LỜI MỞ ĐẦU
Thị trường tài chính Việt Nam đang sôi động từng ngày bởi sự lớn
mạnh của các doanh nghiệp trong và ngoài nước kéo theo đó là sự phát triển
không ngừng của toàn bộ nền kinh tế Việt Nam tạo cho nước ta một vị thế
không nhỏ trên trường quốc tế. Sau một thời gian dài đàm phán để gia nhập
vào tổ chức thương mại thế giới, ngày 7/11/2006, cả nước ta hoan hỉ chào đón
Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của WTO, đánh dấu một
bước đột phá đối với nền kinh tế Việt Nam. Cũng chính từ thời điểm đó những
mối quan hệ thương mại quốc tế mới mở ra trước mắt làm cho bánh xe kinh tế
Việt Nam đã nóng lại càng nóng hơn và như được bôi trơn dầu mỡ, nó bắt đầu
hoạt động nhịp nhàng với tốc độ ngày càng tăng hứa hẹn một tương lai vững
mạnh cho Việt Nam trên mọi mặt của nền kinh tế.
Để thúc đẩy cỗ máy kinh tế đó hoạt động tốt các doanh nghiệp, các tổ
chức kinh tế cũng như mọi cá nhân đã đang và sẽ nỗ lực không ngừng trong
khả năng có thể để làm lành mạnh doanh nghiệp, đưa doanh nghiệp hoạt động
hiệu quả hơn. Một trong những vấn đề mà các doanh nghiệp phải đối mặt khi
nền kinh tế thị trường ngày càng phát triển đó là các quan hệ tín dụng ngày
càng trở nên đa dạng và phức tạp, chính từ đó sự phát sinh nợ đã trở thành một
yếu tố tất nhiên trong hoạt động kinh doanh, trong đó bao gồm cả tín dụng
ngân hàng và tín dụng thương mại. Tình trạng nợ nần này phải được nhìn từ cả
hai khía cạnh: từ phía người cho vay (bên cung cấp tín dụng hay là chủ nợ) và
phía người đi vay (bên nhận tín dụng hay khách nợ), và đôi khi phải tính đến
cả những yếu tố thị trường nữa (những tác nhân bên ngoài ảnh hưởng tới quan
hệ tín dụng của cả hai bên).
Hiện nay ở nước ta nhiều doanh nghiệp đang phải đối mặt với rủi ro
tín dụng rất cao trong đó rủi ro rủi ro về tổn thất nợ khó đòi là một trong
những nhân tố cần được kiểm soát chặt chẽ. Trong nhiều trường hợp, tổn thất
1
nợ khó đòi giữa các doanh nghiệp đang tiếp tục gia tăng làm suy giảm năng
lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, thậm chí dẫn tới nguy cơ phá sản. Trước
nền kinh tế đã được hội nhập, trước môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt,
vốn có mối quan hệ chặt chẽ và luôn được ghi chép trên bảng cân đối kế toán.
Trong đó bảng cân đối kế toán là một báo cáo tài chính tổng hợp phản ánh
tổng quát tình hình vốn của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định theo
nguồn tình hình tài sản (giáo trình Hạch toán kế toán trong các doanh nghiệp).
Bảng cân đối kế toán thông thường có các khoản mục sau:
3
TÀI SẢN NGUỒN VỐN
Tài sản lưu động
1. Tiền
2. Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn
3. Các khoản phải thu
4. Hàng tồn kho
5. Tài sản lưu động khác
6. Chi sự nghiệp
Tài sản cố định và đầu tư dài hạn
1. Tài sản cố định
-1 Tài sản cố định hữu hình
-2 Tài sản cố định thuê tài chính
-3 Tài sản cố định vô hình
2. Các khoản đầu tư tài chính dài hạn
3. Chi phí xây dựng cơ bản dở dang
4. Các khoản ký quỹ ký cược dài hạn
5. Chi phí trả trước dài hạn
Nợ phải trả
1. Nợ ngắn hạn
2. Nợ dài hạn
3. Nợ khác
Nguồn vốn chủ sở hữu
1. Nguồn vốn-quỹ
-4 Nguồn vốn kinh doanh
+ Có giá trị thực sự đối với doanh nghiệp
+ Có giá phí xác định.
