Tài liệu Đề tài “ Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tín dụng xuất nhập khẩu tại Chi nhánh Ngân hàng Công thương khu vực Đống Đa” - Pdf 92

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐỀ TÀI: Một số giải pháp nhằm nâng cao
chất lượng tín dụng xuất nhập khẩu tại
Chi nhánh Ngân hàng Công thương khu
vực Đống Đa


2
 Ngoài lời nói đầu, kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo. Luận
văn được kết cấu theo 3 chương:
Chương I: Một số vấn đề cơ bản về chất lượng tín dụng xuất nhập khẩu của ngân
hàng thương mại
Chương II: Thực trạng chất lượng tín dụng xuất nhập khẩu tại Chi nhánh Ngân
hàng Công thương khu vực Đống Đa
Chương III: Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tín dụng xuất nhập khẩu
tại Chi nhánh Ngân hàng Công thương khu vực Đống Đa
Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong việc nghiên cứu, học hỏi để hoàn thành khoá luận,
song chắc chắn không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định. Tôi rất mong nhận
được sự đóng góp ý kiến quý báu của các thầy cô và các bạn để khoá luận có ý
nghĩa hơn.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo hướng dẫn người đã tận tình
giúp đỡ tôi hoàn thành khoá luận này.
Qua đây, tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy cô giáo trong
Khoa đã dạy dỗ và cung cấp cho tôi những kiến thức lí luận quí báu.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến Ban lãnh đạo và các anh chị Phòng Tín dụng
ngoài quốc doanh, Chi nhánh Ngân hàng Công Thương khu vực Đống Đa những
người đã nhiệt tình tiếp nhận, tạo điều kiện và cung cấp những kinh nghiệm thực tiễn
quan trọng cho tôi trong quá trình thực hiện khóa luận.

3
CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ
CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG XUẤT NHẬP KHẨU
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1. TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU
1.1.1. Sự cần thiết phát triển hoạt động xuất nhập khẩu và nhu cầu tài trợ cho xuất
nhập khẩu

Thông qua việc đẩy mạnh xuất khẩu, Nhà nước sẽ khuyến khích các ngành, nghề
phát triển bởi họ phần nào có được thị trường tiêu thụ ổn định và mở rộng hơn. Đồng
thời, sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường quốc tế sẽ tạo cho các nhà sản xuất sự
năng động và sáng tạo trong kinh doanh, sự quan tâm đúng đắn đến việc nâng cao
hiệu quả quản lí, đổi mới công nghệ cũng như nâng cao chất lượng của sản phẩm.
- Xuất khẩu tạo điều kiện cho việc nhập khẩu có thể diễn ra thuận lợi hơn nhờ
nguồn ngoại tệ thu được và mối quan hệ quốc tế mà nó tạo ra.
 Nhập khẩu
Song song với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu cũng đóng một vai trò vô cùng
quan trọng trong nền kinh tế. Cụ thể:
- Nhập khẩu tạo ra hàng hoá bổ sung cho hàng hoá thiếu hụt trong nước và thay
thế những sản phẩm trong nước không sản xuất được hay sản xuất với chi phí cao
hơn để đáp ứng nhu cầu sản xuất tiêu dùng nội địa một cách tốt nhất, từ đó tạo sự ổn
định về cung-cầu trong nước và cao hơn là sự ổn định kinh tế vĩ mô.
- Nhập khẩu có tác động đẩy nhanh quá trình xây dựng cơ sở hạ tầng kĩ thuật,
đổi mới công nghệ tạo tiền đề thuận lợi cho sản xuất.
- Ngoài ra, nhập khẩu còn có vai trò thúc đẩy xuất khẩu thông qua việc cung
cấp các nguyên vật liệu, máy móc thiết bị đầu vào cho xuất khẩu cũng như góp phần
định hướng sản phẩm, định hướng thị trường.
5
Cuối cùng, một vai trò hết sức quan trọng của cả xuất và nhập khẩu đối với sự
phát triển kinh tế-xã hội đó là tạo công ăn việc làm, cải thiện đời sống nhân dân và
mở rộng hợp tác quốc tế.
1.1.1.2. Nhu cầu tài trợ cho xuất nhập khẩu
Do hoạt động thương mại quốc tế hiện nay là rất đa dạng và vì thế cũng hết sức
phức tạp (nó bao gồm nhiều mối quan hệ như: thương mại giữa các nước phát triển,
giữa các nước đang phát triển, giữa các nước phát triển và đang phát triển...) nên để
phù hợp với điều kiện Việt Nam cũng như với đề tài nghiên cứu, ở đây tôi chỉ xin đề
cập đến hoạt động thương mại quốc tế giữa các nước phát triển và đang phát triển.
- Xuất khẩu hàng hoá từ các nước phát triển sang các nước đang phát triển chủ

