Hoàn thiện quy chế trả lương tai Công ty TNHH T&T Hưng Yên - Pdf 94

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
PHẦN MỞ ĐẦU:
1. Sự cần thiết nghiên cứu của đề tài.
Trong một vài năm gần đây, do cơ chế đổi mới cơ chế của nhà nước, đời
sống kinh tế-chính trị-xã hội đang có những thay đổi lớn về cơ chế, chính sách…
Trong đó chính sách tiền lương-tiền công cũng có những thay đổi lớn.
Trong quá trình lao động và sản xuất, con người luôn là nhân tố trung tâm.
Muốn sản xuất được phát triển, NSLĐ ngày càng cao thì không thể không quan
tâm đến nhân tố con người. Chỉ có quan tâm đến và phát triển con người thì mới
khai thác được khả năng tiềm ẩn trong mỗi con người. Một trong những nhân tố
kích thích khả năng tiềm ẩn của con người đó chính là lợi ích mà họ thu được trong
quá trình lao động sản xuất. CácMác đã nói “ Ở đâu có sự thống nhất về lợi ích
kinh tế thì ở đó có sự thống nhất về mục đích và lý tưởng. Chính sách tiền lương
tiền công là một trong những biểu hiện cụ thể của lợi ích đó. Tiền lương tiền công
đối với người lao động đó là phần thu nhập chính để bù đắp hao phí sức lao động
và một phần tái sản xuất sức lao động”.
Tiền lương tiền công là một phần chi phí sản xuất kinh doanh không nhỏ đối
với mỗi doanh nghiệp. Là một yêu cầu khách quan luôn được chủ doanh nghiệp
quan tâm hàng đầu. Cho nên trong công tác quản lý kinh doanh của doanh nghiệp,
tiền lương tiền công được sử dụng như một đòn bẩy kinh tế để kích thích động viên
người lao động hăng hái sản xuất làm cho NSLĐ không ngừng được nâng cao.
Trong nền kinh tế thị trường thì tiền lương tiền công càng phát huy được tác dụng
hơn.
Ở phạm vi toàn bộ nền kinh tế, tiền lương, tiền công là sự cụ thể hóa của quá
trình phân phối của cải vật chất do chính người lao động làm ra. Vì vậy việc xây
dựng và hoàn thiện quy chế trả lương cho người lao động trong doanh nghiệp đảm
bảo được lợi ích của người lao động và cả doanh nghiệp. Do đó, trong tổ chức,
doanh nghiệp đang là vấn đề được quan tâm và hòa thiện để tiền lương phát huy
Đào Văn Lý – Lao động 45a
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
được tối đa vai trò của nó. Làm cho người lao động từ lợi ích vật chất mà quan tâm

I. LÝ LUẬN CHUNG VỀ TIỀN LƯƠNG TIỀN CÔNG.
1. Khái niệm
1.1. Định nghĩa quốc tế về tiền lương
Tổ chức quốc tế có công ước số 95(1949) về bảo vệ tiền lương, trong đó quy
định “Tiền lương là sự trả công hay thu nhập, bất luận tên gọi hay cách tính thế
nào, mà có thể biểu hiện bằng tiền mặt và được ấn định bằng thỏa thuận giữa người
sử dụng lao động và người lao động, bằng pháp luật pháp quy quốc gia, do người
sử dụng lao động phải trả phải thực hiện, hoặc cho những dịch vụ đã làm hay sẽ
phải làm”.
1.2. Tiền lương trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung.
Nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung là nền kinh tế do nhà nước điều hành từ
trung ương đến địa phương. Do đó, tiền lương thời kỳ này là một phần thu nhập
quốc dân biểu hiện cụ thể dưới hình thức thức tiền tệ được nhà nước phân phối một
cách có kế hoạch cho cán bộ công nhân viên theo số lượng và chất lượng lao động
mà mỗi người cống hiến.
1.3. Tiền lương, tiền công trong nền kinh tế thị trường.
Trong nền kinh tế thị trường và sự hoạt động của thị trường sức lao động,
sức lao động là hàng hóa. Do vậy, tiền lương là giá cả sức lao động.
Trong nền kinh tế thị trường thì mọi yếu tố đầu vào của sản suất đều là hàng
hóa, kể cả yếu tố sức lao động nằm trong mỗi con người. Hàng hóa sức lao động là
một loại hàng hóa hóa đặc biệt. Nó là yếu tố chủ thể của quá trình sản suất và cũng
có giá trị và giá trị sử dụng như hàng hóa khác. Giá trị sức lao động được xác định
bằng thời gian lao động xã hội cần thiết để tái sản xuất sức lao động, thể hiện qua
việc tiêu dùng một lượng của cải vật chất định để bảo tồn và khôi phục lại sức lao
động ( tiêu hao của sức bắp, sức thần kinh ) đã hao phí. Nói cách khác, giá trị sức
Đào Văn Lý – Lao động 45a
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
lao động bằng giá trị tư liệu sinh hoạt cần thiết để bù đắp lại sức lao động đã hao
phí trong quá trình sản suất, giá trị của chi phí nuôi dưỡng con người trước và sau
tuổi có khả năng lao động, giá trị của những chi phí cần thiết cho việc học hành.

