Lý thuyết tài chính công
MỤC LỤC
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
2
PHẦN I: KHÁI QUÁT VỀ VẤN ĐỀ NGHÈO ĐÓI
3
1.1 Một số khái niệm về nghèo đói
3
1.2 Những quan điểm về nghèo đói và xóa đói giảm nghèo
4
PHẦN II: NHỮNG THÀNH TỰU XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO CỦA
NƯỚC TA TRONG THỜI GIAN QUA
6
2.1 Những thành tựu trong công tác xóa đói giảm nghèo
6
2.2 Nguyên nhân của những thành tựu trên
11
PHẦN III: NHỮNG TỒN TẠI VÀ THÁCH THỨC CỦA CÔNG TÁC
XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY
13
3.1 Người nghèo và địa phương nghèo còn tồn tại tư tưởng ỷ lại
13
3.2 Sự thiếu sót trong việc đánh giá tỷ lệ nghèo
3.9 Các chính sách về bình đẳng giới tuy được ban hành nhiều nhưng chưa
được thực hiện nghiêm túc
18
PHẦN IV: KẾT LUẬN
19
2
Lý thuyết tài chính công
LỜI MỞ ĐẦU
LỜI MỞ ĐẦU
Đối với các nước trên thế giới, đói nghèo luôn là một vấn đề được xã hội
quan tâm. Ở các nước phát triển, dù có mức sống cao song vẫn luôn tồn tại tình
trạng phân hóa giàu nghèo. Còn ở những nước đang phát triển với thu nhập trung
bình và thấp, trong đó có Việt Nam thì một bộ phận không nhỏ dân cư vẫn sống ở
mức nghèo khổ, đặc biệt còn có những người sống trong hoàn cảnh rất khó khăn,
vẫn phải chịu tình trạng thiếu đói, không đủ ăn trong khi đây là nhu cầu cần thiết
của con người.
Trải qua nhiều thời kỳ, Việt Nam đang từng bước phát triển và đạt được
những thành tựu đáng kể trong mọi mặt như: Kinh tế xã hội, khoa học kỹ thuật, y
tế, giáo dục,… khiến cho đời sống của người dân không ngừng được nâng cao. Ở
Việt Nam, vấn đề xóa đói giảm nghèo đã được đánh giá là một trong những thành
công của quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Tỷ lệ hộ đói nghèo đã giảm đáng kể
qua các thời kỳ nhưng vẫn xếp trong nhóm các nước nghèo trên thế giới và công
cuộc xóa đói giảm nghèo của nước ta càng có nhiều thời cơ và thách thức khi
nước ta đã gia nhập WTO và hội nhập kinh tế quốc tế. Xóa đói, giảm nghèo ở
nước ta vẫn đang là vấn đề bức xúc được Đảng và Nhà nước hết sức quan tâm.
Xóa đói giảm nghèo là vấn đề cấp thiết, là nền tảng để đất nước có thể phát triển
ổn định và bền vững, do đó Đảng và Nhà nước ta đã có những chính sách, dự án,
chương trình nhằm thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo giúp nâng cao đời sông
đồng/người/tháng; thành thị: 150.000 đồng/người/tháng.
Đến năm 2005, theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Việt Nam áp
dụng chuẩn nghèo mới cho giai đoạn 2006 – 2010 theo khu vực như sau: Khu
vực nông thôn với mức thu nhập bình quân dưới 200.000 đồng/người/tháng; khu
vực thành thị với mức thu nhập bình quân dưới 260.000 đồng/người/tháng.
Theo Chỉ thị số 1752/CT-TTg ngày 21/9/2010 của Thủ tướng Chính phủ,
mức chuẩn nghèo và cận nghèo được xác định và áp dụng mới cho giai đoạn
4
Lý thuyết tài chính công
2011 – 2015. Đối với hộ nghèo: Ở khu vực nông thôn, hộ nghèo là những hộ có
mức thu nhập bình quân từ dưới 400.000 đồng/người/tháng, đối với khu vực
thành thị hộ nghèo là những hộ có mức thu nhập bình quân dưới 500.000
đồng/người/tháng. Hộ cận nghèo là những hộ có mức thu nhập bình quân từ
401.000 đồng đến 520.000 đồng/người/tháng ở khu vực nông thôn, còn ở khu
vực thành thị là từ 501.000đồng đến 650.000 đồng/người/tháng.
