Vận dụng nguyên lý về mối liên hệ phổ biến trong quá trình đổi mới kinh tế ở thanh hóa hiện nay - Pdf 95

Lời cảm ơn
Sau thời gian học tập và rèn luyện, để có được kiến thức như
ngày hôm nay, em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong
khoa Lý Luận Chính Trị cũng như các thầy cô trong Trường Đại Học
Khoa Học Huế đã tận tình dạy dỗ, truyền đạt kiến thức và tạo mọi
điều kiện để em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này.
Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đến thầy giáo
TS. Hồ Minh Đồng, người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em
trong thời gian thực hiện khoá luận.
Cuối cùng, em xin cảm ơn những người thân trong gia đình và
tất cả các bạn bè đã có những ý kiến đóng góp và những động viên
trong suốt thời gian qua.
Trong quá trình làm đề tài, do còn thiếu nhiều kinh nghiệm
thực tế nên không tránh khỏi những sai sót. Em mong các thầy cô chỉ
bảo thêm giúp em hoàn thành và đạt kết quả tốt hơn. Em xin chân
thành cảm ơn!
Huế, tháng 05 năm 2011
Sinh viên
Lê Thị Thanh
1
MỤC LỤC
Trang
A. PHẦN MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
2.Tình hình nghiên cứu của đề tài.
3. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5. Phương pháp nghiên cứu
6. Đóng góp của đề tài
7. Kết cấu đề tài
B. PHẦN NỘI DUNG

quan điểm toàn diện để giúp chúng ta tránh đánh giá phiến diện, siêu hình, một
chiều, nếu không sẽ dẫn đến cái nhìn chủ quan trong nhận thức. Vì tính cấp
thiết đó mà nhiều nhà nghiên cứu đã quan tâm đến.
Ngày nay khi đất nước đang thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện, phát
triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mở cửa hội nhập
quốc tế, trong bối cảnh có nhiều cơ hội và thách thức lớn. Thực tiễn đó đặt ra
nhiều vấn đề mới đối với sự lãnh đạo của Đảng, trong đó vấn đề trọng tâm là
đổi mới kinh tế, đây là nhiệm vụ then chốt để đảm bảo đưa nước ta sánh vai
với các cường quốc trên thế giới.
Trong đại hội IX Đảng đề ra mục tiêu của chiến lược phát triển kinh tế -
xã hội 10 năm (2001- 2010) là: “Đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển,
nâng cao rõ rệt đời sống vật chất tinh thần của nhân dân tạo nền tảng để đến
năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại.
Thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN được hình thành về cơ bản, vị
thế của nước ta trên thị trường quốc tế được nâng cao”. Tiếp thu quan điểm của
Đại hội IX, Đảng ủy Thanh Hóa đã không ngừng cố gắng để đẩy mạnh công
cuộc xây dựng và phát triển nhằm đưa Thanh Hóa trở thành một trung tâm kinh
tế - văn hóa - xã hội phía Bắc; phấn đấu lên đô thị loại II. Để thực hiện được
điều này trong những năm tới thì một trong những vấn đề cần quan tâm giải
quyết đó là phải có những phương hướng đúng trong quá trình đổi mới nền
3
kinh tế của tỉnh để đề ra những chính sách, quan điểm, biện pháp phát triển
kinh tế toàn diện.