diễn ra trong điều kiện lao động bình thường, số tiền đó đảm bảo nhu cầu tiêu dùng
các tư liệu sinh hoạt ở mức tối thiểu cần thiết để tái sản suất sức lao động.
Hệ thống tiền lương tối thiểu có thể được tính theo giờ, ngày hoặc tháng.
Trong thực tế thì tiêu chuẩn để quy định một mức lương tối thiểu là rất phức tạp,
nó có thể dựa vào các mục tiêu của hệ thống và cả những nhân tố về kinh tế và xã
hội.
Mức lương tối thiểu có thể được quy định áp dụng cho từng nghành, từng
nghề, quận, huyện hoặc khu vực riêng lẻ tạo nên một hệ thống thang lương tối
thiểu mang tính phức tạp trong cả nước và có thể được áp dụng cho mọi thành
phần kinh tế.
Mục tiêu căn bản của hệ thống tiền lương tối thiểu nhằm tránh bóc lột sức
lao động và giảm đói nghèo. Do đó, những thỏa thuận liên quan đến việc chống
bóc lột sức lao động thì tiền lương tối thiểu được xem là cơ bản cho những người
lao động, họ sẽ dành được một khoản tiền khi họ bỏ sức lực của mình ra để làm
những công việc mà họ đạt được.
1.5. Tiền lương danh nghĩa và tiền lương thực tế
Tiền lương danh nghĩa được hiểu là số tiền mà người sử dụng lao động phải
trả cho người lao động. Số tiền này nhiều hay ít phụ thuộc trực tiếp vào năng suất
lao động và hiệu quả làm việc của người lao động, phụ thuộc vào trình độ, kinh
nghiệm làm việc ... ngay trong quá trình lao động.
Tiền lương thực tế được hiểu là số lượng các loại hàng hóa tiêu dùng và các
loại dịch vụ cần thiết mà người lao động hưởng lương có thể mua được bằng tiền
lương danh nghĩa của họ sau khi đã nộp các khoản thuế theo quy định của chính
phủ.
Đào Văn Lý – Lao động 45a
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
2. Chức năng của tiền lương
2.1. Chức năng thức đo giá trị
Trước đây và hiện nay, chức năng thước đo giá trị vẫn là chức năng cơ bản
và quan trọng nhất của tiền lương. Là chức năng cơ sở để điều chỉnh giá cả cho