1.1.2. Phân loại
Có rất nhiều cách phân loại tài sản trong các doanh nghiệp, nhưng cách
phân loại thông thường nhất là theo cách phân loại về mặt giá trị và tính chất
luân chuyển của tài sản, theo chế độ kế toán và để tiện theo dõi, toàn bộ tài sản
của các doanh nghiệp được chia làm hai loại
Loại 1: Tài sản lưu động (TSLĐ)
Là những tài sản có thời gian luân chuyển ngắn, tức là vòng đời của nó
khoảng dưới một năm. TSLĐ phản ánh toàn bộ giá trị của các loại tài sản lưu
động của doanh nghiệp bao gồm nhiều loại với tính chất công dụng khác
nhau,vì thế để tiện lợi cho việc quản lý, tài sản lưu động được phân theo các
cách khác nhau:
Theo lĩnh vực tham gia luân chuyển: tài sản lưu động gồm ba loại: Tài
sản lưu động sản xuất, tài sản lưu động lưu thông và tài sản lưu động tài chính.
+ Tài sản lưu động sản xuất gồm những tài sản dự trữ cho quá trình sản
xuất và tài sản trong sản xuất.Nó là những nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ….
5
+ Tài sản lưu động lưu thông bao gồm tài sản dự trữ cho quá trình lưu
thông và tài sản trong quá trình lưu thông. Đó là hàng hoá, thành phẩm, hàng
đang chuyển, hàng tồn kho…
+ Tài sản lưu động tài chính là các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn với
mục đích kiếm lời. Tài sản lưu động tài chính bao gồm các chứng khoán đầu
tư ngắn hạn…
Theo khả năng thanh khoản tức là khả năng huy động cho khả năng
thanh toán, người ta chia tài sản lưu động thành các loại sau:
+ Tiền mặt: là tài sản của đơn vị tồn tại trực tiếp dưới hình thái giá trị.
Thuộc về tiền của đơn vị bao gồm tiền mặt, tiền gửi ngân hàng và tiền đang
chuyển. Tiền mặt là tài sản có tính thanh khoản cao nhất.
+ Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn: là những khoản đầu tư về vốn
đặc quyền hoặc quyền của doanh nghiệp như quyền sử dụng đất, bản quyền,
bằng phát minh sáng chế….Với loại tài sản này đặc biệt là những tài sản thuộc
quyền sở hữu của doanh nghiệp nhưng có thể không kiểm soát được về mặt
pháp lý như các bí quyết kỹ thuật thu được từ quá trình sản xuất kinh doanh,
phát minh, sáng chế…sẽ chỉ thoả mãn khái niệm về tài sản khi nó vẫn còn giữ
được bí mật và doanh nghiệp vẫn thu được lợi ích kinh tế từ tài sản đó.
Tài sản cố định có thể được hình thành do đơn vị tự đầu tư hoặc thuê dài
hạn. Những tài sản thuê ngoài không thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp
nhưng doanh nghiệp kiểm soát được và thu được lợi ích kinh tế trong tương
lai.
1.1.3. Đánh giá và ghi nhận tài sản của doanh nghiệp
Doanh nghiệp ngay từ khi được thành lập, quy mô của nó phụ thuộc vào
vốn hình thành thể hiện qua tài sản và nguồn vốn. Tài sản đóng vai trò quan
7
trọng trong sự phát triển của doanh nghiệp do đó đánh giá và ghi nhận tài sản
của doanh nghiệp là công việc rất có ý nghĩa trong công tác quản lý, sử dụng
đầy đủ và hợp lý tài sản trong doanh nghiệp.
Đánh giá và ghi nhận tài sản của doanh nghiệp là quá trình theo dõi nắm
bắt tình hình biến động của tài sản về số lượng và chất lượng cũng như tình
hình sử dụng tài sản đó.