1.2 Những quan điểm về nghèo đói và xóa đói giảm nghèo
Hiện nay, đói nghèo không còn là vấn đề riêng của từng quốc gia, mà là
vấn đề mang tính toàn cầu, bởi vì tất cả các quốc gia trên thế giới ngay cả những
giàu mạnh thì người nghèo vẫn còn và có lẽ khó có thể hết người nghèo trong
khi xã hội chưa thể chấm dứt những rủi ro về kinh tế, xã hội, môi trường và sự
bất bình đẳng trong phân phối của cải làm ra. Rủi ro quá nhiều trong sản xuất và
đời sống làm cho một bộ phận dân cư rơi vào tình trạng nghèo.
Đói nghèo là một hiện tượng tồn tại ở tất cả các quốc gia dân tộc. Nó là
một khái niệm rộng, luôn thay đổi theo không gian và thời gian. Đến nay, nhiều
nhà nghiên cứu và các tổ chức quốc tế đã đưa ra nhiều khái niệm khác nhau,
trong đó có khái niệm khái quát hơn cả được nêu ra tại Hội nghị bàn về xóa đói
giảm nghèo ở khu vực châu Á Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tại Thái Lan
vào tháng 9/1993, các quốc gia đã thống nhất cho rằng: Đói nghèo là tình trạng
một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của
con người đã được xã hội thừa nhận, tùy theo trình độ phát triển kinh tế xã hội
Xóa đói giảm nghèo phải được coi là sự nghiệp của bản thân người nghèo, cộng
đồng nghèo, bởi vì sự nỗ lực tự vươn lên để thoát nghèo chính là động lực, là điều
kiện cần cho sự thành công của mục tiêu chống đói nghèo ở các nước. Nhà nước
sẽ trợ giúp người nghèo biết cách tự thoát nghèo và tránh tái nghèo khi gặp rủi ro.
Bên cạnh sự hỗ trợ về vật chất trực tiếp thì việc tạo việc làm cho người nghèo
bằng cách hướng dẫn người nghèo sản xuất, kinh doanh phát triển kinh tế theo
điều kiện cụ thể của họ chính là điều kiện xóa đói giảm nghèo thành công nhanh
và bền vững.
PHẦN II: NHỮNG THÀNH TỰU XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO
CỦA NƯỚC TA TRONG THỜI GIAN QUA
6
Lý thuyết tài chính công
2.1 Những thành tựu trong công tác xóa đói giảm nghèo
Ở Việt Nam, đói, nghèo vẫn đang là vấn đề kinh tế - xã hội bức xúc. Xóa
đói, giảm nghèo toàn diện, bền vững luôn luôn được Đảng và Nhà nước ta hết sức
quan tâm và xác định là mục tiêu xuyên suốt trong quá trình phát triển kinh tế - xã
hội và là một trong những nhiệm vụ quan trọng góp phần phát triển đất nước theo
định hướng xã hội chủ nghĩa.
Từ năm 2001 đến 2005: Việt Nam là một trong số ít quốc gia trên thế giới
đã đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và tương đối ổn định. Nhờ tăng trưỏng
GDP toàn nền kinh tế cao (bình quân 5 năm đạt 7,5%), tăng dần qua các năm và
trong tất cả các nhóm ngành kinh tế cơ bản nên tốc độ giảm nghèo trong giai đoạn
2001 - 2005 là khá nhanh.
Theo kết quả các đợt điều tra mức sống dân cư toàn quốc, theo tiêu chuẩn
quốc tế, nếu năm 1998 tỷ lệ nghèo chung của Việt Nam vẫn còn ở mức 37% và
năm 2000 giảm còn 32%, thì năm 2002 còn 28,9% và năm 2004 còn 24,1%. Như
vậy, mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo ở Việt Nam đã được thể
hiện rõ nét trong những năm qua.
Tính theo chuẩn quốc gia, tỷ lệ nghèo chung cả nước trong 5 năm 2001 -
2005 đã giảm được hơn một nửa. Nếu so với mục tiêu giảm 20% đã được ghi
thể hiện qua sự gia tăng thu nhập của các hộ gia đình và tăng chi tiêu cho sinh
hoạt của các hộ theo khu vực, vùng, nhóm. Tuy nhiên, vấn đề nổi lên là sự chênh
lệch giữa các khu vực, nhóm và vùng: năm 2001 - 2002, chi tiêu trung bình ở
thành thị cao gấp 2,2 lần so với khu vực nông thôn.