lực và trí lực. C.Mác viết: “Những lao động có ích hay những lao động sản suất, dù
có muôn hình muôn vẻ đến đâu thì sự thật về mặt sinh lý vẫn là : Chức năng cơ thể
của con người và bất cứ chức năng nào giống như vậy, dù có nội dung và hình thức
thế nào đi nữa thì chủ yếu vẫn là sự tiêu hao của bộ óc, của thần kinh, của bắp
thịt...”. Nhưng đó mới chỉ đơn thuần là sự bù đắp về thể chất, tái sản suất lao động
còn nhằm nâng cao trình độ lành nghề, kỹ thuật chuyên môn và tích lũy kinh
nghiệm. C.Mác viết: “ Để cho sức lao động phát triển theo đúng hướng nhất định
phải có sự giáo dục nào đó, mà chính sự giáo dục này lại tốn một lượng hàng hóa
ngang giá”. Đây chính là nhu cầu tai sản suất mở rộng cho người lao động.
Như vậy giá trị sức lao động được đo bằng giá trị tư liệu sinh hoạt và dịch
vụ cần thiết bù đắp lại sức lao động đã hao phí trong quá trình sản xuất. Tiền lương
chính là một hình thái biểu hiện của giá trị sức lao động. Nó là sản phẩm tất yếu
thông qua trao đổi trên thị trường hàng hóa sức lao động, là sản phẩm tất yếu thông
qua trao đổi trên thị trường hàng hóa sức lao động tạo điều kiện làm chức năng
khôi phục sức lao động đã hao phí.
2.3. Chức năng kích thích lao động.
Tiền lương là bộ phận thu nhập chính của người lao động nhằm thảo mãn
phần lớn các nhu cầu về vật chất và văn hóa của người lao động. Do vậy, các mức
tiền lương là các đòn bẩy kinh tế rất quan trọng để định hướng sự quan tâm và
động cơ trong lao động của người lao động. Chức này đảm bảo khi người lao động
làm việc có năng suất cao, đem lại hiệu quả rõ rệt thì người sử dụng lao động cần
Đào Văn Lý – Lao động 45a
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
quan tâm đến việc tăng lương cao hơn so với giá trị sức lao động để kích thích
người lao động. Ngoài việc tăng lương người sử dụng lao động cần áp dụng biện
pháp thưởng. Số tiền này bổ sung cho tiền lương, mang tính chất nhất thời, không
ổn định nhưng lại có tác động mạnh mẽ tới năng suất, chất lượng và hiệu quả lao
động.
2.4. Chức năng tích lũy
Tiền lương trả cho người lao động phải đảm bảo duy trì được cuộc sống

Tiền lương là một phần quan trọng của chi phí sản suất. tăng tiền lương sẽ
ảnh hưởng tới chi phí, giá cả và khả năng cạnh tranh của sản phẩm của công ty trên
thị trường.
Tiền lương là công cụ để duy trì, gìn giữ và thu hút những người lao động
giỏi, có khả năng phù với công việc của tổ chức.
Tiền lương cùng với các loại thù lao khác là công cụ để quản lý chiến lược
nguồn nhân lực và có ảnh hưởng đến các chức năng khác của quản lý nguồn nhân
lực.
 Đối với xã hội
Tiền lương đóng một phần đáng kể vào thu nhập quốc dân thông qua con
đường thuế thu nhập và góp phần làm tăng nguồn thu của chính phủ cũng như giúp
cho chính phủ điều tiết được thu nhập giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội.
Tiền lương có ảnh hưởng quan trọng tới các nhóm xã hội và các tổ chức
khác nhau trong xã hội. Tiền lương cao hơn giúp cho người lao động có sức mua
cao hơn và điều đó làm tăng sự thịnh vượng của cộng đồng nhưng mặt khác có thể
có thể dẫn tới tăng giá cả và làm giảm mức sống của những người có thu nhập
không đuổi kịp mức tăng của giá cả. Giá cả cao lại có thể làm giảm cầu và dịch vụ
và dẫn tới giảm công ăn việc làm.
Đào Văn Lý – Lao động 45a
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
4. Các nguyên tắc cơ bản của tổ chức tiền lương
Để tiền lương và tiền công thực sự là động lực thúc đẩy sản xuất kinh doanh
phát triển đảm bảo đời sống cho người lao động và gia đình họ, cũng như góp phần
thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh”, có những
nguyên tắc cơ bản và quan trọng của tiền lương cần phả được quán triệt xuyên xuốt
quá trình xây dựng và thực hiện chế độ tiền lương.
4.1. Trả lương ngang nhau cho lao động như nhau.
Nguyên tắc này xuất phát từ nguyên tắc phân phối theo lao động, những
người lao động khác nhau về tuổi tác, giới tính, trình độ ...nhưng có mức hao phí
sức lao động như nhau thì được trả lương như nhau. Ngược lại, theo C.Mác: “Vì

