
giá
25.753.000 49.588.000
6
Các khoản phải trả,
phải nộp
2.035.282 2.201.976
7 Tài sản Nợ khác 760.340 792.659
8 Vốn của NHPT 5.387.927 5.782.332
9 Quỹ của NHPT 1.016.952 880.114
10
Kết quả hoạt động
chưa phân phối
798.234 715.938
11 Tổng Nguồn vốn 115.235.210 135.040.639
(Nguồn: Báo cáo tài chính của Ngân hàng Phát triển Việt Nam qua các năm)
Ta có thể thấy rằng, tổng nguồn vốn của Ngân hàng Phát triển Việt Nam năm
2006 là 115.235,210 tỷ đồng. Năm 2007, tổng nguồn vốn của Ngân hàng là
135.040,639 tỷ đồng. Trong đó, sự gia tăng nguồn vốn có sự đóng góp đáng kể của
nguồn phát hành giấy tờ có giá. Đây là một dấu hiệu cho thấy nguồn vốn của Ngân
hàng ngày càng gia tăng về quy mô và chất lượng. Điều này chứng tỏ hoạt động huy
động vốn của Ngân hàng đang diễn biến theo chiều hướng ngày một đi lên.
Như vậy, việc thực hiện các biện pháp gia tăng quy mô nguồn vốn với lãi
suất thấp, kỳ hạn dài và ổn định là nghiệp vụ quan trọng của Ngân hàng Phát triển.
Nguyễn Thị Nhung Lớp đầu tư 47C
Bảng 3: Tình hình đầu tư bằng nguồn vốn trong nước của Ngân hàng Phát
triển Việt Nam
Đơn vị: tỷ đồng
Số dự án
Tổng số vốn
cho vay (theo
hợp đồng tín
dụng đã ký)
Tổng số vốn đã
giải ngân đến
31/12/2006
Dư nợ đến
31/12/2006
1. Khối Trung ương
+ Dự án nhóm A 85 41.732,044 18.486,231 15.300,272
+ Dự án nhóm B,C 660 24.165,335 18.990,257 14.217,893
2. Khối địa phương
+ Dự án nhóm A 28 6.586 3.026 2.532
+ Dự án nhóm B,C 5.055 25.166 21.111 13.235
(Nguồn: Báo cáo thường niên của Ngân hàng Phát triển Việt Nam)
Như vậy, ta có thể thấy rằng, đến cuối năm 2006, công tác giải ngân các dự
án được đầu tư bằng nguồn vốn trong nước vẫn còn rất chậm. Số vốn giải ngân
được chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ so với tổng số vốn cho vay. Qua bảng này, ta cũng
có thể thấy được, vốn vay dành cho các dự án tín dụng ĐTPT chủ yếu tập trung
vào khối trung ương. Khối trung ương chiếm nhiều hơn cả về số dự án cho vay và
khối lượng cho vay.
2.1.3.2.2.Vốn ODA cho vay lại
Đây là nguồn vốn mà Ngân hàng Phát triển Việt Nam tiếp nhận từ các nước
viện trợ vốn ODA cho Việt Nam. Ngân hàng Phát triển Việt Nam quản lý số vốn
này và cho vay lại cho các doanh nghiệp, các dự án cần đến nguồn vốn nhiều ưu
- Số dự án đã tiếp nhận và tổ chức thẩm định: 04 dự án, trong đó đã chấp
thuận 01 dự án (với số vốn theo hợp đồng tín dụng đã ký là 16 tỷ đồng), từ chối 02
dự án, và đang thẩm định 01 dự án.
- Hiện chưa có dự án nào giải ngân vốn vay.
Quỹ Ủy thác
Hiệp định 27 triệu USD – ODA Ấn Độ (Quỹ ủy thác):
- NHPT đã thẩm định và chấp thuận cho vay đối với 16 dự án, với số vốn
chấp thuận là 27 triệu USD.