Thực tế sau những năm đổi mới toàn diện đất nước do Đảng ta khởi
xướng, lãnh đạo, đã được nhân dân đồng tình hưởng ứng, đạt được những
thành tựa to lớn và có ý nghĩa lịch sử trọng đại. Quán triệt chủ trương của
Đảng và Nhà nước, trong những năm qua tốc độ phát triển kinh tế đồng đều và
bền vững của tỉnh Thanh Hóa đã mang lại nhiều thành quả quan trọng. Điều
này cho thấy sự đúng đắn, kịp thời, hợp lý của Đảng bộ và năng lực thực tiễn
của tỉnh Thanh Hóa. Tỉnh đang dần từng bước khẳng định vị thế của mình

Xô, Nxb, Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998; “Giáo trình Mác – Lênin” (2009),
Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội; Giáo trình trung cấp lý luận chính trị
“Những nguyên lý cơ bản của triết học Mác – Lênin”, Nxb, lý luận chính trị,
học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, (2004). Đối với việc vận dụng
nguyên lý về mối liên hệ phổ biến vào trong sự đổi mới kinh tế ở Thanh Hóa
thì đây là vấn đề hoàn toàn mới, đã có nhiều công trình đề cập đến vấn đề vận
dụng nhưng dưới góc độ khác nhau như: Tạp chí Triết Học, số 7 (2010): “mấy
vấn đề về đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở Việt Nam hiện nay”của Lương
Đình Hải; Tạp chí Triết Học, số 3(2010) “công cuộc đổi mới ở Việt Nam, đặc
trưng và triển vọng” Nguyễn Hữu Đễ. Tạp chí triết học, Số 7(2008) “Vấn đề
phát triển nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta hiện nay”, Nguyển Đức
Luận
Nhìn chung, qua tham khảo những tài liệu trên thì thấy rằng những công
trình nghiên cứu lý luận đó đã đề cập nhiều vấn đề, trên nhiều phạm vi tiếp vận
khác nhau. Những tài liệu này đề cập tới Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến, và
sự đổi mới trong kinh tế ở nước ta trong những năm qua. Tuy nhiên việc vận
dụng nguyên lý về mối liên hệ phổ biến với tính cách là phương pháp luận khoa học
5
trong đổi mới kinh tế ở tỉnh Thanh Hóa thì chưa có những gì mà tỉnh Thanh Hóa đã
vận dụng nguyên lý về mối liên hệ phổ biến vào trong đổi mới kinh tế hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
3.1 Mục đích của đề tài
Đề tài nghiên cứu nhằm mục đích: Đề tài làm rõ những yêu cầu về sự vận
dụng ý nghĩa phương pháp luận của nguyên lý về mối liên hệ phổ biến của
phép biện chứng duy vật mácxít vào trong quá trình đổi mới kinh tế ở Thanh
Hóa hiện nay đồng thời chỉ ra những nguyên nhân thành công, xu thế phát triển
kinh tế trong giai đoạn mới và đưa ra những kiến nghị, giải pháp trên quan
điểm phát triển toàn diện
3.2 Nhiệm vụ của đề tài
Để thực hiện được mục đích trên, khóa luận thực hiện những nhiệm vụ

tham khảo, đề tài được kết cấu với 2 chương, 4 tiết:
7
II. PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGUYÊN LÝ VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN
1.1. Khái niệm “mối liên hệ”
Theo từ điểm Tiếng Việt, thì “mối” là “đoạn đầu của sợi dây, sợi chỉ
dùng để buộc thắt lại với nhau; chỗ nối, chỗ thắt, chỗ từ đó có thể quan hệ với
một tổ chức, cơ sở liên lạc” [14, tr640]. Còn “liên hệ” là “chỉ sự vật, sự việc có
quan hệ làm cho ít nhiều tác động đến nhau, dựa trên những mối quan hệ nhất
định” [14, tr567]. Như vậy, mối liên hệ có thể được hiểu theo cách là sự quan
hệ qua lại và tác động lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng, quá trình trong tự
nhiên, xã hội và tư duy theo một cách thức, con đường của nó.
Theo quan điểm biện chứng, khái niệm “liên hệ” phản ánh sự phụ thuộc,
ràng buộc lẫn nhau, làm điều kiện, tiền đề cho nhau và quy định lẫn nhau của
mọi sự vật, hiện tượng trên thế giới. “Liên hệ” còn phản ánh sự tác động qua
lại lẫn nhau giữa chúng. Đó là kiểu liên hệ đặc biệt mà trong đó các sự vật,
hiện tượng là đối tượng biến đổi của nhau một cách trực tiếp, hoặc gián tiếp,
nhờ đó mà sự vận động, biến hóa của thế giới được thực hiện thường xuyên,
liên tục.
