BÁO CÁO TỔNG KẾT DỰ ÁN SỬ DỤNG QUỸ MỞ RỘNG
ĐỀ TÀI: BÁO CÁO TỔNG KẾT DỰ ÁN SỬ DỤNG QUỸ MỞ RỘNG
i
BÁO CÁO TỔNG KẾT DỰ ÁN SỬ DỤNG QUỸ MỞ RỘNG
DANH SÁCH NGƯỜI THAM
1. Ông Nguyễn Tuấn Hùng , Cục trưởng Cục ĐĐBĐ Việt Nam;
2.Ông Lê Minh Tâm, Phó Cục trưởng Cục ĐĐBĐ Việt Nam;
3. Ông Vũ Quý Lân, Phó Cục trưởng Cục ĐĐBĐ Việt Nam;
4. Ông Trương Xuân Thủy, Chánh Văn phòng Cục;
5. Ông Nguyễn Văn Bảy, Trưởng phòng Pháp chế;
6. Ông Trần Hồng Quang, Trưởng phòng Hợp tác Quốc tế;
7. Ông Phan Ngọc Mai, Trưởng phòng Công nghệ thẩm định;
8. Ông Nguyễn Đình Đông, Trưởng phòng Kế hoạch tài chính;
9. Bà Phạm Thị Loan, Phó trưởng phòng Pháp chế;
10. Ông Bùi Văn Hoàng, Chuyên viên Văn phòng Cục;
11. Bà Nguyễn Thu Hương, Chuyên viên Văn phòng Cục;
12. Bà Nguyễn Thị Kim Oanh, Chuyên viên Phòng Pháp chế;
13. Ông Kiều Trần Dũng, Chuyên viên Phòng Pháp chế.
Mục lục
DANH SÁCH NGƯỜI THAM GIA i
TÓM TẮT DỰ ÁN
ii
CHỮ VIẾT TẮT
vi
LỚI NÓI ĐẦU
1
I. KHÁI QUÁT DỰ ÁN
3
II. NỘI DUNG THỰC HIỆN
5
III. KẾT QUẢ THỰC HIỆN
- Công tác xây dựng thể chế: Hệ thống văn bản QPPL dưới Nghị định do
các Bộ, ngành ban hành còn chậm, còn tồn tại một số mâu thuẫn, bất cập, chưa
theo kịp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Văn bản QPPL về
đo đạc bản đồ do địa phương ban hành không đầy đủ, chất lượng thấp và chưa
theo sát với thực tế của địa phương.
- Việc triển khai các nhiệm vụ đo đạc và bản đồ của các bộ, ngành về cơ
bản đã đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, tuy nhiên còn có hiện tượng
chồng chéo gây lãng phí cho ngân sách nhà nước. Việc triển khai đo đạc và bản
đồ ở địa phương còn bất cập do thiếu quy hoạch, kế hoạch dài hạn, đầu tư kinh
phí hàng năm cho công tác đo đạc bản đồ còn bị động, không ổn định, cơ chế
phối hợp quản lý đầu tư chưa chặt chẽ dẫn đến vẫn còn hiện tượng trùng lặp,
lãng phí; mặt khác, do các bộ, ngành và địa phương thực hiện không nghiêm
quy định về báo cáo trong họat động đo dạc và bản đồ nên công tác theo dõi,
giám sát, tổng hợp của Bộ TNMT gặp rất nhiều khó khăn.
- Công tác thanh tra, kiểm tra trong quản lý hoạt động đo đạc và bản đồ
của các cơ quan QLNN về đo đạc và bản đồ ở Trung ương và địa phương thực
hiện chưa tốt. Các Bộ, ngành, địa phương chưa chủ động và chú trọng đúng mức
đến công tác thanh tra, kiểm tra hoạt động đo đạc và bản đồ trong phạm vi quản
lý của mình.
- Việc xử lý vi phạm trong hoạt động đo đạc và bản đồ hầu như chưa có,
cụ thể chưa có tổ chức cá nhân nào vi phạm phải xử lý theo các quy định của
Nghị định 30. Tuy nhiên, thực tế này không chứng tỏ việc thực thi pháp luật
nghiêm minh của các tổ chức, cá nhân tham gia họat động đo đạc và bản đồ mà
nó phần nào nói lên việc buông lỏng trách nhiệm kiểm tra, giám sát của các bộ,
iii
BÁO CÁO TỔNG KẾT DỰ ÁN SỬ DỤNG QUỸ MỞ RỘNG
ngành và địa phương trong quản lý nhà nước đối với lĩnh vực. Trên thực tế qua
công tác kiểm tra thường xuyên hàng năm của Bộ Tài nguyên và Môi trường đã
phát hiện nhiều tổ chức vi phạm quy chế đăng ký và cấp giấy phép hoạt động đo
đạc và bản đồ mà không bị kiểm tra, xử lý.
tác thanh tra, kiểm tra, phân tích, tổng hợp thông tin thu nhận được bằng con
đường báo cáo.