Yêu cầu này nhằm đảm bảo sự công bằng, bình đẳng trong trả lương cho
người lao động dựa trên những cơ sở sau:
 Trình độ lành nghề bình quân ở mỗi nghành.
Do dặc điểm và tính chất phức tạp về kỹ thuật và công nghệ ở các nghề khác
nhau cũng khác nhau nên trình độ lành nghề bình quân của người lao động giữa
các nghành khác nhau cũng khác nhau.Do đó, phải phân biệt trong trả lương nhằm
khuyến khích người lao động nâng cao tay nghề.
 Điều kiện lao động
Những người làm việc trong điều kiện nặng nhọc, độc hại, hao tốn sức lực
phải được trả lương cao hơn so với những người làm việc trong điều kiện bình
thường. Do đó, có các loại phụ cấp về điều kiện lao động để trả cho người lao động
ở những công việc có điều kiện làm việc rất khác nhau.
 Ý nghĩa kinh tế của mỗi nghành trong nền kinh tế quốc dân.
Trong từng thời kỳ, từng giai đoạn của sự phát triển mỗi nước, một số
nghành được xem là trọng điểm vì nó có tác dụng rất lớn đến sự phát triển của đất
nước. Sự ưu tiên các ngành đó là dùng tiền lương- tiền công để thu hút và khuyến
Đào Văn Lý – Lao động 45a
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
khích người lao động trong ngành là dùng tiền lương - tiền công để thu hút và
khuyến khích người lao động trong ngành. Thực tế, sự phân biệt này có thể trong
tiền lương - tiền công( qua thang bảng lương). Hoặc các loại phụ cấp khuyến
khích.
 Phân bổ theo khu vực sản suất.
Để thu hút, khuyến khích lao động làm việc ở vùng xa xôi hẻo lánh vùng có
điều kiện kinh tế -xã hội khó khăn phải có chính sách tiền lương- tiền công thích
hợp với các loại phụ cấp, ưu đãi thỏa đáng. Có như vậy mới sử dụng hợp lý lao
động, khai thác có hiệu quả các nguồn lực, tài nguyên ở mọi miền đất nước.
II. NỘI DUNG CỦA QUY CHẾ TRẢ LƯƠNG CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG
TRONG DOANH NGHIỆP.
1. Những nguyên tắc chung

Quỹ dự phòng cho năm sau ( tối đa không quá 12% tổng quỹ lương ).
3. Các hình thức trả lương
3.1. hình thức trả lương theo thời gian
Tiền lương theo thời gian là tiền trả cho người lao động căn cứ vào mức
lương cấp bậc hoặc chức vụ và thời gian làm việc thực tế của công nhân viên chức.
Tiền lương trả theo thời gian chủ yếu được áp dụng đối với những người làm
công tác quản lý, còn đối với công nhân sản xuất chỉ áp dụng đối với nhưng bộ
phận lao động bằng máy móc hoặc những công việc không thể tiến hành định mức
một cách chặt chẽ và chính xác, hoặc vì tính chất của sản xuất mà việc trả công
theo sản phẩm không đảm bảo chất lượng sản phẩm, không đem lại hiệu quả thiết
thực.
Hình thức trả lương theo thời gian rất dễ bị vi phạm nguyên tắc thứ nhất. Vì
theo hình thức này người ta trả lương cho người lao động dựa vào thời gian làm
việc của người lao động và bậc lương của họ mà không xét đến trình độ lao động
Đào Văn Lý – Lao động 45a
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
và kết quả công việc. Do đó tiền lương không gắn trực tiếp với kết quả sản xuất
của người lao động. vì vậy hình thức trả lương này không được áp dụng rộng rãi.
Để đảm bảo ba nguyên tắc của tổ chức tiền lương cần được xác định trình độ
lành nghề để xác định hệ số lương của họ. Từ đó đối chiếu vào thang lương cấp
bậc để tính ra suất lương thời gian theo cấp bậc như sau:
Mi = M1 x Ki
Trong đó:
Mi: Mức lương bậc i (mức lương bậc i của công nhân bậc i)
M1: mức lương tối thiểu
Ki: hệ số lương bậc i và được quy đinh ở thang lương
Lương TGi =Mi * Thời gian làm việc thực tế
3.1.1. Chế độ trả lương theo thời gian giản đơn.
Chế độ trả lương theo thời gian là chế độ trả lương mà tiền lương nhận được
của mỗi người lao động do mức lương thời gian cao hay thấp và thời gian làm việc