Mối liên hệ trước hết là mối liên hệ giữa các đối tượng và hiện tượng của
hiện thực nhưng không phải bất kỳ quan hệ nào cũng đều có mối liên hệ. Trong
thế giới tất cả hiện tượng đều ở trong tình trạng liên hệ lẫn nhau và biệt lập
(tách biệt) với nhau. Chúng liên hệ với nhau trong mối liên hệ này, nhưng lại
không liên hệ với nhau trong mối liên hệ khác. Trong các hiện tượng có những
thay đổi xảy ra giả định phải có những thay đổi tương ứng trong các hiện tượng
khác.
Chẳng hạn: Nhân nguyên tử có liên hệ hữu cơ với vỏ bọc điện tử, đồng
thời vẫn biệt lập với nó. Trong hạt nhân có những thay đổi đòi hỏi phải có thay
đổi vỏ bọc, hay . Về sự thống nhất giữa mối liên hệ và tách biệt là quan hệ giữa

phạm trù quan hệ trong học thuyết phán đoán của ông. Theo ông bất kỳ một
phán đoán nào thì các khái niệm đồng thời vừa liên hệ, vừa biệt lập với nhau.
Chẳng hạn: Trong phán đoán “sói là một động vật” thì theo ông vừa nói
lên rằng sói thuộc giới động vật có liên hệ với các động vật, vừa nói lên sói
tách rời, biệt lập với các động vật khác như chó, linh cẩu
Cantơ đã có công trong việc phân tích phạm trù liên hệ và quan hệ trong
tu duy, trong lĩnh vực các khái niệm, tuy nhiên về thực chất ông lại không thừa
nhận có mối liên hệ qua lại có tính quy luật phổ biến trong hiện thực khách
quan (theo ông mối liên hệ đó là do nhận thức đưa vào thế giới các hiện
tượng).
Nhà triết học cổ điển Đức Hêghen đã bác bỏ quan niệm của Cantơ khi
ông cho rằng mối liên hệ mang tính quy luật, tính thống nhất do chủ thể tư duy
vào thế giới các hiện tượng. Hêghen cho rằng mối liên hệ qua lại đó. Tính
thống nhất đó theo bản tính của chúng về căn bản là thuộc tính của thế giới
hiện tượng, chúng tồn tại một cách khách quan bên ngoài ý thức của con người
và là những hình thức tồn tại phổ biến của các sự vật. (Hêghen đứng trên quan
điểm duy tâm để phê phán chủ nghĩa chủ quan của Cantơ trong việc giải thích
mối liên hệ và quan hệ phổ biến).
Trong lịch sử triết học có rất nhiều khuynh hướng phủ nhận mối liên hệ
lẫn nhau giữa các hiện tượng trong hiện thực dưới các hình thức khác nhau.
Quan niệm chung của những nhà triết học hiện đại là dựa vào sự quan sát trực
tiếp, vào sự ngắm nhìn những gì xảy ra trên bề mặt các hiện tượng. Trong khi
nghiên cứu các sự vật và hiện tượng thì phương pháp tư duy lúc đầu hình thành
trong khi nghiên cứu giới tự nhiên, sau đó chuyển sang triết học do F.Bêcơn và
J.Lốccơ là những người vận dụng nó khi nghiên cứu phương pháp nhận thức.
10
Theo F.Bêcơn, người ta nhận thức các đối tượng bằng cách phân đôi
chúng trong tư duy thành các “chất” đơn giản và nghiên cứu các “chất” để tách
biệt với nhau trên cơ sở các kết quả nhận được, người ta dựng lên hình ảnh của
lĩnh vực các hiện tượng được nghiên cứu. Tuy nhiên nếu chúng ta chia nhỏ đối

phổ biến là ở cảm giác (duy tâm chủ quan), hay ở ý niệm tuyệt đối (duy tâm
khách quan). Đó là những cách giải thích một cách chủ quan, thần bí, không
khoa học. Đứng trên quan điểm duy vật khoa học, phép biện chứng duy vật
khẳng định rằng, cơ sở của sự liên hệ là ở tính thống nhất vật chất của thế giới.