Trên bình diện toàn xã hội, tỷ trọng chi tiêu cho ăn uống có xu hướng
giảm, ở thành thị chiếm 52%, ở nông thôn là 60%. Nhưng đối với các hộ nghèo
thì phần lớn chi tiêu vẫn tập trung cho ăn uống, đặc biệt là nhóm hộ nghèo ở nông
thôn, chiếm trên 70% tổng chi tiêu gia đình. Xét theo vùng thì tỷ lệ chi tiêu cho ăn
uống của hai vùng Đông Nam Bộ và đồng Bằng sông Hồng là thấp nhất (tương
ứng là 52,65% và 53,83%) và cao nhất là Tây Bắc (64,24%), Đông Bắc (61,19),
đồng bằng sông Cửu Long (60,52), Tây Nguyên (58,59%) và Bắc Trung Bộ
(58,28%).
Do đời sống của nhân dân ngày càng được cải thiện, cùng với định hướng
chung là từng bước tiếp cận với trình độ của các nước đang phát triển trong khu
vực, nên chuẩn nghèo đã được điều chỉnh lại, trong đó có tính đến các nhân tố ảnh
hưởng. Chuẩn nghèo mới áp dụng cho giai đoạn 2006 - 2010 quy định: Hộ nghèo
8
Lý thuyết tài chính công
là những hộ ở khu vực nông thôn có thu nhập bình quân 200.000
đồng/người/tháng trở xuống, đối với những hộ ở khu vực thành thị có thu nhập
bình quân từ 260.000 đồng/người/tháng trở xuống. Theo quy định này, ước tính
năm 2005 cả nước ta có khoảng 3,9 triệu hộ nghèo, chiếm 22% số hộ trong toàn
quốc; Các vùng có tỷ lệ hộ nghèo cao là vùng Tây Bắc (44%) và Tây Nguyên
(40%); vùng có tỉ lệ hộ nghèo thấp nhất là vùng Đông Nam Bộ (9%).
Giai đoạn năm 2006 – 2010: Mục tiêu giảm nghèo trong giai đoạn 2006-
2010 của Việt Nam là giảm tỷ lệ hộ nghèo từ khoảng 23% năm 2005 xuống còn
15% năm 2010 (theo chuẩn nghèo mới, ước tính đến cuối năm 2005, cả nước sẽ
có hơn 4 triệu hộ nghèo); cải thiện đời sống của nhóm hộ nghèo, hạn chế tốc độ
gia tăng khoảng cách chênh lệch về thu nhập, mức sống giữa thành thị và nông
thôn, giữa đồng bằng và miền núi, giữa nhóm hộ giàu và nhóm hộ nghèo.
Trong những năm 2010 – 2013, có thể khẳng định rằng, Chiến lược toàn
diện về tăng trưởng, xóa đói giảm nghèo tại Việt Nam là đúng đắn, hợp lòng dân,
phù hợp với xu hướng chung của thế giới. Mặc dù kinh tế đất nước còn không ít
khó khăn nhưng Đảng, Nhà nước luôn coi công tác giảm nghèo là một trong
những mục tiêu quan trọng. An sinh xã hội và giảm nghèo luôn là một trong
những lĩnh vực ưu tiên hàng đầu trong hoạt động của Chính phủ những năm qua.
Những thành tựu có được trong xóa đói giảm nghèo là nhờ nỗ lực chung của toàn
Đảng, toàn dân, toàn quân, trong đó có sự đóng góp không nhỏ của các doanh
nghiệp, các cơ quan, đoàn thể, tổ chức xã hội và các cá nhân.
Tỷ lệ hộ nghèo năm 2011 giảm 1,5% so với năm 2010. Số hộ thiếu đói
năm 2011 có 609,6 nghìn hộ và 2.563 nghìn khẩu giảm 18,6% số hộ và 12,0% về
khẩu so với năm 2010.