cao ở nước ngoài, đối tác có thể yêu cầu một bảo đảm giao hàng hoặc bảo đảm hoàn
thành công trình. Đảm bảo này sẽ có hiệu lực nếu việc giao hàng hoặc hoàn thành
công trình không đúng như thoả thuận.
Trường hợp khác, nếu nhà xuất khẩu cần tiền đặt cọc mà nhà nhập khẩu là
người nước ngoài đang gặp khó khăn và không có khả năng đặt cọc từ nguồn vốn
riêng của mình thì nhà xuất khẩu có thể đề nghị ngân hàng của mình một tài trợ đặt
cọc có lợi cho đối tác thương mại của mình.
+ Giai đoạn chuẩn bị sản xuất: Sau khi đã kí hợp đồng, nhà xuất khẩu sẽ tiến
hành chuẩn bị sản xuất. Nhất là việc xây dựng các công trình lớn như, nhà máy, xí
nghiệp... việc này thường đi kèm với chi phí lớn vượt quá mức đặt cọc.
+ Giai đoạn sản xuất: Mặc dù đã có những thoả thuận về việc thanh toán tiếp
theo của người mua, trong thời gian này thường nảy sinh các nhu cầu tài chính cao về
vật tư và chi phí liên quan khác vượt qua các khoản thanh toán giữa chừng. Ngoài ra,
với các mặt hàng lớn như máy móc công nghệ... thì nhiều khi nhà xuất khẩu còn cần
phải được tài trợ cho các chi phí xây dựng kho bãi, chuẩn bị mặt bằng sản xuất, đào
tạo người sử dụng máy móc... ở nước nhập khẩu.
7
+ Giai đoạn cung ứng: Ngay cả trong giai đoạn cung ứng cũng có thể nảy sinh
các chi phí cần được tài trợ như chi phí vận tải, bảo hiểm... tuỳ theo điều kiện cung
ứng.
+ Giai đoạn lắp ráp, chạy thử, bàn giao công trình: Sau khi hàng hoá được
bàn giao tới địa điểm qui định, nhà xuất khẩu còn cần chi phí cho lắp ráp chạy thử
cho tới khi được người mua thu nhận và chấp nhận thanh toán.
+ Giai đoạn bảo hành: Trong giai đoạn này người mua có quyền yêu cầu được
bảo hành ở ngân hàng của nhà xuất khẩu trước khi thanh toán.
+ Thanh toán: Hiện nay, để việc cung cấp hàng hoá xuất khẩu được thuận lợi
người xuất khẩu thường phải dành cho người mua một ưu đãi thanh toán trong nhiều
năm mà người xuất khẩu và ngân hàng của họ có thể chấp nhận được. Nhu cầu tài
trợ ở giai đoạn này thường lớn để đảm bảo vốn cho quá trình tái sản xuất khi mà
người nhập khẩu chưa đến hạn phải thanh toán.

