Luan van chuyen de tư TƯỞNG hồ CHÍ MINH về văn hóa, đạo đức chuan - Pdf 92

CHƯƠNG VII
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VĂN HÓA, ĐẠO ĐỨC VÀ
XÂY DỰNG CON NGƯỜI MỚI
A. Mục đích, yêu cầu
- Mục đích:
Nghiên cứu làm rõ những nội dung trong tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa, đạo đức và
xây dựng con người mới, từ đó thấy được giá trị to lớn và cần thiết học tập tư tưởng Hồ
Chí Minh
- Yêu cầu: Người học cần nắm vững nội dung các vấn đề sau:
+ Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa, đạo đức và xây dựng con người mới
+ Nghiên cứu chuyên đề tư tưởng Hồ Chí Minh văn hóa, đạo đức và xây dựng con người
mơi cần đứng vững trên lập trường và quan điểm mác xít, đường lối chỉ đạo của Đảng ta
+ Sinh viên cần nghiên cứu tài liệu trước khi lên lớp
B. Cấu trúc chương: gồm 4 phần
I. Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa
II. Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh
III. Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng con người mới
Kết luận
C. Thời gian giảng: 5 tiết
D. Phương pháp:
- Phương pháp chủ yếu: thuyết trình, phát vấn
- Ngoài ra còn sử dụng các phương pháp khác như: thảo luận, xêmina, so sánh, lôgíc,…
E. Tài liệu học tập: (dành cho người học)
1. Giáo trình của Bộ giáo dục và đào tạo biên soạn, HN, 2009
2. Sách tham khảo:
2.1. Giáo trình Tư tưởng Hồ Chí Minh Hội đồng chỉ đạo biên soạn TW
2.2. Nguyễn Thế Thắng, Tìm hiểu tư tưởng đạo đức cách mạng Hồ Chí Minh, Nxb. Lao
động, H, 2002
2.3. Bùi Đình Phong, Đỉnh cao tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hoá, Nxb. Lao động, H,
2001
2.4. Hoàng Trang - Phạm Ngọc Anh, Tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh với việc giáo dục

+ Văn hóa cũng không phải chỉ thu hẹp trong lĩnh vực giáo dục, không chỉ
phản ánh trình độ học vấn của một người, mà là thước đo trình độ phát triển của
toàn xã hội: về sản xuất, khoa học - kỹ thuật, chính trị, tôn giáo, văn học – nghệ
thuật, đạo đức, lối sống, phong tục tập quán,…

2
b. Quan điểm về xây dựng một nền văn hóa mới
Cùng với định nghĩa về văn hóa, Hồ Chí Minh đã đưa ra 5 điểm lớn
định hướng cho việc xây dựng nền văn hóa dân tộc:
“1. Xây dựng tâm lý: tinh thần độc lập tự cường
2. Xây dựng lý luận: biết hy sinh mình, làm lợi cho quần chúng
3. Xây dựng xã hội: mọi sự nghiệp có lien quan đến phúc lợi của nhân
dân trong xã hội
4. Xây dựng chính trị: dân quyền
5. Xây dựng kinh tế” (tập 3, tr.431)
Có thể thấy: từ rất sớm, Hồ Chí Minh đã quan tâm tới văn hóa trong đời
sống xã hội. Ta hiểu vì sao ngay sau khi giành được độc lập, Người đã đưa
văn hóa vào chiến lược phát triển đất nước.
2. Quan điểm của Hồ Chí Minh về các vấn đề chung của văn hóa
a. Quan điểm về vị trí, vai trò của văn hoá trong đời sống xã hội
- Một là, văn hoá là đời sống tinh thần của xã hội, là thuộc về kiến trúc thượng tầng,
Hồ Chí Minh xác định: văn hoá có mối quan hệ mật thiết với kinh tế,
chính trị, xã hội, tạo thành bốn vấn đề chủ yếu của đời sống xã hội và văn
hoá, quan trọng ngang kinh tế, chính trị, xã hội
+ Trong quan hệ với chính trị, xã hội
-> Chính trị, xã hội có được giải phóng thì văn hoá mới được giải
phóng. Chính trị giải phóng mở đường cho văn hoá phát triển. Người nói:
“Xã hội thế nào, văn nghệ thế ấy… Dưới chế độ thực dân và phong kiến,
nhân dân ta bị nô lệ, thì văn nghệ cũng bị nô lệ, bị tồi tàn, không thể phát
triển được”.

nghĩa như vậy.
-> Văn hoá ở trong kinh tế, tức là văn hoá phải phục vụ, thúc đẩy việc
xây dựng và phát triển kinh tế.