Tính đến năm 2012, đã có 500 nghìn lượt hộ nghèo được hỗ trợ về nhà ở,
542 triệu lượt người được hỗ trợ bảo hiểm xã hội. Điều kiện sống của người
nghèo được cải thiện. Thu nhập bình quân của hộ nghèo tăng gần 2 lần trong 5
năm qua. Trong năm 2012, số lượt hộ thiếu đói giảm 27,6% và tỷ lệ hộ nghèo cả
nước cũng giảm 1,76% so với năm 2011. Tỷ lệ hộ nghèo và các huyện nghèo
giảm nhanh, hoàn thành vượt mục tiêu Quốc hội đề ra từ 14,2% (năm 2010)
xuống còn 9,6% (năm 2012). Thông qua thực hiện Chương trình 135 giai đoạn II,
tỷ lệ hộ nghèo ở các xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn giảm từ 47% (năm 2006)
xuống còn 28,8% (năm 2010), thu nhập bình quân đầu người là 4,2 triệu
đồng/người/năm. Tỷ lệ các xã có đường giao thông cho xe cơ giới từ trung tâm xã
10
Lý thuyết tài chính công
đến thôn, bản lên tới 80,7%. 2,2 triệu hộ được hỗ trợ giống cây trồng, vật nuôi;
xây dựng được 6.834 mô hình phát triển nông, lâm, ngư nghiệp Sau gần 4 năm
thực hiện, tỷ lệ hộ nghèo ở 62 huyện nghèo theo Nghị quyết 30a đã giảm từ
58,33% (năm 2010) xuống còn 43,89% (năm 2012), bình quân giảm trên 7%/năm.
Các địa phương đã hỗ trợ 1.340 lao động ở các huyện nghèo đi xuất khẩu lao
động, nâng tổng số lao động xuất khẩu lao động qua gần 4 năm lên gần 8.500
tiến hành nhanh và toàn diện, để kết quả xoá đói giảm nghèo bền vững cần phải
đảm bảo các điều kiện cho người nghèo thể thụ hưởng được các thành tựu của sự
phát triển. Việc tăng cường tài sản cho người nghèo, đặc biệt là đất đai, là một
trong những giải pháp hữu hiệu để tăng trưởng và giảm nghèo.
_Chương trình xoá đói giảm nghèo đã được cấp uỷ Đảng, chính quyền,
đoàn thể từ trung ương đến cơ sở chỉ đạo sát sao và triển khai thực hiện tích cực,
được nhân dân hưởng ứng.
Nhận thức về mục đích, ý nghĩa, tầm quan trọng cũng như phương pháp
tiếp cận giải quyết vấn đề đói nghèo cho các cấp, các ngành và mọi người dân đặc
biệt là người nghèo và xã nghèo được thường xuyên quan tâm và nâng cao. Xoá
đói giảm nghèo vươn lên khá giả và làm giàu không chỉ là trách nhiệm của nhà
nước mà trước hết thuộc về từng cá nhân, gia đình, dòng họ, cộng đồng và trách
nhiệm của toàn xã hội, đây là vấn đề mấu chốt để thực hiện thành công chương
trình quốc gia về xoá đói giảm nghèo.
_Hệ thống chính sách, cơ chế, giải pháp xoá đói giảm nghèo bước đầu
được thực hiện và đi vào cuộc sống như: tín dụng ưu đãi, hướng dẫn cách làm ăn,
hỗ trợ về y tế, giáo dục, hỗ trợ đồng bào dân tộc ít người đặc biệt khó khăn, hỗ trợ
đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, hỗ trợ pháp lý….tạo hành lang pháp lý và môi
trường thuận lợi cho xoá đói giảm nghèo và tăng cường đầu tư cơ sở vật chất cho
các xã nghèo để pháp triển sản xuất, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân,
đặc biệt ở những xã nghèo miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, đồng
bào dân tộc ít người.