Theo quan điểm này, các sự vật, các hiện tượng trên thế giới dù có đa dạng,
khác nhau như thế nào chăng nữa thì chúng cũng chỉ là những dạng tồn tại
khác nhau của một thế giới duy nhất là thế giới vật chất. Ngay cả tư tưởng, ý
thức của con người vốn là những cái phi vật chất, cũng chỉ là thuộc tính của
một dạng vật chất có tổ chức cao là bộ óc con người, nội dung của chúng cũng
chỉ là kết quả phản ánh của các quá trình vật chất khách quan.
Vượt lên trên quan điểm siêu hình, phép biện chứng duy vật cho rằng
không thể hiểu được bất cứ một hiện tượng nào trong tự nhiên nếu người ta
tách nó ra khỏi những hiện tượng chung quanh mà xét. Vì bất cứ một hiện
tượng nào trong bất kỳ một lĩnh vực nào của tự nhiên cũng đều có thể biến
thành một cái vô nghĩa, nếu người ta tách nó ra khỏi những điều kiện chung
quanh để xét nó ngoài những điều kiện đó; trái lại, bất cứ hiện tượng nào cũng
đều có thể hiểu được, có thể chứng minh được, nếu người ta xét nó trong điều
kiện là nó có sự liên hệ không tách rời với những hiện tượng chung quanh chế
ước. Tự nhiên không phải như là một sự tích lũy ngẫu nhiên của các sự vật, các
hiện tượng tách rời nhau, riêng biệt và độc lập với nhau, mà như là một chỉnh
thể thống nhất, có liên hệ nội bộ, trong đó các sự vật, hiện tượng đều có những
mối liên hệ hữu cơ với nhau, đều thúc đẩy lẫn nhau và chế ước cho nhau.
12
Luận điểm trên đây có một ý nghĩa khoa học rất lớn. Người ta không chú
trọng đến mối liên hệ khách quan và đến tính chất tùy thuộc lẫn nhau của các
hiện tượng, người ta sẽ hình dung tự nhiên như một đống hỗn độn, không phục
tùng bất cứ một quy luật nào cả, và tuyệt nhiên không thể nào được giải thích
một cách hợp lý. Hiểu được một hiện tượng, tức là phát hiện ra sự liên hệ nhân
quả của hiện tượng đó với những hiện tượng, sự vật khác, người ta không thể
chẳng hạn như giải thích sự tiến hóa của thực vật và động vật mà không nói

Khi nói về cơ sở của mối liên hệ phổ biến, phép biện chứng duy tâm cho
rằng là ở cảm giác (duy tâm chủ quan), hay ở ý niệm tuyệt đối (duy tâm khách
quan). Đó là những cách giải thích một cách chủ quan, thần bí, không có cơ sở
khoa học. Trên cơ sở khoa học phép biện chứng mácxít khẳng định rằng, cơ sở
của sự liên hệ phổ biến là ở tính thống nhất vật chất của thế giới. Các sự vật,
hiện tượng dù có đa dạng, khác nhau như thế nào chăng nữa thì cũng chỉ là
những dạng tồn tại khác nhau của một thế giới duy nhất là thế giới vật chất.