Tuy nhiên, thực trạng của mối quan hệ giữa Trung ương và địa phương
dựa trên cơ chế Phân cấp - Kiểm tra như trên cũng bộc lộ nhiều bất cập và thiếu
hiệu quả: việc thanh tra chỉ tiến hành theo từng vụ việc đơn lẻ, công tác kiểm
tra, do hạn chế về kinh phí và thời gian nên còn nặng về hình thức; mặt khác, cơ
quan quản lý nhà nước về đo đạc bản đồ của địa phương thực hiện không
nghiêm túc quy định về báo cáo, báo cáo còn mang nhiều tính thủ tục, hình thức.
iv
BÁO CÁO TỔNG KẾT DỰ ÁN SỬ DỤNG QUỸ MỞ RỘNG
b. Quan hệ giữa cơ quan QLNN về đo đạc bản đồ ở TƯ với Bộ ngành có
hoạt động đo đạc bản đồ chuyên ngành
Nghị định 12 có quy định về phân cấp triển khai nhiệm vụ về đo đạc và
bản đồ chuyên ngành thuộc phạm vi quản lý của các Bộ, tuy nhiên không quy
định rõ về cơ chế quản lý, kiểm tra, gíám sát của cơ quan quản lý nhà nước về
đo đạc và bản đồ đối với các họat động này. Cơ quan QLNN về đo đạc và bản
đồ chỉ thực hiện quản lý họat động đo đạc bản đồ của các Bộ thông qua Quy chế
cấp phép họat đông đo đạc và bản đồ và quy định về báo cáo trong họat đông đo
đạc và bản đồ, Tuy nhiên, đây đều là các văn bản QPPL hướng dẫn thi hành
Nghị định nên hiệu quả thi hành pháp luật không cao, đa số các Bộ, ngành xem
nhẹ hoặc thực hiện không nghiêm quy định về Báo cáo.
Thực trạng của mối quan hệ này là cơ quan quản lý không có chế tài để
quản lý và kiểm tra hoặc chế tài không đủ mạnh và do không quản lý được dẫn
đến thả nổi. Do các vi phạm không bị xử lý, các Bộ ngành không coi trọng việc
thực thi các văn bản QPPL do cơ quan quản lý nhà nước về đo đạc bản đồ ban
hành và cho rằng không phải là luật nên không bắt buộc phải thi hành.
c. Quan hệ giữa cơ quan QLNN về đo đạc bản đồ với doanh nghiệp
- Đối với lọai hình doanh nghiệp nhà nước, cơ quan QLNN về đo đạc và
bản đồ về cơ bản kiểm soát được về năng lực (nhân lực và trình độ), chất lượng
công trình, sản phẩm của các Doanh nghiệp NN trực thuộc. Với các doanh
chồng chéo. Luật cũng là nền tảng pháp lý vững chắc để ngành đo đạc và bản đồ
Việt Nam phát triển lên một tầm cao mới, đáp ứng với sự phát triển kinh tế xã
hội của đất nước trong giai đọan hội nhập quốc tế.
b. Luật đo đạc và bản đồ còn mang lại lợi ích vô hình từ việc tuyên
truyền, giáo dục đến toàn dân về chủ quyền lãnh thổ quốc gia và thúc đẩy tiến
bộ xã hội.
2. Tóm tắt nội dung dự án
Dự án gồm 07 phần:
Phần1: Thu thập, nghiên cứu, đánh giá thông tin tư liệu;
Phần 2: Tổng kết tình hình thực hiện pháp luật về đo đạc và bản đồ;
Phần 3: Khảo sát, đánh giá thực trạng quan hệ xã hội liên quan đến các
nội dung chính của Luật Đo đạc và Bản đồ;
Phần 4: Tổ chức đánh giá tác động và xây dựng báo cáo đánh giá tác động
của dự án Luật;
Phần 5: Xây dựng Đề cương chi tiết;
Phần 6: Xây dựng dự thảo Luật trên cơ sở Đề cương chi tiết;
Phần 7: Tổ chức lấy ý kiến của các cơ quan, tổ chức, cá nhân và tổ chức
Hội thảo.
vi
BÁO CÁO TỔNG KẾT DỰ ÁN SỬ DỤNG QUỸ MỞ RỘNG
CHỮ VIẾT TẮT
(1) SEMLA: Chương trình hợp tác Việt Nam- Thụy Điển về tăng cường
năng lực quản lý đất đai và môi trường
(2) UBND: Ủy ban nhân dân;
(3) QLNN: Quản lý nhà nước;
(4) ĐĐBĐ: Đo đạc và bản đồ;
(5) QLĐĐ: Quản lý đất đai;
(6) CT-TTg: Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ;
(7) NĐ-CP: Nghị định của Chính phủ;
(8) Bộ TNMT: Bộ Tài nguyên và Môi trường;
BÁO CÁO TỔNG KẾT DỰ ÁN SỬ DỤNG QUỸ MỞ RỘNG
LỜI NÓI ĐẦU
Ngành Đo đạc và Bản đồ Việt Nam có lịch sử hơn 500 năm, trải qua bao
tháng năm thăng trầm của lịch sử. Năm 1959, Chính phủ đã thành lập Cục Đo
đạc và Bản đồ thuộc Phủ Thủ tướng. Năm 1974, được chuyển thành Cục Đo đạc
và Bản đồ trực thuộc Chính phủ.