Chế độ này là sự kết hợp giữa chế độ trả lương theo thời gian đơn giản và
tiền thưởng khi đạt được những chỉ tiêu về số lượng, chất lượng theo quy định.
Chế độ này khắc phục được nhược điểm của chế độ trả lương theo thời gian giản
đơn. Kết quả lao động có ảnh hưởng đến tiền lương của người lao động.
Chế độ trả lương này chủ yếu áp dụng cho những công nhân phụ làm công
việc phục vụ như công nhân sửa chữa , điều chỉnh thiết bị ... Ngoài ra còn áp dụng
đối với những công nhân chính làm việc ở những khâu sản xuất có trình độ cơ khí
hóa cao, tự động hóa hoặc những công việc tuyệt đối phải đảm bảo chất lượng.
Ưu điểm: Khắc phục được tính bình quân trong việc trả lương cho người lao
động do có tính đến yếu tố kết quả của người lao động.
Nhược điểm: Việc đánh giá trình độ cũng như hiệu quả của lao động quản lý
để tính đến việc xét thưởng là khó khăn.
3.2. Hình thức trả lương theo sản phẩm
3.2.1. Chế độ trả lương theo sản phẩm trực tiếp cá nhân
Chế độ này được áp dụng rộng rãi đối với người lao động trực tiếp sản xuất
trong điều kiệm quá trình lao động của họ mang tính chất độc lập tương đối, có thể
định mức và kiểm tra, nghiệm thu sản phẩm một cách cụ thể riêng biệt.
Tiền lương của công nhân được nhận:
L = ĐG* Q1
Đào Văn Lý – Lao động 45a
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Trong đó:
ĐG = Lo/Q hoặc ĐG = Lo*T
ĐG: đơn giá tiền lương trả cho một sản phẩm
Đơn giá tiền lương là mức tiền lương dùng để trả cho người lao động khi họ
hoàn thành một đơn vị sản phẩm hay công việc.
Lo: Lương cấp bậc công việc
Q: Mức sản lượng của công nhân trong kỳ
T: mức thời gian hoàn thành 1 đơn vị sản phẩm
Q: số lượng sản phẩm thực tế hoàn thành

Tổng số tiền tính theo cấp bậc công việc của cả tổ( Li là tiền lương
cấp bậc của công nhân i; n là số công nhân trong tổ)
Qo: Mức sản lượng của cả tổ
Ti: Mức thời gian của cả tổ
Tiền lương thực tế được tính:
ĐG = L
1
*Q
1
Trong đó:
L
1
: Tiền lương thực tế tổ nhận được
Q
1
: Sản lượng thực tế tổ đã hoàn thành
Trong chế độ này, vấn đề cần chú ý khi áp dụng là phải phân phối tiền lương
cho các thành viên trong tổ, nhóm một cách hợp lý, phù hợp với bậc lương và thời
gian lao động của họ. Việc chia lương cho từng cá nhân trong tổ là rất quan trọng,
có hai phương pháp chia lương thường áp dụng là:
 Phương pháp 1: Dùng hệ số điều chỉnh, được thực hiện theo trình tự:
Xác định hệ số điều chỉnh( H
đc
):
H
đc
=
1
o
L