Ngay cả ý thức, tư tưởng của con người vốn là những cái phi vật chất cũng chỉ
là thuộc tính của một dạng vật chất có tổ chức cao nhất là bộ óc con người, nội
dung của chúng cũng chỉ là kết quả phản ánh của quá trình vật chất khách
quan
Ngày nay khoa học hiện đại đã có nhiều phát minh chứng tỏ rằng : yếu
tố quyết định hình thức tồn tại của sự vật, hiện tượng ở một dạng hình thức cụ
thể nào đó là cách thức liên hệ với nhau của các yếu tố, các bộ phận cấu thành
sự vật, hiện tượng đó. Còn yếu tố quyết định sự biến đổi của các sự vật, hiện
tượng là sự tác động qua lại giữa các yếu tố, các bộ phận cấu thành nó mà chủ
yếu là sự liên hệ, tác động qua lại của các mặt đối lập ở bên trong sự vật, hiện
tượng. Mặt khác, bản thân sự tồn tại của các sự vật, hiện tượng cùng với sự liên
hệ, tác động qua lại giữa chúng là cơ sở hiện thực để các sự vật, hiện tượng quy
14
định lẫn nhau, phân biệt được với nhau qua vẻ bề ngoài của chúng. Hơn nữa,
những thuộc tính bên trong vốn có của sự vật, hiện tượng liên hệ chỉ được bộc
lộ ra khi chúng tác động qua lại với nhau. Tùy theo mức độ và sự đa dạng của
mối liên hệ và cường độ của sự tác động đó mà bản thân hay là quy luật vốn có
bên trong của sự vật, hiện tượng được bộc lộ ra bên ngoài. Chỉ có trên cơ sở
như vậy, chúng ta mới có thể nhận thức được bản chất sâu sắc của sự vật, hiện
tượng cùng với tính đa dạng muôn hình, muôn vẻ, sinh động và vô cùng, vô tận
của thế giới. Chẳng hạn người ta không thể hình dung được sự tồn tại của một
quốc gia nếu không có sự liên hệ, tác động qua lại của các yếu tố cấu thành nó,
đó là sự thống nhất của các dân tộc trong quốc gia đó. Đến lượt nó, sự thay đổi

mối liên hệ chung nhất của các sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan.
Lênin viết: “Trước con người, có màng lưới những hiện tượng tự nhiên. Con
người bản năng, người man rợ, không tự tách khỏi giới tự nhiên, những phạm
trù là những giai đoạn của sự tách biệt đó, tức là của sự nhận thức thế giới,
chúng là những điểm nút của màng lưới, giúp ta nhận thức và nắm vững màng
lưới” [16, tr.102]
Thứ nhất, mối liên hệ giữa cái chung và cái riêng
Đây là mối liên hệ phổ biến nhất, liên quan tới toàn bộ quá trình nhận
thức của con người. Theo quan điểm của phép biện chứng duy vật, cái riêng và
cái chung không thể tách rời nhau. Không có cái chung tồn tại độc lập đứng
ngoài cái riêng mà ngược lại: “cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua
cái riêng” [16, tr.381]. Mỗi cái chung chỉ là một bộ phận, một thuộc tính, một
đặc điểm của cái riêng. Cái riêng là cái toàn thể, cái chung là cái bộ phận, vì
vậy cái chung không bao quát hết cái riêng và cái riêng phong phú hơn cái
chung.
16
Tuy nhiên, cái chung căn bản bao giờ cũng sâu sắc hơn cái riêng, vì nó
là cái bản chất, cái mang tính quy luật. Cũng vì vậy, Lênin khẳng định: “cái
riêng chỉ tồn tại trong mối liên hệ đưa đến cái chung” [16, tr. 381]. Cái riêng là
cái tồn tại độc lập tương đối với những cái khác. Mỗi cái riêng đều chịu sự tác
động cụ thể của môi trường mà nó tồn tại, bị chi phối bởi những mối liên hệ
bên trong và bên ngoài. Điều đó tạo nên những sự vận động cụ thể, mang tính
đặc thù. Tuy vậy, mọi cái riêng đều bị chi phối bởi những mối liên hệ chung,
bởi các quy luật chung và thông qua các hình thức vận động muôn vẻ, cuối
cùng nó đều đi theo những con đường khác nhau để đi tới những kết cục
chung, tất yếu của từng loại sự vật, hiện tượng hay của toàn bộ thế giới khách
quan.