Giá trị tài sản cũng như nguồn vốn được phản ánh trong sổ sách kế toán
thông qua phương pháp hạch toán kế toán. Tài sản được ghi nhận trong sổ
sách kế toán lần đầu tiên theo đúng toàn bộ giá trị thực tế của nó tại thời điểm
đó (với tài sản cố định, nó chính là nguyên giá). Tài sản được ghi nhận trong
bảng CĐKT khi doanh nghiệp có khả năng chắc chắn thu được lợi ích kinh tế
trong tương lai từ tài sản đó và giá trị của tài sản đó được xác định một cách
đáng tin cậy. Tuy nhiên trong quá trình sử dụng thì giá trị của những tài sản
trong doanh nghiệp sẽ có sự thay đổi về giá trị do một số yếu tố khác nhau làm
giá của nó tăng, giảm liên tục. Do vậy việc xác định nên đầu tư vào tài sản nào
là rất quan trọng và trong quá trình sử dụng phải thường xuyên đánh giá lại và
trực thuộc và các khoản khác.
Các khoản thanh toán trước và phải thu khác: là các khoản phải thu
không thuộc các khoản phải thu trên. Cụ thể các khoản phải thu khác bao gồm
khoản thu do bắt bồi thường, khoản thu về khoản nợ tiền hoặc vật tư có tính
chất tạm thời, trị giá tài sản thuế chưa xử lý….
b. Theo khả năng thu hồi, nợ phải thu bao gồm:
Nợ không có khả năng thu hồi: đây là những khoản nợ đã quá hạn thanh
9
toán mà khách hàng vẫn không trả được hoặc những khoản nợ mà doanh
nghiệp sau khi thẩm định thấy khách hàng không thể trả được ngay cả khi thời
hạn thanh toán vẫn còn do khách hàng gặp phải một số những khó khăn không
thể tiếp tục kinh doanh để trả nợ.
Nợ có khả năng thu hồi: Đây là những khoản phải thu vẫn còn hạn
thanh toán và khách hàng vẫn đang hoạt động kinh doanh tốt. Những khoản
phải thu như thế này có thể đem lại cho doanh nghiệp những mối quan hệ tốt
với khách hàng là động lực thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm.
c. Theo hình thức bảo lãnh, nợ phải thu bao gồm:
Theo hình thức này, doanh nghiệp khi trao đổi hàng hoá việc thu tiền về
ngay hay còn cho đối tác nợ lại dựa trên uy tín của đối tác đối với doanh
nghiệp. Có hai hình thức nợ như sau:
Nợ có bảo lãnh: thường áp dụng với những khách hàng mới xuất hliện
trên thị trường mà doanh nghiệp chưa nắm được tình hình hoạt động kinh
doanh của nó; với những khách hàng mà đã từng có những dấu hiệu làm ăn
thua lỗ hay có những bằng chứng chứng minh khách hàng này thường hay
thiếu nợ với những đối tác khác trong kinh doanh. Với những khách hàng này
doanh nghiệp cần phải theo dõi sát sao quá trình hoạt động để kịp thời nắm bắt
tình hình và xử lý khi những khách hàng này có biểu hiện không bình thường
trong kinh doanh.
Nợ không có bảo lãnh: thường áp dụng với những khách hàng lâu năm
của doanh nghiệp; những khách hàng có uy tín trong hoạt động kinh doanh,
thụ sản phẩm kéo theo sự biến đổi trong doanh thu, từ đó ảnh hưởng tới hoạt
động sản xuất kinh doanh tức là đã ảnh hưởng tới toàn bộ hoạt động của doanh
11
nghiệp đó. Như vậy quản lý công nợ phải thu trước tiên là đảm bảo cho khả
năng tiêu thụ sản phẩm ổn định đem lại doanh thu tốt nhất cho doanh nghiệp.
Hạn chế công nợ phải thu ở mức thấp nhất có thể để lành mạnh hoá tài
chính của doanh nghiệp. Mỗi doanh nghiệp khi đi vào hoạt động luôn nhằm
mục đích tối đa hoá lợi nhuận trên cơ sở nâng cao chất lượng doanh nghiệp.