1.1.2. Các nguồn tài trợ cho hoạt động xuất nhập khẩu
Hoạt động xuất nhập khẩu là một trong những hoạt động kinh tế cơ bản, do vậy
nó cũng được tài trợ từ rất nhiều nguồn khác nhau. Trong đó, những nguồn tài trợ
thường được sử dụng là:
- Tín dụng thương mại (hay tín dụng nhà cung cấp): là nguồn tài trợ được thực
hiện thông qua hình thức mua bán chịu hàng hoá, dịch vụ với các công cụ chủ yêú là
kỳ phiếu và hối phiếu. Đây là nguồn tài trợ ngắn hạn được ưa dùng vì dễ thực hiện,
khả năng chuyển thành tiền mặt cao (thông qua chiết khấu tại các ngân hàng), linh
hoạt về thời hạn. Tuy nhiên, các công cụ như hối phiếu thường được sử dụng trên cơ
sở có ngân hàng đứng ra chấp nhận hay bảo đảm.
- Các khoản phải nộp phải trả: Bao gồm: thuế phải nộp nhưng chưa nộp, phải
trả cán bộ công nhân viên và các khoản phải trả phải nộp khác. Đây là nguồn tài trợ
mang tính thời điểm cao vì nó thường nhỏ và ít ổn định.
9
- Vốn tự có: Tuỳ theo loại hình doanh nghiệp khác nhau mà vốn tự có có thể là
vốn Ngân sách cấp, vốn cổ phần của các sáng lập viên công ty cổ phần hay vốn của
chủ doanh nghiệp tư nhân.
Vốn tự có chủ yếu bao gồm vốn khi thành lập doanh nghiệp như nói trên và
phần lợi nhuận để lại cộng khấu hao. Sử dụng vốn tự có doanh nghiệp có thể giảm
được hệ số nợ, tạo sự chủ động trong kinh doanh. Tuy vậy, nguồn tài trợ này có hạn
chế là qui mô không lớn và nhiều khi chi phí cơ hội của việc giữ lại lợi nhuận cao.
- Phát hành cổ phiếu: Với các doanh nghiệp trong điều kiện hiện nay họ có thể
phát hành cổ phiếu công ty để huy động nguồn vốn trung và dài hạn. Hình thức này
có ưu điểm là doanh nghiệp có được sự chủ động trong việc huy động và sử dụng
vốn, giảm được nguy cơ phá sản khi gặp khó khăn (vì có thể không phải phân chia
lợi tức cổ phần hoặc có thể hoãn trả lợi tức khi bị lỗ hoặc không có nhiều lãi) hay
làm tăng vốn chủ sở hữu, giảm hệ số nợ của doanh nghiệp... Tuy nhiên, chỉ có các
doanh nghiệp thỏa mãn những điều kiện nhất định mới được sử dụng hình thức này.
Với nước ta, do thị trường tài chính còn chưa phát triển nên hình thức tài trợ này còn
ít được sử dụng hoặc nếu có sử dụng thì vẫn khó có thể đem lại hiệu quả cao.

cập đến và do đó cũng có nhiều cách hiểu khác nhau về tín dụng.
Tuy nhiên, theo cách hiểu chung nhất thì: tín dụng là một quan hệ xã hội giữa
người cho vay và người đi vay, giữa họ có mối liên hệ với nhau thông qua sự vận
động của giá trị vốn tín dụng được biểu hiện dưới hình thái tiền tệ hoặc hiện vật.
Trên cơ sở đó ta có thể hiểu “ Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng bằng
tiền tệ giữa một bên là ngân hàng, một tổ chức chuyên doanh trên lĩnh vực tiền tệ
với một bên là các tổ chức, đơn vị kinh tế-xã hội, các cơ quan Nhà nước và các
tầng lớp dân cư ”.
Tín dụng ngân hàng ra đời và ngày càng phát triển mạnh mẽ, nhờ có khả năng
đáp ứng tốt mọi nhu cầu đa dạng về vốn của nền kinh tế mà nó đã không ngừng
được mở rộng sang tất cả các ngành, lĩnh vực khác nhau trong đó có lĩnh vực kinh tế
11
đối ngoại mà cụ thể hơn là hoạt động xuất nhập khẩu, nó đã trở thành một nguồn tài
trợ không thể thiếu đối với hoạt động xuất nhập khẩu của các quốc gia.
 Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với hoạt động xuất nhập khẩu
Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với hoạt động xuất nhập khẩu được thể hiện
qua các mặt sau:
- Thứ nhất, giống như các nguồn tài trợ khác tín dụng ngân hàng là một nguồn
vốn quan trọng đối với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu để thu mua dự trữ, sản xuất,
tiêu thụ hàng hoá, mua sắm máy móc thông thường...phục vụ cho quá trình sản xuất
cũng như tái sản xuất của doanh nghiệp.
- Thứ hai, tín dụng ngân hàng góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp trên thị trường .
- Thứ ba, tín dụng ngân hàng thúc đẩy hoạt dộng xuất nhập khẩu diễn ra thuận
lợi nhanh chóng hơn.
- Thứ tư, do sự cần thiết phải có được những giao dịch dễ dàng ít tốn kém,
người bán cũng như người mua đều cần phải có sự tài trợ của ngân hàng thông qua
các hình thức tín dụng như cho vay mở thư tín dụng, chuyển trả tiền trực tiếp...
- Thứ năm, xuất phát từ tính rủi ro trong hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu
cao và do việc thiếu hiểu biết lẫn nhau giữa người mua và người bán sự có mặt của