4
+ Kinh tế và chính trị cũng phải có tính văn hóa
Văn hoá ở trong kinh tế và chính trị, cũng có nghĩa là chính trị và kinh
tế phải có “tính văn hoá”. Đây là một đòi hỏi chính đáng của văn hoá hiện
đại. Làm chính trị, làm kinh tế phải có văn hoá…
Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã đề ra khẩu hiệu “kháng chiến hóa văn hóa, văn hóa hóa kháng
chiến”. cũng là theo tinh thần ấy. Ngày nay, đi vào xây dựng chủ nghĩa xã
hội, Đảng ta cũng đòi hỏi văn hóa phải thâm nhập sâu vào kinh tế và chính
trị. Hiện nay, chúng ta đang nói đến văn hóa kinh doanh, văn hóa tiếp thị,
văn hóa chính trị, văn hóa lãnh đạo,v.v…đều theo nghĩa ấy.
Từ đó, Hồ Chí Minh đòi hỏi: “trong công cuộc kiến thiết nước nhà, có 4
vấn đề phải chú ý đến, cùng phải coi trọng ngang nhau: chính trị, kinh tế, xã
hội, văn hóa” (Báo cứu quốc, số ra ngày 8-10-1945). Trong mối quan hệ
giữa văn hóa với phát triển chúng ta cần phải quán triệt đầy đủ quan điểm
nay. Năm 1988, mở đầu “Thập kỷ thế giới phát triển văn hóa”, Tổng giám
độc UNESCO đã phát biểu: “Văn hóa và phát triển là hai mặt gắn liền với
nhau…Hễ nước nào tự đặt mục tiêu phát triển mà tách ròi môi trường văn
hóa thì sẽ xẩy ra những mất cân đối nghiêm trọng cả về mặt kinh tế lẫn văn
hóa và tiềm năng sáng tạo của nước ấy sẽ bị suy yếu nhiều”… “Văn hóa cần
coi mình là nguồn cổ vũ trực tiếp cho phát triển và ngược lại, phát triển cần
thiết nhận văn hóa giữ vị trí trung tâm, một vai trò điều tiết xã hội” (Tạp chí
Thông tin UNESCO, tháng 11 -1988, tr.5)
Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, tư tưởng đó cảu Hồ Chí Minh đã được thực
tế chứng minh là sáng suốt. Đại hội VIII, Đảng ta cũng khẳng định: “Văn
hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc

nghị văn hóa toàn quốc năm 1946, Hồ Chí Minh nhấn mạnh phải “trau dồi
cho văn hóa văn nghệ có tinh thần thuần túy Việt Nam”, phải “lột cho hết
tinh thần dân tộc”. “Nếu dân tộc hóa phát triển đến cực điểm thì tức là đến
chỗ thế giới hóa nó, vì lúc bấy giờ văn hóa thế giới sẽ phải chú ý đến văn hóa
của mình và văn hóa của mình sẽ chiếm được địa vị ngang với các nền văn
hóa thế giới” (Báo cứu quốc, số ra ngày 9-10-1945)