Để đạt được mục tiêu đó, doanh nghiệp cần có hoạt động tài chính tốt. Bởi khi
hoạt động tài chính càng tốt thì doanh nghiệp sản xuất sẽ có ít công nợ => khả
năng thanh toán dồi dào, ít đi chiếm dụng vốn và cũng ít bị chiếm dụng, từ đó
sẽ làm giảm các khoản công nợ phải thu và phải trả, hạn chế được rất nhiều chi
phí phát sinh khi phải xử lý các khoản công nợ trên.
Quản lý công nợ phải thu nhằm nắm rõ tình hình hoạt động sản xuất
kinh doanh của các bạn hàng, từ đó đưa ra những quyết định tốt nhất trong quá
trình mua bán trao đổi hàng hoá với khách hàng đó.
1.2.2.2. Nội dung quản lý
Trong bảng CĐKT của các doanh nghiệp bao giờ cũng có các khoản phải
thu thậm chí có những doanh nghiệp các khoản phải thu này có giá trị khá cao
song trong quá trình thu tiền theo hoá đơn bán chịu cũ thì doanh nghiệp vẫn
tiếp tục bán hàng hoá và sẽ xuất hiện những hoá đơn bán chịu mới. Do đó
trong kinh doanh một doanh nghiệp mua chịu và bán chịu là công việc thường
ngày và hoá đơn cũ được thanh toán thì hoá mới cũng được tạo ra. Tuy nhiên
độ lớn cuả các khoản phải thu của một doanh nghiệp thay đổi theo thời gian,
tuỳ thuộc vào tốc độ thu hồi nợ cũ và tạo ra nợ mới, cũng như sự tác động của
những điều kiện kinh tế chung nằm ngoài tầm kiểm soát của doanh nghiệp.
Nhưng cũng có một số biến số có thể kiểm soát được có thể tác động đến độ
lớn cũng như “chất lượng” của các khoản phải thu một cách mạnh mẽ.
Để quản lý các khoản phải thu doanh nghiệp sẽ có những chính sách
12
khoản nợ mua hàng quá hạn. những biện pháp đó bao gồm gửi thư, gọi điện
thoại, cử người đến gặp trực tiếp, uỷ quyền cho người đại diện, tiến hành các
thủ tục pháp lý … Rõ ràng là khi doanh nghiệp cố gắng đòi nợ bằng cách áp
dụng những biện pháp cứng rắn hơn thì cơ hội thu hồi nợ càng lớn hơn, nhưng
các biện pháp càng cứng rắn thì chi phí thu hồi càng cao. Thêm vào đó, một số
khách hàng có thể khó chịu khi bị đòi tiền gắt gao và cứng rắn, do đó doanh số
tương lai có thể sẽ bị giảm xuống.
b. Theo dõi khoản phải thu
Để theo dõi các khoản phải thu chúng ta có thể xem xét một số các công
cụ sau:
Các chỉ tiêu về công nợ phải thu
•
Kỳ thu tiền bình quân
Đây là một công cụ đo lường để hỗ trợ nhà quản lý theo dõi các khoản
phải thu. Kỳ thu tiền bình quân là tổng giá trị hàng hoá đã bán cho khách hàng
theo phương thức tín dụng thương mại (tổng giá trị các khoản phải thu) tại một
thời điêm nào đó, chia cho doanh số bán chịu bình quân mỗi ngày.
Kỳ thu tiền
Bình quân
=
Tổng giá các khoản phải thu
Doanh số bán chịu bình quân
Kỳ thu tiền bình quân cho biết một đồng tiền bán hàng trước đó phải
mất bao nhiêu ngày mới thu lại được. Đây là phương pháp đo lường đơn giản,
chịu sự chi phối của hai yếu tố chính là:
Sự đo lường áp dụng đối với doanh số bán hàng trung bình mỗi ngày và
không có sự khác biệt về sự phân bố của doanh số bán.
Thời kỳ mà doanh số bán mỗi ngày được sử dụng làm cơ sở để tính
toán. Kỳ thu tiền bình quân có độ nhạy rất cao với yếu tố này.