12
Lý thuyết tài chính công
_Công tác xã hội hoá hoạt động xoá đói giảm nghèo, đặc biệt là xã hội
hoá về nguồn lực, nhân lực và vật lực ngày càng được mở rộng. Chính sự hợp tác
này đã tạo ra phong trào xoá đói giảm nghèo sôi động nhiều năm trong cả nước
góp phần vào thành công của chương trình. Cùng với sự chia sẻ trách nhiệm xã
hội của người dân trong việc trợ giúp ngừơi nghèo, còn có sự đồng thuận của các
tổ chức quốc tế, các quốc gia trong việc tiếp cận và giải quyết vấn đề đói nghèo ở
3.3 Tỷ lệ hộ nghèo của nước ta còn ở mức cao
Năm 2010 tỷ lệ hộ nghèo (theo chuẩn nghèo mới) của một số vùng vẫn
trên 20% (Vùng Trung du và miền núi phía Bắc còn 29,4%; Bắc Trung Bộ và
duyên hải miền Trung 20,4%; Tây Nguyên 22,2%). Đến năm 2010 ở nhiều vùng
số hộ nghèo vẫn lớn đến mức bình quân cứ 4 đến 5 hộ có 1 hộ nghèo.
Các vùng nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc
thiểu số tỷ lệ hộ nghèo cao hơn con số trung bình này nhiều. Có tới 64% số người
nghèo tập trung ở vùng núi phía Bắc, Bắc Trung Bộ, Tây Nguyên và Duyên hải
miền trung. Sự bất bình đẳng trong thu nhập và mức sống giữa các vùng và các
nhóm dân cư còn cao và xu hướng tiếp tục tăng. Năm 2010, tỷ lệ nghèo đã giảm
trên phạm vi toàn quốc nhưng giảm nhanh hơn ở các vùng quanh khu vực thành
phố lớn như Hà Nội và Tp.Hồ Chí Minh. Tiến bộ không đồng đều dẫn đến những
thay đổi lớn về phân bố nghèo theo vùng, người nghèo còn lại chủ yếu tập trung ở
vùng cao miền Bắc và Tây Nguyên.
Các thành viên thuộc 53 dân tộc của Việt Nam, không tính người Kinh, chỉ
chiếm 15% tổng dân số nhưng lại có tới 47% tổng số người nghèo và chiếm 68%
số người nghèo cùng cực. Tuy điều kiện sống của nhiều nhóm dân tộc thiểu số đã
được cải thiện nhưng tỷ lệ người dân tộc thiểu số trong số người nghèo lại gia
tăng đáng kể, từ 28% năm 1998 lên 47% năm 2010 đối với người nghèo và từ
43% lên 68% đối với người nghèo cùng cực. Trong khi đó, chỉ có 12,9% người
Kinh vẫn nghèo và 2,9% sống dưới chuẩn nghèo cùng cực.
14
Lý thuyết tài chính công
3.4 Sự bất bình đẳng trong thu nhập và mức sống giữa các vùng và
các nhóm dân cư còn cao và xu hướng tiếp tục tăng
Giữa các vùng: Tỷ lệ hộ nghèo ở khu vực miến núi vẫn còn cao gấp từ 1.7
đến 2 lần tỷ lệ hộ nghèo bình quân của cả nước. Tỷ lệ hộ nghèo vùng đồng bào
dân tộc thiểu số trong tổng số hộ nghèo của cả nước có chiều hướng tăng trở lại.
Tỷ lệ hộ nghèo tập trung chủ yếu ở vùng khó khăn, có nhiều yếu tố bất lợi như
điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, kết cấu hạ tầng thấp kém, trình độ dân trí thấp,
sản xuất và đời sống.
Nguy cơ dễ bị tổn thương của người nghèo trước những rủi ro của cuộc
sống (ốm đau, thiên tai, mất mùa, biến động thị trường, môi trường ô nhiếm, thất
nghiệp…) còn lớn. Hệ thống an sinh xã hội chưa phát huy tác dụng ở những vùng
nông thôn, vùng sâu, vùng xa. Đặc biệt nước ta nằm trong vùng thường xuyên xảy
ra thiên tại, bão lụt và 80% người nghèo làm việc trong nông nghiệp có thể dẫn
đến nguy cơ tái nghèo đói cao. Mặt khác, có không ít hộ tuy không thuộc diện đói
nghèo mức thu nhập không ổn định nằm giáp ranh chuẩn nghèo đói cũng có nguy
cơ tái đói nghèo.
Bên cạnh đó nghèo đói có mối liên quan mật thiết với tình trạng suy thoái
môi trường. Nghèo đói có thể khiến cho nông dân khai thác qúa mức nguồn tài
nguyên vốn đã hạn hẹp và càng làm cho nghèo trở lên trầm trọng hơn.