6
- Tính dân tộc của văn hóa được biểu hiện:
+ Ở chủ nghĩa yêu nước và tinh thần độc lập, tự cường của dân tộc. Văn hóa
phải thể hiện ở nội dung tuyên truyền cho “lý tưởng tự chủ, độc lập, tự do” và
tinh thần “vì nước quên mình”
+ Tính dân tộc của văn hóa đòi hỏi phải thể hiện được cốt cách và tâm hồn
con người Việt Nam, đó là truyền thống yêu nước, cần cù, dũng cảm, đoàn kết,
thương người,…tóm lại là tất cả những gì cao đẹp nhất trong tâm hồn và tính
cách Việt Nam đã được hun đúc qua hang ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ
nước
Muốn thực hiện được yêu cầu này, Người đòi hỏi các nhà văn hóa – văn nghệ
phải đi sâu vào quần chúng nhân dân. Có như vậy mới phát hiện, mô tả được
chiều sâu của tính cách và tâm hồn quần chúng. Người yêu cầu phải học lịch sử
và hiểu truyền thống dân tộc, truyền thống văn hóa – nghệ thuật. Người căn dặn
văn nghệ sĩ: “Nghệ thuật của ông cha hay lắm, tốt lắm, cố gắng mà giữ gìn”,
“Làm công tác văn nghệ mà không tìm hiểu sâu vốn của dân tộc thì không làm
được đâu”
+ Tính dân tộc của văn hóa còn được thể hiện ở hình thức và phương diện
diễn đạt. Mỗi dân tộc có nếp cảm, nếp nghĩ riêng, có hình thức diễn đạt riêng đi
thẳng vào long người, lay động sâu xa tâm hồn họ. Người nhắc nhở: “Nhân dân ta
có truyền thống kể chuyện ngắn gọn và có duyên. Cácchus phải học cách kể
chuyện của nhân dân” (tập 12, tr.553)
Về mặt ngôn ngữ, Người căn dặn: “Tiếng nói là một thứ của cả rất quý báu

chức lại các quan hệ văn hóa từ trong một nhà, một làng, một trường học đến một
cơ quan, đơn vị bộ đội,…sao cho việc làm, ăn, ở, học tập, lao động,…phải tuân
theo đời sống mới, bài trừ các phong tục, tập quán cổ hủ, làm cho nếp sống xã hội
ngày một tiến bộ hơn, hợp với khoa học và văn minh

8
* Tính đại chúng của văn hóa
- Tính đại chúng của nền văn hóa được thể hiện ở chỗ nền văn hóa ấy phải phục vụ nhân
dân và do nhân dân xây dựng nên. Hồ Chí Minh đặt vấn đề: Văn hóa phục vụ ai? Và
Người khẳng định dứt khoát: văn hóa phải pục vụ đại đa số nhân dân, phải hướng về
đại chúng, phải phản ánh được tâm tư, nguyện vọng, ý chí của nhân dân. Người thường
xuyên nhắc nhở người cầm bút: “Phải đặt câu hỏi: Viết cho ai?
– Viết cho đại đa số công – nông – binh
Viết để làm gì?
- Để giáo dục, giải thích, cổ động, phê bình
- Để phục vụ quần chúng
Tại Hội nghị những người tích cực làm công tác văn hóa quần chúng (2-1960),
Người nói: “Văn hóa phải thiết thực phục vụ nhân dân, góp phần vào việc nâng
cao đời sống vui tươi, lành mạnh của quần chúng”.
- Văn hóa là trình độ phát triển của con người, do con người làm ra, nó phải trở về
phục vụ con người. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đấu tranh giải phóng dân tộc để đem lại tự
do, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân, trong đó có văn hóa. Đó là tính nhất quán trong sự
nghiệp cách mạng của Người
c. Quan điểm về chức năng của văn hóa
- Bồi dưỡng tư tưởng đúng đắn và tình cảm cao đẹp cho con người – Đây là chức năng
cao quý nhất của văn hóa
+ Bồi dưỡng tư tưởng đúng đắn
Văn hoá thuộc đời sống tinh thần của xã hội. Tư tưởng và tình cảm là
vấn đề chủ yếu nhất của đời sống tinh thần của xã hội. Vì vậy, theo Hồ Chí
Minh, văn hoá phải thấm sâu vào tâm lý quốc dân để thực hiện chức năng

dân tộc dốt là một dân tộc yếu” (tập4, tr.8)
“Chúng ta có nhiệm vụ cấp bách là phải giáo dục lại nhân dân chúng
ta. Chúng ta phải làm cho dân tộc chúng ta trở nên một dân tộc dũng cảm,
yêu nước, yêu lao động, một dân tộc xứng đáng với nước Việt Nam độc lập”
(t.4, tr.8)