14
chính sách bán chịu và quản lý các khoản phải thu để tính toán được số vòng
luân chuyển các khoản phải thu một cách hợp lý.
•
Số ngày trung bình để thu các khoản phải thu
Chỉ tiêu này phản ánh tốc độ thu hồi các khoản phải thu ở doanh nghiệp.
15
Số ngày trung bình để thu các khoản phải thu dựa trên hai chỉ tiêu là thời gian
của kỳ phân tích và số vòng luân chuyển các khoản phải thu :
Số ngày tb để thu các
=
Thời gian của kỳ phân tích
Số vòng luân chuyển các khoản phải thu
Chỉ tiêu này cho biết để thu hồi được các khoản phải thu thì cần một
thời gian là bao nhiêu ngày. Nếu số ngày để thu được các khoản phải thu lớn
hơn thời gian bán chịu quy định cho khách hàng thì việc thu hồi này là chậm
và khi đó công ty cần phải điều chỉnh chính sách cho hợp lý để tránh rủi ro tổn
thất nợ phải thu khó đòi.
Phân tích tuổi của các khoản phải thu
Phương pháp phân tích này dựa trên thời gian biểu về tuổi của các
khoản phải thu, cung cấp cho nhà quản trị sự phân bố về tuổi của các khoản
bán chịu. Sự phân tích theo phương pháp này có tác dụng rất hữu hiệu, nhất là
khi các khoản phải thu được xem xét dưới giác độ sự biến động về mặt thời
gian. Bởi vậy nó có thể tạo ra một phương thức theo dõi hiệu quả đối với các
khoản phải thu.
Tuy nhiên phương pháp này chịu sự chi phối rất mạnh mẽ của doanh số
bán theo mùa-vụ. Hay nói cách khác nếu doanh số bán thay đổi thất thường thì
biểu thời gian sẽ cho thấy sự thay đổi rất lớn dù rằng mô hình thanh toán
không thay đổi.
Mô hình số dư khoản phải thu
Mô hình này khắc phục được nhược điểm của mô hình trên. Phương pháp này
vụ phát sinh:
- Khi khách hàng thanh toán tiền;
- Các khoản chiết khấu, giảm giá và hàng bị trả lại được giảm nợ cho
khách hàng;
- Khi nhận tiền do khách hàng do khách hàng ứng trước tiền mua hàng;
- Khi thanh toán bù trừ giữa khoản phải thu và phải trả cho cùng đối
tượng mua hàng.
Ngoài TK 131 "phải thu khách hàng", để quản lý các khoản phải thu kế
toán còn phải sử dụng một số các tài khoản phải thu khác như: TK138 "phải
thu khác", TK 133 "thuế GTGT được khấu trừ", TK 136 "phải thu khác".
Như vậy công tác quản lý các khoản phải thu sẽ rất khó khăn phức tạp
bởi nó liên quan tới rất nhiều yếu tố, nhiều biến số kinh tế. Tuy nhiên việc
quản lý tốt các khoản phải thu sẽ tránh cho các doanh nghiệp tình trạng phải
giải quyết các khoản phải thu khó đòi. Khi xuất hiện các khoản phải thu khó
đòi các doanh nghiệp phải nhanh chóng xử lý và việc xử lý các khoản phải thu
này em xin được đề cập ở phần sau đây.
1.3. Xử lý nợ khó đòi ở doanh nghiệp
1.3.1. Nợ khó đòi ở doanh nghiệp
1.3.1.1. Khái niệm
Nợ khó đòi là các khoản nợ đã quá thời hạn thanh toán, doanh nghiệp đã
áp dụng các biện pháp xử lý như đối chiếu, xác nhận, đôn đốc thanh toán
nhưng vẫn chưa thu hồi được.
Các khoản phải thu được coi là các khoản nợ khó đòi khi nó đảm bảo
các điều kiện sau:
+ Nợ phải thu đã quá hạn thanh toán ghi trên hợp đồng kinh tế, các khế
ước vay nợ hoặc các cam kết nợ khác.