T

= T
i
* H
i
Trong đó :
- T

: Số giờ làm việc quy đổi ra bậc 1 của công nhân bậc i
- T
i
: Số giờ làm việc của công nhân bậc i
- H
i
: hệ số lương bậc i trong thang lương
3.2.3. Chế độ trả lương theo sản phẩm gián tiếp
Chế độ trả lương này chỉ áp dụng cho những công phụ mà công việc của họ
có ảnh nhiều đến kết quả của công nhân chính hưởng lương theo sản phẩm.
Tính đơn giá tiền lương
ĐG =
L
M
* Q
Trong đó:
L: lương cấp bậc công việc của công nhân phụ, phụ trợ
M: mức phục vụ của công nhân phụ
Q: mức sản lượng của một công nhân chính
Tính tiền lương thực tế:
L

công việc không thể xác định mức lao động ổn định trong một thời gian dài được.
Tiền lương khoán được tính theo như sau:
L
i
= ĐG * Q
1
Trong đó:
L
i
: tiền lương thực tế công nhân nhận được
ĐG
k
: Đơn giá khoán cho mỗi sản phẩm hay công việc
Q
1
: Số lượng sản phẩm được hoàn thành
Ưu điểm: Làm cho người lao động phát huy sáng kiến và tích cực cải tiến
lao động đẻ tối ưu hóa quá trình làm việc, giảm thời gian lao động hoàn thành
nhanh công việc được giao.
Đào Văn Lý – Lao động 45a
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Nhược điểm: phải tính toán đơn giá hết sức tỷ mỷ đẻ xây dựng đơn giá trả
lương
3.2.4. Chế độ lương trả có thưởng
Đây là sự kết hợp trả lương theo sản phẩm và tiền thưởng. Chế độ này gồm
hai phần:
Phần trả lương theo đơn giá cố định và số lượng sản phẩm thực tế đã hoàn
thành.
Phần tiền thưởng được tính dựa vào mức độ hoàn thành vượt mức các chỉ
tiêu thưởng cả về số lượng và chất lượng sản phẩm.

lương theo sản phẩm lũy tiến được tính theo công thức sau:
TL
lt
= ĐG*Q
1
+ ĐG*K(Q
1
-Q
o
)
Trong đó:
TL
lt
: tổng tiền lương trả theo sản phẩm lũy tiến
ĐG: Đơn giá cố tính theo sản phẩm
Q
1
: Sản lượng sản phẩm thực tế đã hoàn thành
Q
o
: Sản lượng đạt mức khởi điểm
K: Tỷ lệ tăng thêm đẻ có đơn giá lũy tiến
Tỷ lệ tăng đơn giá hợp lý được xác định vào phần tăng chi phí sản xuất gián
tiếp cố định, được xác định như sau:
K =
L
ccd
d
td *
* 100%