10
+ Văn hóa có chức năng nâng cao trình độ dân trí nhằm đáp ứng với sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước, đặc biệt là trong giai đoạn cách mạng
mới:
“biến một nước dốt nát, cực khổ thành một nước văn hóa cao và đời
sống vui tươi hạnh phúc” (tập 8, tr. 494). Đó cũng mục tiêu “dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” mà Đảng đã vạch ra trong công
cuộc đổi mới hiện nay.
- Bồi dưỡng những phẩm chất tốt đẹp, những phong cách, lối sống lành mạnh, luôn
hướng con người vươn tới cái chân, thiện, mỹ, không ngừng hoàn thiện bản thân
Quan điểm này được thể hiện rõ trong tác phẩm “Đường cách mệnh”,
“Sửa đổi lối làm việc”, “Đời sống mới”, “Nâng cao đạo đức cách mạng”,…
và thể hiện ngay trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí
Minh
+ Về những phẩm chất cần có của mỗi người trong xã hội
Hồ Chí Minh thường nêu cao những phẩm chất chủ yếu sau: Trung với
nước, hiếu với dân; Hết lòng yêu thương con người; Cần, kiệm, liêm, chính,
chí công vô tư; tinh thần quốc tế trong sáng…
+ Về phong cách sống
Người chú trọng tới đức tính khiêm tốn, giản dị, thật thà, dũng cảm; nói
đi đôi với làm, gương mẫu về đạo đức; tin yêu, đoàn kết với mọi người;
nghiêm minh với bản thân, bao dung, độ lượng với người khác
+ Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ, muốn có được những phẩm chất và phong cách
đó, tự bản thân con người rèn luyện chưa đủ, mà hoạt động văn hoá đóng

sau đây:
+ Mục tiêu của văn hóa giáo dục là thực hiện cả ba chức năng của văn hóa bằng
giáo dục (bằng dạy và học)
Giáo dục để mở mang dân trí, nâng cao kiến thức, bồi dưỡng tư tưởng
đúng đắn, tình cảm cao đẹp, những phẩm chất trong sáng và phong cách lành
mạnh cho nhân dân
-> Đó là đào tạo ra những con người vừa có đức vừa có tài, học để làm
việc, làm người, làm cán bộ

12
-> Đó là “cải tạo trí thức cũ”, “đào tạo trí thức mới”, thực hiện “công
nông trí thức hóa”, “trí thức công nông hóa”. Xây dựng đội ngũ trí thức ngày
càng đông đảo và có trình độ ngày càng cao.
Nền văn hóa giáo dục còn phải đào tạo những lớp người kế cận sự
nghiệp cách mạng, xây dựng đất nước giàu mạnh và văn minh để theo kịp
các nước khác trên hoàn cầu, “sánh vai cùng các cường quốc năm châu”,
tinh thần ấy được cô đọng trong câu nói của Bác: “vì lợi ích mười năm thì
phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”
+ Phải tiến hành cải cách giáo dục để xây dựng một hệ thống trường lớp với
chương trình, nội dung dạy và học thật khoa học, thật hợp lý, phù hợp với những
bước phát triển của nước ta
-> Nội dung của giáo dục bao gồm cả văn hóa, chính trị, khoa học – kỹ
thuật, chuyên môn nghiệp vụ, lao động.
-> Phương châm, phương pháp giáo dục.
Hồ Chí Minh nói: “Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì thành thực
tiễn mù quáng. Lý luận mà không liên hệ với thực tiễn là lý luận suông” (t.8,
tr.496)
Phương châm bao gồm: học đi đôi với hành, lý luận gắn liền với thực
tế; học tập kết hợp với lao động; phối hợp nhà trường – gia đình – xã hội;
thực hiện dân chủ, bình đẳng trong giáo dục; học suốt đời. Coi trọng việc tự