Cái riêng không bao giờ nhập hết vào cái chung. Mỗi cái riêng, bên cạnh
cái chung, cái phổ biến bao giờ cũng tồn tại cái cá biệt, cái không lặp lại, cái
đơn nhất. Cái đơn nhất và cái chung như hai mặt đối lập tạo nên cái riêng.

tố tạo thành sự vật gây nên sự biến đổi của sự vật. Nguyên nhân bên ngoài là
sự tác động qua lại giữa các sự vật tạo nên sự biến đổi của từng sự vật ấy. Khi
xét nguyên nhân bên trong và nguyên nhân bên ngoài bao giờ cũng xét chúng
trong mối liên hệ cụ thể. Cái là nguyên nhân bên trong xét trong mối quan hệ
này lại là nguyên nhân bên ngoài xét trong mối quan hệ khác. Trong hai
nguyên nhân này, nguyên nhân bên trong bao giờ cũng giữ vai trò quyết định
đối với sự biến đổi của sự vật, còn nguyên nhân bên ngoài chỉ thực sự có tác
dụng khi nó chuyển được thành nguyên nhân bên trong hoặc thông qua nguyên
nhân bên trong.
Khi một kết quả có nhiều nguyên nhân thì vai trò của các nguyên nhân
đối với việc hình thành kết quả không giống nhau. Những nguyên nhân nào
quyết định sự ra đời của kết quả thì gọi là nguyên nhân chủ yếu. Những nguyên
18
nhân chỉ ảnh hưởng tới kết quả, hoặc quyết định những mặt, những bộ phận
không cơ bản của kết quả thì gọi là nguyên nhân thứ yếu.
Trong đời sống xã hội còn có sự phân biệt giữa nguyên nhân khách quan
và nguyên nhân chủ quan. Đây là nguyên nhân được xác định trong mối quan
hệ với chủ thể hành động. Nguyên nhân khách quan là những sự tác động độc
lập với các chủ thể xác định. Nguyên nhân chủ quan là những sự tác động xảy
ra do sự điều khiển của một cá nhân, một giai cấp, hay một tổ chức xã hội nào
đó. Nguyên nhân chủ quan không chỉ ảnh hưởng tới chất của kết quả, mà còn
ảnh hưởng tới lượng của kết quả. Chẳng hạn, chất và lượng của các sản phẩm
làm ra phụ thuộc rất nhiều vào nhân tố chủ quan.
Thứ ba, mối quan hệ giữa tất nhiên và ngẫu nhiên
Mối quan hệ này được chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định đều tồn
tại một cách khách quan. Cả tất nhiên và ngẫu nhiên đều có vai trò quan trọng
trong sự phát triển của tự nhiên cũng như của xã hội. Tất nhiên bao giờ cũng
được thể hiện qua cái ngẫu nhiên, còn ngẫu nhiên là sự thể hiện của cái tất
nhiên trong một điều kiện, một hoàn cảnh cụ thể. Ăngghen viết: “ cái mà
người ta quả quyết cho là tất yếu lại hoàn toàn do những ngẫu nhiên thuần túy

giữa chúng và đòi hỏi phải “vứt bỏ hình thức cũ”, xác lập hình thức mới. Việc
thay đổi này là để đảm bảo cho nội dung luôn phát triển. Sự vận động của xã
hội theo chiều hướng đi lên, tuy vậy nó luôn bị các hình thức cũ (những cơ cấu
tổ chức xã hội cũ kìm hãm). Quá trình phát triển xã hội vứt bỏ nhiều hình thức
đã lỗi thời, tọa điều kiện cho nội dung cuộc sống luôn luôn phát triển đi từ thấp
đến cao. Trong cuộc sống hiện thực, mối quan hệ giữa nội dung và hình thức
đều hết sức đa dạng, một nội dung có thể được thể hiện bằng nhiều hình thức,
một hình thức lại có thể phản ánh nhiều nội dung.