18
+ Nợ phải thu chưa đến thời hạn thanh toán nhưng các tổ chức kinh tế
(các công ty, doanh nghiệp tư nhân, hợp tác xã, tổ chức tín dụng…) đã lâm
vào tình trạng phá sản hoặc đang làm thủ tục giải thể; người nợ mất tích, bỏ
chiết khấu hay thời hạn thu hồi nợ…. Doanh nghiệp muốn đẩy mạnh việc tiêu
thụ sản phẩm, tăng doanh thu, tăng lợi nhuận nên đã nới lỏng các tiêu chuẩn
tài chính, hạ thấp các tiêu chuẩn này xuống tạo điều kiện cho các doanh
nghiệp có tiêu chuẩn tài chính thấp cũng có thể mua chịu hàng hoá. Điều này
mở rộng mạng lưới khách hàng cho doanh nghiệp nhưng đồng thời cũng làm
tăng rủi ro trong việc thu hồi nợ.
Do năng lực yếu kém của nhân viên quản lý công nợ và nhân viên
thẩm định tài chính khách hàng của doanh nghiệp. Các nhân viên có năng lực
yếu kém có thể đưa ra những nhận định sai về năng lực tài chính của khách
hàng dẫn tới sai sót trong chính sách cho vay hay bán chịu của doanh nghiệp,
điều này ảnh hưởng tới giá trị các khoản phải thu của doanh nghiệp. nó sẽ làm
tăng các khoản phải thu nếu như khách hàng của doanh nghiệp có khả năng tài
chính kém nhưng lại được ưu đãi trong chính sách tín dụng của doanh nghiệp.
Hoặc cũng có những nhân viên thiếu trách nhiệm trong công việc. Làm việc
không đúng với trách nhiệm cũng như sự tín nhiệm của công ty dẫn tới những
thiếu sót trong chính sách tín dụng cũng ảnh hưởng tới giá trị các khoản phải
thu. Đây là nguyên nhân xuất phát tự đạo đức trong công việc hay còn gọi là
đạo đức nghề nghiệp.
Nguyên nhân khách quan:
Thứ nhất, từ phía doanh nghiệp là khách hàng:
20
Do năng lực yếu kém của bản thân doanh nghiệp vay nợ. Trong nhiều
trường hợp, phía người mua trả chậm có những sai sót chủ quan, thậm chí cố ý
không hoàn trả món nợ; các khoản này thuộc nhóm rủi ro đạo đức. Một số
công ty trong ngành xây dựng trúng thầu công trình với giá trúng thầu quá
thấp, thua lỗ và không thể trả nợ đúng hạn thậm chí có nguy cơ phá sản. Nhiều
doanh nghiệp không dự đoán đúng thị trường, mức bán hàng và doanh số,
quyết định mua một khối lượng hàng hoá quá lớn, thanh toán trả chậm nhưng
không thể bán được hàng hoặc các nguyên nhân khác làm ứ đọng hàng háo
dẫn tới việc không thể thanh toán các khoảnt nợ phải trả. Nhiều doanh nghiệp
thanh toán nợ.
Như vậy bất cứ nguyên nhân nào cũng có khả năng dẫn tới khoản nợ
phải thu tuy nhiên tình hình hoạt đông kinh doanh của khách hàng là nguyên
nhân trực tiếp và quan trọng nhất trong việc nảy sinh các khoản nợ khó đòi ở
doanh nghiệp. Do đó việc thường xuyên theo dõi, đánh giá năng lực của bạn
hàng là điều vô cùng cần thiết trong công tác quản lý các khoản nợ phải thu
khó đòi.