=> Những quan điểm của Hồ Chí Minh về văn hóa giáo dục là một hệ
thống những quan điểm rất phong phú và hoàn chỉnh. Nếu những quan điểm
ấy đã được thực hiện , từ đó đem lại những thành tựu và niềm tự hào to lớn
cho nền giáo dục Việt Nam trong mấy thập niên của cách mạng kháng chiến,
thì sự suy thoái của nền giáo dục nước ta hiện nay đòi hỏi chúng ta lại phải
nghiên cứu để quán triệt hơn nữa những quan điểm ấy, nhằm tiếp tục đưa sự
nghiệp giáo dục tiến lên phía trước.
* Văn hóa văn nghệ
- Thứ nhất, văn nghệ là một mặt trận, văn nghệ sỹ là chiến sỹ, tác phẩm văn nghệ là vũ
khí sắc bén trong đấu tranh cách mạng, trong xây dựng xã hội mới, con người mới
+ Văn nghệ là mặt trận
-> Văn nghệ một bộ phận của cách mạng. “Mặt trận” là thể hiện tính
chất cam go, quyết liệt. Cho nên tác phẩm văn nghệ và ngòi bút của các văn

14
nghệ sỹ phải là vũ khí sắc bén, là “phò chính trừ tà”, vạch trần, tố cáo tội ác,
âm mưu của lực lượng thù địch đầu độc văn hoá…
Đồng thời, văn nghệ có vai trò thức tỉnh, định hướng, cổ vũ tinh thần
đấu tranh, tổ chức lực lượng, động viên dân chúng phấn khởi, tin tưởng thực
hiện thắng lợi chủ trương, đường lối, chính sách của đảng và nhà nước.
-> Khi đã có chính quyền: tính chất mặt trận của văn nghệ vẫn không
giảm, mà còn tăng lên, nặng nề hơn. Bởi lẽ, xây dựng nền văn nghệ cách
mạng là nhiệm vụ chủ yếu, lâu dài. Văn nghệ góp phần định hướng tư tưởng
đúng đắn, bóc trần những thói hư tật xấu: tham ô, lãng phí, quan liêu… là
những lực cản trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội.
+ Văn nghệ sỹ là chiến sỹ
Để làm tròn vai trò người chiến sỹ, văn nghệ sỹ cần :
-> có lập trường, tư tưởng đúng đắn
-> Đặt lợi ích và nhiệm vụ phụng sự tổ quốc và nhân dân lên trên hết.
-> không ngừng nâng cao trình độ chính trị, văn hoá, nghiệp vụ, đặc

cho họ sự đam mê, chuyển biến trong tư tưởng, tình cảm, tâm hồn.
Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Quần chúng mong muốn những tác phẩm
có nội dung chân thật và phong phú; hình thức phải trong sáng, vui tươi,
khi chưa xem thì muốn xem, xem rồi thì có bổ ích. Các văn nghệ sỹ cần
làm cho món ăn tinh thần được phong phú, không nên bắt mọi người chỉ
được ăn một món thôi, cũng như vào vườn hoa cần cho mọi người thấy
được nhiều loại hoa đẹp”
-> Tác phẩm “hay” là tác phẩm cần diễn đạt vừa đủ những điều đáng
nói, ai đọc cũng “hiểu” được.
-> Là tác phẩm phản ánh được những giá trị truyền thống của dân tộc,
mang được hơi thở của thời đại vừa phải ca ngợi cái chân thật của người tốt,
việc tốt, vừa phải “phê phán” cái giả, cái ác, cái sai.
=> Trên đây là những quan điểm của Hồ Chí Minh về văn hoá, văn
nghệ rất thiết thực và đúng đắn, chúng ta cần nghiên cứu và phát triển tốt vào
công tác văn hoá, văn nghệ hiện nay.