thuận lợi.
 Trả lương, trả thưởng là một phương tiện để qua đó nâng cao sự khuyến
khích cho người lao động.
Người lao động cần được đánh giá đúng giá trị sức lao động của mình. Điều
này quan trọng hơn tiền lương mà họ nhận được. Nếu người lao động không được
trả lương tương xứng với sức lao động họ đã bỏ ra thì tất nhiên họ sẽ không hài
lòng. Từ đó dẫn đến chán nản thậm chí có thể dời bỏ công việc. Ngược lại khi năng
suất lao động không tăng lên mà người lao động vẫn được tăng lương thì không
hẳn họ sẽ cảm thấy thỏa mãn. Không những thế mà còn có thể dẫn tới các tác động
tiêu cực như thiếu nỗ lực trong công việc và mất niềm tin vào công tác điều hành
của tổ chức, nhất là công tác trả lương. Bởi thế, công tác trả lương trả lương trả
thưởng cầc được xem trọng, vì nó ảnh hưởng lớn đến kết quả lao động của người
lao động. Thực hiện tốt quy chế trả lương sẽ là phương tiện để khuyến khích người
lao động thực hiện tốt nhiệm vụ của mình và ngày càng gắn bó với tổ chức.
Đào Văn Lý – Lao động 45a
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
4.2. Sự tất yếu phải hoàn thiện quy chế trả lương trong doanh nghiệp.
Trong doanh nghiệp, tiền lương và việc trả lương có liên quan tới sự tồn tại,
cạnh tranh và phát triển của doanh nghiệp. Mà tiền lương trả cho người lao động là
do doanh nghiệp trả chứ không phải do nhà nước trả. Mặt khác các doanh nghiệp
cần cố gắng quản lý tiền lương và các chi phí khác có liên quan tốt hơn, coi tiền
lương và việc trả lương như là chi phí sản xuất sẽ tác động tới khả năng cạnh tranh
và thu lợi nhuận của họ. Vấn đề quan tâm lớn đó là chi phí cho một lao động.
Nhưng đây chỉ là chỉ tiêu sai lầm trong cạnh tranh.
Trong quá trình hoạt động nhất là trong hoạt động kinh doanh, đối với các
chủ doanh nghiệp, tiền lương là một phần chi phí cấu thành chi phí sản xuất kinh
doanh. Vì vậy, tiền lương luôn phải được tính toán và quản lý chặt chẽ để đảm bảo
quyền lợi cho người lao động và lợi nhận của doanh nghiệp.
4.3. Sự cần thiết phải hoàn thiện quy chế trả lương ở công ty TNHH T&T Hưng
Yên.

1.7.Vốn đăng ký: 100.000.000.000 đồng.
1.8.Vốn đầu tư hiện nay: 600.000.000.000 đồng.
1.9.Ngành nghề kinh doanh:
Đại lý mua bán ký gửi hàng hóa - buôn bán hàng tư liệu tiêu dùng - Buôn
bán hàng tư liệu sản xuất - Sản xuất, lắp ráp, kinh doanh sản phẩm điện tử, điện
máy- Dịch vụ thương nghiệp( ăn uống, hớt tóc thẩm mỹ ), sản xuất phụ tùng , lắp
ráp, sửa chữa xe hai bánh gắn máy...
1.10.Các đơn vị trực thuộc:
Đào Văn Lý – Lao động 45a
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Tập đoàn T&T có chi nhánh đặt tại TP.Đà Nẵng và 03 đơn vị trực thuộc, 05
Công ty thành viên ở Hà Nội, Hồ Chí Minh và Hưng Yên.
1.11.Thị trường và thị phần của tập đoàn T&T:
1.11.1.Thị trường và thị phần trong nước:
+ Miền Bắc = 30%.
+ Miền Trung = 20%.
+ Miền Nam = 50%.
1.11.2.Thị trường và thị phần nước ngoài:
+ Cộng hòa Dominica: 2%.
+ Cộng hòa Ăngola: 6%.
1.111.3.Tổng số đại lý trong nước:
Hiện nay công ty đang có 700 đại lý phân bố ở cả ba miền trong cả nước.
2. Các thành tích của công ty và cá nhân Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm
Tổng giám đốc công ty T&T:
Chân dung Bạch Thái Bưởi cho Tổng giám đốc Đỗ Quang Hiển và chứng
nhận danh hiệu nhà doanh nghiệp giỏi nhân dịp Công ty đoạt Cúp Sen vàng và
được bình chọn là một trong 10 doanh nghiệp dẫn đầu hội chợ Eximpo Vietnam
2002 theo quyết định khen thưởng số 2930/QĐ-vp ngày 18/11/2002 do Bộ Công
nghiệp, Bộ Nông nghiệp & PTNT, Bộ khoa học Công nghệ phối hợp tổ chức.
B. TÌM HIỂU VỀ CÔNG TY T&T HƯNG YÊN


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status