Năm 1994, Chính phủ đã quyết định thành lập Tổng cục Địa chính trên cơ
sở sáp nhập và tổ chức tại Cục Đo đạc và Bản đồ nhà nước, Tổng cục Quản lý
ruộng đất. Tổ chức mới đã tạo ra một giai đoạn mới gắn liền công tác ĐĐBĐ
với công tác QLĐĐ
Tháng 11 năm 2002, Quốc hội quyết định thành lập Bộ Tài nguyên và
Môi trường, trong đó Chính phủ đã quyết định tái lập Cục Đo đạc và Bản đồ với
chức năng, nhiệm vụ rất cụ thể, Chính phủ đã quyết định những dự án đầu tư lớn
cho lĩnh vực ĐĐBĐ nhằm đáp ứng kịp thời cho quá trình đẩy mạnh công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước.
Ngày 04 tháng 3 năm 2008 Chính Phủ ban hành Nghị định
số 25/2008/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức
của Bộ Tài nguyên và Môi trường, theo đó Cục Đo đạc và Bản đồ được đổi tên
thành Cục Đo đạc và Bản đồ Việt Nam.
Sau 6 năm triển khai thực hiện, ngày 19/12/2007 Thủ tướng Chính phủ có
Chỉ thị số 32/2007/CT-TTg về tổng kết thực hiện Nghị định số 12/2002/NĐ-CP
ngày 22 tháng 01 năm 2002 của Chính phủ về hoạt động đo đạc và bản đồ, trong
báo cáo tổng kết của Bộ Tài nguyên và Môi trường trình Thủ tướng đã đánh giá:
Nghị định 12 là văn bản pháp luật cao nhất trong lĩnh vực đo đạc và bản đồ, nó
đã tạo cơ sở pháp lý cơ bản cho việc thống nhất quản lý nhà nước và triển khai
hoạt động đo đạc và bản đồ, đưa quản lý nhà nước về đo đạc và bản đồ đi dần
vào nề nếp, giảm thiểu được tình trạng đo đạc chồng chéo, lãng phí và hướng
dần vào việc thống nhất sử dụng dữ liệu đo đạc cơ bản, chia sẻ và sử dụng
chung thông tin.
Hệ thống văn bản QPPL khung sau Nghị định 12 do Bộ TNMT phối hợp
chưa cao. Vì vậy, việc sớm xây dựng Luật Đo đạc và Bản đồ để điều chỉnh và
thống nhất quản lý toàn diện mọi hoạt động đo đạc và bản đồ là hết sức cần thiết.
Trước tinh hình của Hội nhập và phát triển kinh tế của đất nước cũng như
nhu cầu về công tác quản lý nhà nước về hoạt động đo đạc và bản đồ, ngày 22
tháng 01 năm 2008, Bộ Tài nguyên và Môi trường có Quyết định số 131/QĐ-
BTNMT về việc phân công đơn vị thực hiện Chương trình xây dựng Luật, pháp
lệnh của Quốc hội nhiệm kỳ khóa XII (2007 – 2011) và năm 2008 thuộc trách
nhiệm của Bộ Tài nguyên và Môi trường, Cục Đo đạc và Bản đồ Việt Nam được
giao nhiệm vụ chủ trì xây dựng Luật Đo đạc và Bản đồ để trình Quốc Hội thông
qua vào tháng 10/2010.
Do nguồn kinh phí sự nghiệp của Nhà nước cấp cho công tác xây dựng
các dự án Luật rất hạn hẹp, yêu cầu về thời gian trình dự án Luật Đo đạc và Bản
đồ lại rất gấp. Vì vậy sau khi nghiên cứu, cân nhắc về khả năng không đủ kinh
phí đáp ứng cho Chương trình xây dựng Luật, Cục Đo đạc và Bản đồ Việt Nam
kính đề nghị Chương trình SEMLA xem xét hỗ trợ kinh phí cho Cục Đo đạc và
Bản đồ Việt Nam để thực hiện một số nội dung cần triển khai gấp trong kế
hoạch xây dựng Luật Đo đạc và Bản đồ năm 2009.
Cục Đo đạc và Bản đồ xin chân thành cảm ơn Ban chỉ đạo Chương trình
SEMLA đã quan tâm tạo điều kiện nguồn kinh phí hỗ trợ cho Cục triển khai một
số nội dung cần thiết trong việc xây dựng Dự án Luật Đo đạc và Bản đồ.
2