16
* Về văn hoá đời sống
Theo Hồ Chí Minh, xây dựng văn hoá đời sống tức là xây dựng đời
sống mới. Đây là điều Hồ Chí Minh quan tâm rất sớm. Ngay từ khi mới
giành được chính quyền, bắt đầu xây dựng đời sống mới, Hồ Chí Minh đã
quan tâm đến xây dựng đời sống mới (tháng 1/1946), đến tháng 4/1946,
thành lập Ban TW vận động đời sống mới, tháng 3/1947 viết tác phẩm “Đời
sống mới”
- Văn hoá đời sống thực chất là “đời sống mới” với ba nội dung (gồm: đạo đức mới,
lối sống mới, nếp sống mới, trong đó đạo đức mới đóng vai trò chủ yếu nhất)
+ Đạo đức mới:
-> Đạo đức mới trong đời sống mới là cần, kiệm, liêm, chính.
Người chỉ rõ: nếu không giữ đúng cần, kiệm, liêm, chính dễ trở nên hủ
bại, biến thành sâu mọt của dân. Nêu cao và thực hành cần, kiệm, liêm,

đến nơi đến chốn, hết lòng vì nước, vì dân, thấy việc tốt thì dù nhỏ cũng
làm…”
+ Nếp sống mới:
Xây dựng nếp sống mới (nếp sống văn minh) là xây dựng những thói
quen và phong tục, tập quán tốt đẹp, kế thừa và phát triển được những
thuần phụng, mỹ tục lâu đời của dân tộc.
Trong tác phẩm “Đời sống mới” (1947), Người quan niệm: “Đời sống
mới không phải cái gì cũ cũng bỏ hết, không phải cái gì cũng làm mới…
Cái gì cũ mà xấu thì phải bỏ… Cái gì cũ mà không xấu, nhưng phiền phức
thì phải sửa đổi lại cho hợp lý… Cái gì cũ mà tốt, thì phải phát triển
thêm… Cái gì mới mà hay, thì ta phải làm” (tập 5, tr.94-95), phải bổ sung,
xây dựng thuần phong mỹ tục trong các vấn đề vệ sinh, giỗ tết, ma chay,
cưới hỏi… đồng thời, phải chống các hủ tục như cờ bạc, hút xách…
-> Hồ Chí Minh chỉ rõ: xây dựng nếp sống mới rất khó khăn, phức tạp
vì: thói quen rất khó sửa đổi, nó có sức ỳ cản trở ta
-> Yêu cầu để xây dựng nếp sống mới:
Quá trình đổi mới nếp sống mới phải rất cẩn thận, chịu khó, lâu dài,
không thể dùng cách trấn áp thô bạo đối với cái cũ, lạc hậu
Phải tuyên truyền, giải thích một cách hăng hái, bền gan, chịu khó, cẩn
thận, khôn khéo, mềm mỏng…
Phải dùng biện pháp nêu gương: người nêu gương, nhà làm gương, làng
làm gương… nói đi đôi với làm mới đạt kết quả.

18
=> Tư tưởng Hồ Chí Minh về đời sống mới nói riêng và văn hoá đời
sống nói chung là một hình thức quan điểm, phương pháp thiết thực, rất cần
thiết đối với quá trình xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hoá hiện
nay của chúng ta. Cần xem xét, nghiên cứu và quán triệt tốt hơn nữa vào quá
trình đổi mới của ta trong giai đoạn hiện nay.
II. TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC

chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi tin theo Lênin, tin theo quốc tế thứ ba”
+ Truyền thống hiếu học
Người Việt Nam có truyền thống hiếu học. Trong các tầng lớp xã hội
Việt Nam thời phong kiến trước đây, người sĩ phu chiếm địa vị hàng đầu. Họ
thường là những người học cao, hiểu rộng, có đạo đức thanh cao. Có con học
giỏi là một vinh hạnh của cha mẹ. Cho nên dù nghèo đói đến đâu, cha mẹ
cũng cố tìm cách cho con cái được học hành. “Nửa bụng chữ bằng một hũ
vàng” là một câu tục ngữ biểu hiện nhiệt tình, ham muốn có học thức của
người Việt Nam.
Dân tộc ta sớm có quan niệm học theo nghĩa rộng. Muốn học để nắm
bắt được tri thức văn hóa, kinh nghiệm sản xuất chiến đấu của dân tộc và
loài người. Coi trọng việc học giao tiếp, quan hệ, lễ nghĩa, kiến thức thực tế
để trở thành người có ích cho xã hội. “Học ăn, học nói, học gói, học mở”,
“Nhân bất học, bất tri lý”
+ Truyền thống thủy chung, đoàn kết
Người Việt Nam có tinh thần đào kết và ý thức cộng đồng sâu sắc. Đức
tính này được chung đúc từ cuộc đấu tranh giann khổ dựng nước và giữ nước
mấy ngàn năm lịch sử của dân tộc. Với người Việt Nam chỉ có lien kết chặt
chẽ với nhau mới có thể chống nổi thiên tai, bão lụt thường xuyên hết năm
này đến năm khác. Chỉ có đoàn kết một lòng, một dạ thì cộng đồng người
Việt Nam mới có thể tồn tại được trước những âm mưu đồng hóa, xâm lược
của mọi đế chế phương Bắc. Chỉ có đoàn kết, cộng đồng người Việt mới có
thể thắng được các cuộc chiến tranh xâm lược thường xuyên của các đế chế
lớn mạnh hơn mình gấp nhiều lần. Cho nên tình đoàn kết, ý thức cộng đồng
dân tộc của người Việt Nam hình thành từ rất sớm và trở thành lẽ sống của
con người. Bởi vì:

20
“Một cây làm chẳng lên non
Ba cây chụm lại lên hòn núi cao”

Phật giáo có ảnh hưởng sâu sắc trong phong tục, tín ngưỡng, tâm lý, đạo
đức và lối sống của nhân dân ta. Hồ Chí Minh đánh giá rất cao tư tưởng đạo
đức của Phật giáo và Phật Thích Ca.
Người nói: “Đức phật là đai từ bi, cứu khổ, cứu nạn. Muốn cứu chúng
sinh ra khỏi khổ nạn. Người phải hy sinh, tranh đấu, diệt lũ ác ma…chúng ta
làm theo lòng đại từ bi của đức Phật Thích Ca, kháng chiến để đưa giống nòi
ra khỏi cái khổ nô lệ”
Tư tưởng “từ bi hỷ xả” của Phật giáo làm cho nó sống mãi trong lòng
dân
Hồ Chí Minh đã tiếp thu, sử dụng những tinh hoa đạo đức của Phật
giáo, có quan hệ tốt đẹp với đồng bào theo đạo Phật ở nước ta. Và ngược lại,
đồng bào theo Phật giáo cũng hết sức ngưỡng mộ Người, nhất là về đạo đức.
Đồng bào gọi Người là: “Bậc đại anh hùng đại lực, kiên cố, bất thối chuyển”
(HCM với phật giáo Việt Nam, NXB CTQG, HN, 1997, tr.98)
- Tinh hoa đạo đức phương Tây
+ Thiên chúa giáo:
Hồ Chí Minh khẳng định rõ: “Tôn giáo GiêSu có ưu điểm là lòng nhân
ái cao cả”, “Chúa Cơ đốc hy sinh để cứu loài người khỏi ách nô lệ, đưa
loài người về hạnh phúc, bình đẳng, bác ái, tự do” (HCM về tôn giáo tín
ngưỡng. NXB KHXH, 1996, tr. 152, tr.220)
Đạo thiên chúa khuyên con người làm điều thiện, tránh điều ác.
Chính Ăngghen đã đánh giá cao lý tưởng đạo đức của Thiên chúa Giáo,
nhất là khi nó mới ra đời, so sánh nó với lý tưởng cộng sản. Năm 1894, trong
tác phẩm “Bàn về lịch sử đạo Cơ Đốc sơ kỳ”, ông viết: “cả đạo Cơ Đốc lẫn
chủ nghĩa xã hội công nhân đều tuyên truyền sự giải phóng con người
trong tương lai khỏi cảnh nô lệ và nghèo khổ; đạo Cơ Đốc tìm sự giải thoát
ấy trong cuộc sống trên trời, ở thế giới bên kia sau khi chết, còn chủ nghĩa
xã hội thì tìm nó ở thế giới này, ở việc tổ chức lại xã hội” (Mác – Ăngghen
toàn tập, tập 22, NXB CTQG, 1995, tr.663)