Thứ năm, mối quan hệ giữa bản chất và hiện tượng
Bản chất bao giờ cũng được thể hiện qua hiện tượng, hiện tượng bao giờ
cũng phản ánh một mặt, một khía cạnh nào đó của bản chất. Mỗi bản chất
20
không phải chỉ được thể hiện qua một hiện tượng, mà thường được bộc lộ qua
nhiều hiện tượng khác nhau. Tất nhiên, các hiện tượng phản ánh bản chất
không như nhau. Có hiện tượng phản ánh bản chất khá trực tiếp, rõ ràng.
Ngược lại, có hiện tượng phản ánh bản chất một cách quanh co, phức tạp và
trong nhiều trường hợp, các sự vật thường tìm cách che dấu bản chất của mình.
Bản chất mang tính ổn định tương đối, còn hiện tượng biến đổi thường
xuyên. Hiện tượng là sự biểu hiện ra bên ngoài của bản chất, nhưng điều kiện,
hoàn cảnh bên ngoài không đồng nhất, vì vậy ở những môi trường khác nhau
thì hiện tượng cũng khác nhau. Trong thực tế, bản chất cũng không phải là cái
hoàn toàn cố định. Theo Lênin: “không phải chỉ riêng hiện tượng là tạm thời,
chuyển động, lưu động, bị tách rời bởi những giới hạn có tính chất ước lệ, mà
bản chất của sự vật cũng như thế” [16, tr.268].
Điều đó cũng có nghĩa bản chất cũng biến đổi dễ dàng như hiện tượng.
Sự biến đổi của bản chất chỉ xảy ra khi có sự tác động mạnh mẽ, hoặc lâu dài
tạo nên những biến đổi cơ bản, sâu sắc của các nhân tố tạo nên sự vật. Trong
đời sống xã hội, bản chất của một con người có thể thay đổi do những tác động
mạnh mẽ, lâu dài của hoàn cảnh sống, của giáo dục. Nhưng sự biến đổi này
nhiều khi rất phức tạp và đòi hỏi phải được củng cố, duy trì bằng hàng loạt biện

Có mối liên hệ bên ngoài, tức là sự liên hệ của các sự vật, hiện tượng với
nhau. Có mối liên hệ bên trong, tức là sự liên hệ, tác động qua lại giữa các mặt,
các yếu tố, các bộ phận, các quá trình ở bên trong sự vật, cấu thành sự vật. Có
những mối liên hệ chung của toàn thế giới, hoặc trong những lĩnh vực rộng lớn
của thế giới; lại có những mối liên hệ riêng biệt trong từng lĩnh vực, từng sự
vật, từng hiện tượng cụ thể. Có mối liên hệ trực tiếp giữa hai hoặc nhiều sự vật,
hiện tượng; lại có những mối liên hệ gián tiếp, trong đó các sự vật, hiện tượng
liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau phải thông qua một hay nhiều khâu trung
gian. Có mối liên hệ tất nhiên lại có mối liên hệ ngẫu nhiên. Có mối liên hệ cơ
22
bản, thuộc về bản chất của sự vật, đóng vai trò quyết định sự tồn tại và phát
triển của sự vật; lại có mối liên hệ không cơ bản, chỉ đóng vai trò hổ trợ, bổ
sung cho sự tồn tại và phát triển của nó. Trong từng giai đoạn phát triển của sự
vật có mối liên hệ chủ yếu, quyết định sự tồn tại và phát triển của sự vật trong
giai đoạn đó, lại có mối liên hệ thứ yêu. Các sự vật, hiện tượng trãi qua giai
đoạn phát triển khác nhau. Chính sự liên hệ, tác động qua lại của các giai đoạn
kế tiếp nhau ấy quyết định tính liên lục trong quá trình vận động, biến đổi và
phát triển của chúng. Tùy theo phương hướng của sự tác động mà có mối liên
hệ thuận chiều, ngược chiều, mối liên hệ đơn, hoặc mối liên hệ kép
Cái loại liên hệ khác nhau có vai trò khác nhau đối với sự vận động, phát