3.6 Nguồn lực huy động cho chương trình xóa đói, giảm nghèo còn
khiêm tốn
Đó là do nước ta còn nghèo nên ngân sách nhà nước không lớn. Mặt khác,
nhà nước vừa phải chi đầu tư cho các mục tiêu khác vừa phải đầu tư cho công tác
xoá đói giảm nghèo cũng là nguyên nhân dẫn đến việc nguồn lực đầu tư cho công
tác này chưa thực sự tương xứng với đòi hỏi và nhu cầu đầu tư cho phát triển.
Trung bình nguồn ngân sách chi cho các chương trình XDGN chỉ chiếm gần 2%
ngân sách nhà nước.
Địa bàn trọng điểm của công tác xoá đói giảm nghèo hiện nay chủ yếu là
những xã vùng cao, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số nơi mà cơ
sở hạ tầng còn thiếu thốn chưa đồng bộ, trình độ dân trí thấp, nhu cầu đầu tư lớn,
khó thu hút được khu vực tư nhân tham gia đầu tư. Do đó nhà nước sẽ là chủ thể
chủ yếu thực hiện các kế hoạch, dự án của chương trình xoá đói giảm nghèo. Đây
thực sự là thách thức vô cùng lớn đối với một quốc gia đang phát triển như Việt
Nam trong việc giải quyết tình trạng nghèo đói trong thời gian tới. Và đó cũng là
16
Lý thuyết tài chính công
thách thức nói chung cho tất cả các quốc gia khác trước thực trạng đói nghèo của
17
Lý thuyết tài chính công
cư vượt lũ; mức chi phí cho khám, chữa bệnh còn thấp; chính sách trợ cước, trợ
giá cũng còn bất hợp lý; mức vốn vay tín dụng ưu đãi còn thấp và chưa thật phù
hợp với chu kỳ sản xuất kinh doanh; cơ chế phân bổ vốn còn mang tính bình quân,
v.v Ở một số nơi, nhất là vùng cao, vùng sâu thông tin đến với người dân chưa
đầy đủ nên nhận thức về các chính sách của Nhà nước đối với người nghèo còn
hạn chế. Những khiếm khuyết nói trên đã làm cho hiệu quả của chương trình xóa
đói, giảm nghèo bị giảm bớt một phần.
Việc tổ chức thực hiện chương trình xóa đói, giảm nghèo không đồng đều
ở một số địa phương. Đội ngũ cán bộ vừa thiếu về số lượng, vừa yếu về năng lực.
Phần lớn cán bộ thực thi chương trình ở cấp xã đều kiêm nhiệm, chưa được đào
tạo, bồi dưỡng thường xuyên. Việc theo dõi, giám sát chương trình chưa có hệ
thống và đồng bộ. Công tác sơ kết, tổng kết, đánh giá chương trình chủ yếu dựa
trên các báo cáo với lượng thông tin chưa đầy đủ.
Thiếu cơ chế giám sát, kiểm tra, thanh tra hiệu quả đối với việc thực hiện
các chương trình quốc gia về xoá đói giảm nghèo thông qua các dự án lớn về
nguốn vốn. Các hiện tượng tham ô, tham nhũng đã gây thất thoát nguồn ngân sách
từ công trình, gây mất lòng tin của nhân dân và từ phía các nhà đầu tư nước ngoài
về sử dụng và quản lý nguốn vốn vay nước ngoài ( ODA, vốn vay ngân hàng
ADB, IMF,WB…).
3.9 Các chính sách về bình đẳng giới tuy được ban hành nhiều nhưng
chưa được thực hiện nghiêm túc
Phụ nữ và trẻ em gái ở vùng sâu, vùng xa, phụ nữ vùng dân tộc ít người
còn ít đựơc hưởng lợi từ chính sách, bị ảnh hưởng từ tư tưởng hoặc phong tục tập
quán lạc hậu, là nạn nhân của tội buôn bán phụ nữ và bạo hành gia đình.
Xem xét từ góc độ quyền con người thì phụ nữ và trẻ em là hai đối tượng
yếu thế trong xã hội, cần có chính sách bảo vệ. Nhưng trên thực tế họ lại chưa
được tiếp cận với các chính sách ưu đãi của nhà nước đặc biệt là quyền chăm sóc
sức khoẻ. Các phương tiện thông tin đại chúng hiện nay cũng đã đưa tin cho thấy
20