gồm các phương thức như cho vay một lần, cho vay theo hạn mức tín dụng và cho
vay theo hợp đồng tín dụng tuần hoàn. Đối với các nhà xuất khẩu hình thức tín dụng
này ngoài việc được sử dụng cho các mục đích thu mua sản xuất, chế biến xuất khẩu,
đáp ứng nhu cầu vốn lưu động nó còn được sử dụng để trang trải các chi phí phát
sinh trong quá trình sản xuất như: phí thuê tàu, thuế xuất khẩu...
 Cho vay trên cơ sở hối phiếu
Nhà xuất khẩu khi cần tiền có thể vay ngân hàng bằng cách đem chiết khấu các
hối phiếu chưa đến hạn trả tiền (số tiền vay bằng cách chiết khấu hối phiếu thường
13
nhỏ hơn số tiền ghi trên hối phiếu. Số chênh lệch là lợi tức chiết khấu). Hình thức tín
dụng này rất phổ biến ở các nước bởi vì việc chiết khấu thường dễ dàng và ngay khi
giao chứng từ về hàng hoá người xuất khẩu đã có thể sử dụng được lợi nhuận của
hoạt động xuất khẩu để tái đầu tư.
Thời hạn vay bằng cách chiết khấu hối phiếu là thời hạn còn lại chưa đến hạn
thanh toán của hối phiếu. Người hoàn trả tiền vay và lợi tức là người có nghĩa vụ trả
tiền ghi trên hối phiếu.
Cơ sở để xác định khối lượng tín dụng này là giá trị của hối phiếu sau khi đã trừ
đi giá trị chiết khấu và lệ phí nhờ thu. Giá trị chiết khấu thường được xác định ở các
ngân hàng theo công thức:
Lck
Tck = M x (1- x t ) - P
360
Trong đó: Tck: Giá trị chiết khấu
M: Mệnh giá hối phiế
P: Lệ phí
t: thời gian chiết khấu (ngày)
Lck: lãi suất chiết khấu theo năm
Trong các yếu tố trên thì lãi suất chiết khấu thường được quan tâm hơn cả. Tỷ
lệ này phụ thuộc các yếu tố:
- Khả năng thanh toán của nhà nhập khẩu

định (đặc biệt khi thoả thuận ngày thanh toán muộn hơn). Điều này làm cho các
doanh nghiệp xuất khẩu có thể thiếu vốn tạm thời. Khi đó họ có thể yêu cầu ngân
hàng ứng trước một phần trị giá với bộ chứng từ nhờ thu. Khoản tín dụng này có thể
do ngân hàng xuất khẩu hay ngân hàng nhập khẩu ứng trước.
15
Thường nhà xuất khẩu sử dụng hình thức này để tìm kiếm nguồn tài trợ ngắn
hạn phục vụ nhu cầu tiền mặt tạm thời. Tín dụng ứng trước trong phương thức nhờ
thu có thể xem như chiết khấu từng phần.
- Tín dụng ứng trước trong phương thức tín dụng chứng từ : Tín dụng chứng
từ phục vụ đặc biệt cho việc đảm bảo nhiệm vụ cung ứng và thanh toán trong trong
quan hệ ngoại thương nhưng nó cũng bao hàm cả các nhân tố tín dụng.
Tín dụng ứng trước được sử dụng với L/C điều khoản đỏ. Đây là loại thư tín
dụng qui định một khoản tiền ứng trước của nhà nhập khẩu cho nhà xuất khẩu vào
một thời điểm xác định, trước khi xuất trình bộ chứng từ hàng hoá. Các điều khoản
ứng trước thường được qui định trong một điều kiện thuận lợi cho các bên liên lạc
thực hiện.
Điều khoản này yêu cầu ngân hàng thông báo hoặc ngân hàng xác nhận cấp cho
nhà xuất khẩu một khoản tín dụng trước khi giao hàng. Nhà xuất khẩu chịu chi phí
liên quan còn ngân hàng mở L/C chịu trách nhiệm về khoản ứng trước này.
Người nhập khẩu sẽ qui định rõ tổng giá trị tiền ứng trước , nó có thể là tỉ lệ
phần trăm hoặc thậm chí toàn bộ giá trị L/C (tuỳ thuộc quan hệ với nhà xuất khẩu) và
người nhập khẩu sẽ quyết định liệu người xuất khẩu sẽ phải xuất trình vật gì làm đảm
bảo cho ngân hàng thông báo hoặc ngân hàng xác nhận khi nhận tiền ứng trước.
Ngân hàng thông báo hoặc ngân hàng xác nhận sẽ thu hồi số tiền ứng trước cộng với
lãi sau khi ngân hàng mở L/C thanh toán (nếu có bộ chứng từ phù hợp). Bên cạnh đó,
các ngân hàng này cũng có quyền đòi số tiền này ở ngân hàng mở L/C nếu nhà xuất
khẩu vì một lí do gì đó không xuất trình được chứng từ phù hợp với điều kiện của
L/C.
Lời lẽ trong điều khoản đỏ có thể thay đổi tuỳ từng ngân hàng nhưng tựu trung
có hai loại:

(3) (5) (1) (8)
Nhà xuất
khẩu
Nhà nhập
khẩu
17

(2)
(6)
(7) (1) Nhà nhập khẩu làm đơn xin mở L/C gửi đến ngân hàng của mình yêu cầu được
mở một L/C cho người xuất khẩu hưởng
(2) Căn cứ vào đơn xin mở L/C, ngân hàng mở L/C sẽ lập một L/C và thông qua
ngân hàng đại lí của mình ở nước người nhập khẩu thông báo việc mở L/C và chuyển
L/C đến người xuất khẩu.
(3) Khi nhận được thông báo trên ngân hàng thông báo sẽ thông báo cho nhà xuất
khẩu toàn bộ nội dung về việc mở L/C và khi nhận được bản gốc L/C thì chuyển
ngay cho người xuất khẩu.
(4) Người xuất khẩu nếu chấp nhận thư tín dụng thì tiến hành giao hàng nếu không
thì đề nghị ngân hàng mở L/C sửa đổi, bổ sung L/C cho phù hợp với hợp đồng.
(5) Sau khi giao hàng người xuất khẩu lập bộ chứng từ theo yêu cầu của L/C và xuất
trình thông qua ngân hàng thông báo cho ngân hàng mở L/C xin thanh toán.
(6) Ngân hàng thông báo gửi chứng từ cho ngân hàng phát hành yêu cầu thanh toán
cho nhà xuất khẩu
(7) Ngân hàng mở L/C kiểm tra bộ chứng từ nếu thấy phù hợp với L/C thì tiến hành
trả tiền cho nhà xuất khẩu , nếu không thấy phù hợp thì từ chối thanh toán và gửi trả
lại bộ chứng từ cho người xuất khẩu.
(8) Ngân hàng mở L/C đòi tiền nhà nhập khẩu và chuyển bộ chứng từ cho người

- Với sự chấp nhận của ngân hàng, nhà xuất khẩu có được một sự đảm bảo vững
chắc về khả năng chi trả của hối phiếu và họ có thể đtôi hối phiếu đi chiết khấu tại
bất kì ngân hàng nào. Khả năng thương mại của hối phiếu này rất lớn, nó tạo cho nhà
xuất khẩu được hưởng một tỉ lệ chiết khấu ưu đãi.
- Đối với nhà nhập khẩu, hình thức tín dụng này có vai trò quan trọng trong
nghệ thuật thương mại. Nhà nhập khẩu lập một hối phiếu kèm đơn xin vay yêu cầu
ngân hàng ký chấp nhận hối phiếu dù ngân hàng không có quan hệ nợ nần với anh ta.
19
Đó là một sự thoả thuận ngầm, một nghệ thuật vay vốn. Sau đó nhà nhập khẩu có thể
đem hối phiếu đã được chấp nhận đi chiết khấu tại ngân hàng khác. Với khoản tiền
thu được từ việc chiết khấu nhà nhập khẩu có thể thanh toán trước hạn cho nhà xuất
khẩu để hưởng hoa hồng.

 Tín dụng ứng trước cho nhập khẩu
Cũng như các nhà xuất khẩu, nhà nhập khẩu cũng rất cần được cho vay theo
hình thức ứng trước của ngân hàng. Đó là khi họ cần phải thanh toán tiền mặt cho
nhà xuất khẩu. Ngoài ra, nhà nhập khẩu cũng có thể phát sinh nhu cầu tài trợ để
thanh toán cho bộ chứng từ khi hàng hoá chưa về đến cảng và doanh nghiệp chưa
tiêu thụ được hàng hoá để thu hồi vốn. Ngân hàng tài trợ trong trường hợp này có thể
sử dụng các chứng từ hàng hoá làm vật đảm bảo. Đây cũng chỉ là việc tài trợ cho các
mục tiêu thanh toán ngắn hạn của ngân hàng dành cho các nhà nhập khẩu. 1.2. CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG XUẤT NHẬP KHẨU
1.2.1. Khái niệm chất lượng tín dụng xuất nhập khẩu
Tín dụng xuất nhập khẩu ngoài vai trò là một hình thức tài trợ cho các doanh
nghiệp xuất nhập khẩu nó còn là một loại sản phẩm dịch vụ và vì thế để hiểu được
chất lượng tín dụng xuất nhập khẩu ta cần phải hiểu được khái niệm về chất lượng
sản phẩm. Chất lượng sản phẩm theo hiệp hội tiêu chuẩn Pháp là: năng lực của một
sản phẩm hoặc dịch vụ nhằm thoả mãn những nhu cầu của người sử dụng.