triển của sự vật, hiện tượng. Chẳng hạn: sự vật, hiện tượng nào cũng có mối
liên hệ bên trong và mối liên hệ bên ngoài, nhưng vai trò của chúng đối với sự
vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng là khác nhau. Mối liên hệ bên
trong bao giờ cũng giữ vai trò quyết định, còn mối liên hệ bên ngoài không có
ý nghĩa quyết định, vả lại nó cũng thông qua mối liên hệ bên trong mà phát huy
tác dụng đối với sự vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng. Dĩ nhiên, sự
phân loại các mối liên hệ chỉ có ý nghĩa tương đối. Các loại liên hệ khác nhau
có thể chuyển hóa lẫn nhau. Sự chuyển hóa như vậy có thể diễn ra, hoặc do tay
đổi phạm vi bao quát qua xem xét, hoặc do kết quả vận động khách quan của
chính sự vật, hiện tượng. Chẳng hạn cái là ngẫu nhiên khi xem xét trong quan

sự vật, hiện tượng, quan điểm toàn diện đòi hỏi chúng ta nhận thức về sự vật
trong mối liên hệ qua lại giữa các bộ phận, giữa các yếu tố, giữa các mặt của
chính sự vật và trong sự tác động qua lại giữa các sự vật đó với các sự vật
khác, kể cả mối liên hệ trực tiếp và mối liên hệ gián tiếp. Chỉ trên cơ sở đó mới
có thể nhận thức đúng về sự vật. Chẳng hạn, muốn nhận thức đúng và đầy đủ
24
tri thức khoa học của triết học, chúng ta còn phải tìm ra mối liên hệ của tri thức
triết học với tri thức của khoa học khác, với tri thức cuộc sống và ngược lại, vì
tri thức triết học được khái quát từ tri thức của các khoa học khác và hoạt động
của con người, nhất là tri thức chuyên môn được chúng ta lĩnh hội. Một trong
những nguyên nhân làm cho người học không nắm vững tri thức triết học chính
là do người học không biết liên hệ tri thức của các khoa học khác lại với nhau.
- Phải xem xét các mối liên hệ của sự vật không phải là xem xét một
cách dàn trải, đồng loạt như nhau, theo kiểu “bình quân chủ nghĩa”, mà phải
đánh giá đúng vị trí, vai trò của từng mối liên hệ. Từ trong tổng số những mối
liên hệ ấy, trước hết phải rút ra được những mối liên hệ cơ bản, chủ yếu –
những mối liên hệ quy định bản chất, quyết định khuynh hướng phát triển của
sự vật, trong suốt quá trình, cũng như ở mỗi giai đoạn tồn tại của sự vật – đang
chi phối những mối liên hệ khác của sự vật. Sau khi vạch được mối liên hệ cơ
bản, chủ yếu, chủ thể phải xuất phát từ mối liên hệ ấy để phân tích các mối liên
hệ khác của sự vật, liên kết chúng với các mối liên hệ cơ bản, chủ yếu thành
một hệ thống hoàn chỉnh, có như vậy mới đánh giá đứng sự vật.
Như vậy, quan điểm toàn diện đòi hỏi phải xem xét tất cả các mối liên hệ
của các sự vật, coi chúng là cơ sở là căn cứ đầy đủ để từ đó rút ra được bản
chất của sự vật. Từ chỗ hiểu được bản chất của sự vật, phải quay lại giải thích
được các mối liên hệ khác của sự vật rồi liên kết chúng lại thành một hệ thống
hoàn chỉnh. Chỉ đến khi đó mới hiểu được thấu đáo sự vật, mới có giải pháp
đồng bộ, đứng đắn, khoa học khi giải quyết sự vật.
- Quan điểm toàn diện đòi hỏi phải chống lại cách xem xét phiến diện,
siêu hình, chỉ thấy một mặt, không thấy toàn bộ. Quan điểm toàn diện cũng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status