- Số dự án đã ký hợp đồng tín dụng đã ký: 15 dự án, với số vốn đã giải ngân
4,6 triệu USD. Dư nợ: 4,6 triệu USD.
Dự án năng lượng nông thôn 2 (RE2 trị giá 329,5 triệu USD):
- Dự án thực hiện tại 26 tỉnh với khoảng 1.015 xã với tổng số vốn đầu tư
khoảng 329,5 triệu USD, trong đó NHPT được giao quản lý cho vay phần vốn WB
của các Hợp phần A, B, C và D với tổng trị giá 218,5 triệu USD. Hiện nay, việc
Nguyễn Thị Nhung Lớp đầu tư 47C
22
Chuyên đề thực tập
triển khai giai đoạn I được thực hiện tại 6 tỉnh Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Hà Tĩnh,
Quảng Ngãi, Phú Yên và Cà Mau, cụ thể như sau:
+ Số đã giải ngân: 42,99 tỷ VND.
+ Giai đoạn 2 tại 12 tỉnh đang bắt đầu triển khai.
Quỹ tích lũy trả nợ nước ngoài: Quản lý và thu hồi nợ từ dự án theo ủy
quyền của Bộ Tài chính
Bộ Tài chính đã giải ngân cho các dự án sau:
- Xi măng Hải Phòng: 24.336,180 USD (dự án đã rút xong vốn)/
- Xi măng Thái Nguyên: 17.136,879 USD (dự án sẽ rút tiếp 2.683.130 USD).
Chương trình phát triển khu vực tư nhân (vốn Đan Mạch):
- Số dự án đã ký hợp đồng tín dụng: 06 dự án, với số vốn tương đương 19,6
tỷ đồng.
- Số dự án đã giải ngân: 05 dự án, với số vốn đã giải ngân 18 tỷ đồng.
hàng vay vốn
tín dụng xuất
khẩu
Doanh số cho
vay đến
31/12/2006
Dư nợ đến
31/12/2006
Thu nợ Thu lãi
Nhóm hàng
nông, lâm, thủy
sản
6.319,731 1.322,027 6.773,848 98,216
Nhóm hàng thủ
công mỹ nghệ
684,932 234,292 715,483 18,071
Nhóm sản
phẩm công
nghiệp
1.053,857 1.195,574 917,248 59,378
Máy tính, phụ
kiện máy tính
và phần mềm
tin học
190,124 243,827 17,300 3,96
Tổng số 8.248,644 2.995,720 8.423,880 179,572
Ngoài ra, theo Hiệp định tín dụng giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ
Campuchia, Ngân hàng Phát triển Việt Nam đang quản lý và cho vay dự án đường
78 với tổng số vốn vay theo hợp đồng tín dụng là 25,8 triệu USD.
Trong năm 2008, Ngân hàng Phát triển đã đẩy mạnh tín dụng xuất khẩu
Tổng số 2.579 3.369 530,486
Kinh tế trung ương 498 1.490 271,392
Kinh tế địa
phương
2.261 1.878 259,093
Qua bảng trên ta có thể thấy, nghiệp vụ hỗ trợ sau đầu tư là một nghiệp vụ
không kém phần quan trọng, khi mà số dự án cần hỗ trợ sau đầu tư chiếm một số
lượng rất lớn so với tổng số dự án cho vay. Công tác này hiện nay vẫn đang được
triển khai rất tích cực tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam.
2.1.3.2.5. Bảo lãnh đầu tư
Bảo lãnh là một trong những nghiệp vụ cơ bản của Ngân hàng Phát triển Việt
Nam. Theo đó, Ngân hàng Phát triển Việt Nam đứng ra bảo lãnh cho một doanh
nghiệp nào đó và chịu trách nhiệm thanh toán khoản nợ thay cho doanh nghiệp
trong phạm vi số vốn đã cam kết.
Bảng 6: Tình hình bảo lãnh đầu tư của Ngân hàng Phát triển Việt Nam
Đơn vị: tỷ đồng
Nguyễn Thị Nhung Lớp đầu tư 47C
25