1.3.2. Xử lý các khoản nợ khó đòi ở doanh nghiệp
1.3.2.1. Mục tiêu xử lý
Nền kinh tế thị trường ngày càng phát triển thì các quan hệ tín dụng
ngày càng trở nên đa dạng và phức tạp. Sư phát sinh nợ là một yếu tố tất nhiên
trong hoạt động kinh doanh, trong đó bao gồm cả tín dụng ngân hàng và tín
dụng thương mại. Tình trạng nợ nần và việc kiểm soát nợ cần được nhìn nhận
từ cả hai góc độ: bên cung cấp tín dụng và bên đi vay. Nhiều doanh nghiệp
đang phải đối mặt với rủi ro tín dụng rất cao, trong đó rủi ro về tổn thất nợ khó
22
đòi là một trong những nhân tố cần được kiểm soát chặt chẽ. Trong nhiều
trường hợp tổn thất nợ tồn đọng trong doanh nghiệp gia tăng làm giảm năng
lực cạnh tranh của doanh nghiệp thậm chí có khi dẫn tới nguy cơ phá sản.
Chính vì thế mà mục tiêu xử lý nợ tồn đọng trong các doanh nghiệp chủ yếu là
Xoá các khoản nợ khó đòi tránh gây tổn thất nợ khó đòi ảnh hưởng tới
tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp;
Làm trong sạch hoá tình hình tài chính của doanh nghiệp;
Giảm bớt chi phí quản lý do phải trích lập dự phòng phải thu khó đòi để
có thêm một khoản tiền đầu tư vào sản xuất kinh doanh.
1.3.2.2. Nội dung xử lý
Như chúng ta đã biết các khoản phải thu nảy sinh trong quá trình giao
dịch mua bán hàng hoá và dịch vụ, đó là số tiền khách hàng nợ doanh nghiệp
khi mua chịu hàng hoá dịch vụ. Hầu hết các doanh nghiệp đều phát sinh các
khoản phải thu nhưng ở mức độ ít hay nhiều khác nhau. Có những khoản phải
chưa thu hồi được tiền để trả nợ. Khi đó người làm tài chính cần phân tích khả
năng của khách hàng khi kinh doanh để ra quyết định nên tiếp tục bán chịu
cho họ để họ tiếp tục kinh doanh thu hồi lại vốn trả nợ cho công ty trong
trường hợp khách hàng có những chính sách mới, thay đổi phương pháp kinh
doanh phù hợp với điều kiện môi trường kinh doanh trong tương lai hay bằng
mọi cách thu hồi nợ về nếu xét thấy khách hàng không còn khả năng kinh
doanh tiếp.
Người làm tài chính sẽ phải tính đến khả năng khách hàng trả nợ xem
khách hàng trả được bao nhiêu và cả chi phí để thu hồi nợ. Nếu chi phí quá lớn
mà khoản thu về lại nhỏ không đáng kể thì công ty phải có biện pháp khác, có
24
thể xoá nợ cho khách hàng đồng thời hạch toán vào chi phí kinh doanh hoặc sử
dụng một số những biện pháp khác theo đúng chế độ xử lý nợ khó đòi mà Nhà
nước đã ban hành.
Sau khi xem xét và đốc thúc khách hàng trả nợ nhưng không được thì
khoản nợ đó đã trở thành khoản nợ khó đòi và đến cuối niên độ kế toán, kế
toán viên phải tiến hành trích lập dự phòng cho những khoản nợ của những
khách hàng có khả năng không trả được nợ nhằm xác định đúng giá trị thuần
của các khoản phải thu trong Báo cáo tài chính và khoản dự phòng đó được
tính vào chi phí kinh doanh. Để đi sâu tìm hiểu về qui trình xử lý nợ khó đòi
chúng ta cần hiểu thế nào là dự phòng nợ phải thu khó đòi? Cách trích lập như
thế nào? Xử lý các khoản dự phòng ra sao?
Dự phòng nợ phải thu khó đòi là khoản dự phòng phần giá trị bị tổn thất
của các khoản nợ phải thu, có những giấy tờ chứng cứ ghi nhận được là không
thể thu hồi do đơn vị hoặc người nợ không có khả thanh toán trong năm kế
hoạch.
Cách trích lập: theo thông tư 13 của Bộ tài chính
Sau khi đã xác định được khoản phải thu là khoản nợ khó đòi thì doanh
nghiệp phải dự kiến mức tổn thất có thể xảy ra hoặc tuổi nợ quá hạn của các
khoản nợ và tiến hành lập dự phòng cho từng khoản nợ phải thu khó đòi, kèm