Chỉ tiêu này giúp các nhà phân tích đánh giá khả năng cho vay của ngân hàng
cũng như so sánh giữa các ngân hàng với nhau trong việc sử dụng vốn vay. Hiệu suất
sử dụng vốn vay cao chưa hẳn đã tốt bởi nó còn phụ thuộc vào cơ cấu nguồn vốn.
Chẳng hạn, trong cơ cấu nguồn vốn tỉ trọng vốn vay thương mại lớn thì cho vay
nhiều chưa hẳn là đưa đến chất lưọng tín dụng cao vì lãi suất với các khoản vốn vay
21
thương mại thường lớn trong khi ngân hàng khó có thể cho vay với lãi suất quá cao
hơn do phải cạnh tranh lãi suất để thu hút khách hàng.

Doanh số cho vay trong kì
 Vòng quay vốn tín dụng =
Dư nợ trong kì

Chỉ tiêu này thể hiện khả năng tổ chức, quản lí vốn tín dụng, đồng thời thể hiện
chất lượng tín dụng của ngân hàng trong việc sử dụng hiệu quả nguồn vốn tín dụng và
đáp ứng nhu cầu khách hàng. Để có thể đánh giá chính xác chất lượng tín dụng, các
tiêu chuẩn tính toán cần phải đồng nhất trong việc áp dụng đối với từng loại cho vay
cụ thể.
 Tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ : Nợ quá hạn là những khoản nợ đã đến
hạn thanh toán nhưng khách hàng chưa trả được. Ngân hàng có chỉ tiêu nợ quá hạn
trên tổng dư nợ càng thấp khả năng gặp rủi ro càng thấp chất lượng tín dụng càng cao
. Chỉ tiêu này lại chia ra hai chỉ tiêu cụ thể hơn:

Nợ quá hạn từ 6-12 tháng
 Tỉ lệ nợ quá hạn khê đọng =
Tổng dư nợ

Đây là một trong những chỉ tiêu định lượng quan trọng nhất phản ánh chất lượng
tín dụng của khoản tín dụng. Nếu tỉ lệ này càng cao mà ngân hàng không có biện
pháp xử lí kịp thời thì khả năng tổn thất của ngân hàng càng lớn.
Nợ khê đọng tín dụng xuất nhập khẩu
23
 Nợ quá hạn khê đọng =
Tổng dư nợ tín dụng xuất nhập khẩu Nợ quá hạn tín dụng xuất nhập khẩu
 Nợ quá hạn khó đòi =
Tổng dư nợ tín dụng xuất nhập khẩu

24

Lợi nhuận từ tín dụng xuất nhập khẩu
 Chỉ tiêu lợi nhuận =
Tổng dư nợ tín dụng xuất nhập khẩu

Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của tín dụng xuất nhập khẩu. Nó cho
biết có bao nhiêu đồng lợi nhuận được sinh ra từ một đồng dư nợ. Chất lượng tín
dụng tốt phải gồm cả lợi nhuận mà tín dụng đó mang lại cho ngân hàng.
Với những chỉ tiêu trên đây ta mới chỉ có thể xem xét được khoản tín dụng xuất
nhập khẩu có chất lượng tốt hay không . Nhưng vấn đề đặt ra không phải chỉ dừng lại
ở đó mà là phải tìm ra các giải pháp để khắc phục các hạn chế và phát huy những
mặt mạnh nhằm nâng cao chất lượng tín dụng cho hoạt động sau này. Tức là ta cần
phải nắm bắt được các nhân tố tác động đến chất lượng tín dụng xuất nhập khẩu .

1.2.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng xuất nhập khẩu
1.2.3.1. Các nhân tố từ phía ngân hàng
Các nhân tố từ phía ngân hàng được xem là các nhân tố chủ quan, bởi nó là yếu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status