nhất cho loài người thì chúng ta sẽ không oằn lưng dưới gánh nặng của nó,

23
bởi gánh nặng ấy là sự hy sinh vì mọi người. Khi ấy, điều chúng ta cảm nhận
được không phải là một niềm vui thảm hại, hạn hẹp, vị kỷ, mà niềm hạnh
phúc của chúng ta thuộc về hàng triệu người, lúc đó, sự nghiệp của chúng ta
sẽ sống một cuộc sống thầm lặng, nhưng có hiệu lực vĩnh hằng, và những con
người cao thượng sẽ rơi những giọt lệ cháy bỏng trước thi hài chúng ta”( Mác
– Ăngghen: Toàn tập, tập 10, Nxb. CTQG, H, 2000, tr.18)
Sự nghiệp đấu tranh cho hạnh phúc của tất cả mọi người, xây dựng một
xã hội mới mà sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát
triển tự do của tất cả mọi người là sự nghiệp cao cả của chủ nghĩa cộng sản.
Sống, chiến đấu cho lý tưởng cộng sản là nguyên tắc hàng đầu của đạo đức
cộng sản, hệ tư tưởng đạo đức của giai cấp công nhân, đấu tranh cho lợi ích
của toàn nhân loại và sự thắng lợi của chủ nghĩa cộng sản.
Ph. Ăngghen đánh giá vai trò của đạo đức vô sản với xã hội là một động
lực của cách mạng vô sản và sẽ phát triển ngày một rộng rãi cùng với phong
trào cách mạng của giai cấp công nhân. ông khẳng định: “Chúng ra thấy rằng,
ba giai cấp trong xã hội hiện đại: giai cấp quý tộc phong kiến, giai cấp tư sản
và giai cấp vô sản, mỗi giai cấp đều có đạo đức riêng của mình, nhưng tất
nhiên thứ đạo đức hiện nay tiêu biểu cho sự lật đổ hiện tại, biểu hiện cho lợi
ích của tương lai, tức là đạo đức vô sản – là thứ đạo đức có một số lượng
nhiều nhất những nhân tố hứa hẹn một sự tồn tại lâu dài”
1
.
Ăngghen tin tưởng rằng đạo đức vô sản sẽ phát triển cùng với sự phát triển
không ngừng của giai cấp vô sản trên toàn thế giới. Đó là một sự thật, một tất
yếu khách quan không có gì thay đổi nổi. Cũng như là sự sụp đổ của giai cấp tư
sản và thắng lợi của giai cấp vô sản đều tất yếu như nhau.
Mác đã nêu lên bản chất nhân đạo của chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng

là do giới luật của Thượng đế mà có, bác bỏ những quan niệm về một thứ đạo
đức phi tính lịch sử, giai cấp công nhân và nhân loại kiểu ông Đuy-rinh đã từng
nêu ra trong thời kỳ Mác – Ăngghen hoạt động, đó là những lý thuyết dối trá,
mị dân.
Lênin đã nêu rõ bản chất của đạo đức cộng sản: “Đối với chúng ta, đạo đức
phải phục tùng lợi ích của cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản” (Lênin:
Toàn tập, tập 41, Sđd, tr. 371). Lênin đã đưa ra định nghĩa và nhữn nội dung cách

25

Trích đoạn Đạo đức cách mạng là “gốc” của người cách mạng Đạo đức là tiêu chuẩn hàng đầu của người lãnh đạo trong điều kiện đảng cầm quyền. Trung với nước, hiếu với dân trong giai đoạn mới là: Hồ Chí Minh giải thích nội dung của các mệnh đề: Bên cạnh việc chỉ rõ những mệnh đề, chuẩn mực xây dựng đạo đức mới: cần, kiệm,
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status