LUẬN văn thương mại nội địa –thực trạng và biện pháp phát triển - Pdf 95



LUẬN VĂN:

Thương mại nội địa –thực trạng
và biện pháp phát triển
Lời nói đầu.

Ngày 7/11/2006 Việt Nam trở thành thành viên chính thức thứ 150 của tổ chức
thương mại thế giới (WTO) đánh dấu bước tiến quan trọng của thời kì mở cửa, hội nhập
kinh tế quốc tế. Điều này tạo cơ hội to lớn cho Việt Nam trong tiến trình cải cách trong
nước,phát triển kinh tế xã hội cùng với những thành tựu to lớn sau 20 năm đổi mới việc gia
nhập WTO sẽ nâng cao vị thế của nước ta trên trường quốc tế.Tuy nhiên điều đó cũng

3.Quá trình phát triển thương mại nội địa.

Chương 2:thực trạng TMNĐ-kháI quát tổ chức và hoạt động.
I. Đánh giá khái quát tổ chức và hoạt động TMNĐ.
1.Những thành tựu.
2.Những tồn tại.
3.Nguyên nhân.
II. Thực trạng TMNĐ.
1.Hệ thống phân phối hàng hoá.
2.Cơ cấu kinh tế.
3.Chỉ số giá tiêu dùng.

Chương3:những định hướng và biện pháp phát triển TMNĐ.
I. Bối cảnh.
1.Tình hình quốc tế.
2.Tình hình trong nước.
3.Xu thế phát triển TMNĐ hậu gia nhập ƯTO.
4.Một số dự báo.
II. Mục tiêu và quan điểm phát triển TMNĐ.
1.Mục tiêu tổng quát và cụ thể.
2.Quan điểm phát triển TMNĐ.

III. Định hướng tổ chức và giải pháp phát triển.
1.Định hướng tổ chức.
2.Giải pháp,chính sách phát triển TMNĐ.

Chương I. Những vấn đề chung về TMNĐ.

I.bản chất của TMNĐ.
1.Khái niệm .

theo sự dẫn dắt của giá cả thị trường . Kinh tế thị trường có những đặc trưng sau : có một
khối lượng hàng hoá , dịch vụ dồi dào phong phú mà nền kinh tế tự nhiên , kinh tế chỉ huy
chưa bao giờ đạt được ; mọi hoạt động mua bán đều theo giá cả thị trường ; tiền tệ hoá các
mối quan hệ kinh tế ; sản xuất và bán hàng hoá theo nhu cầu thị trường ; kinh tế thị trường
là nền kinh tế mở ; cạnh tranh là môi trường của kinh tế thị trường ; quyền tự chủ tự do của
doanh nghiệp cao
Do tính tự phát vốn có , kinh tế thị trường có thể dẫn đến không chỉ tiến bộ mà cả suy
thoái , khủng hoảng , xung đột xã hội nên cần có sự can thiệp của nhà nước. Kinh tế thị
trường có sự quản lý của nhà nước là nền kinh tế hỗn hợp vừa có cơ chế tự điều chỉnh của
thị trường , vừa có cơ chế quản lý điều tiết của nhà nước . Trong điều kiện như vậy thương
mại nội điạ ở nước ta có những đặc trưng cơ bản sau :
Một là , thương mại nội địa hàng hoá dịch vụ phát triển dựa trên cơ sở nền kinh tế hàng
hoá nhiều thành phần . Cơ sở khách quan của sự tồn tại nhiều thành phần đó là do nhiều
hình thức sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất . Các thành phần kinh tế bao gồm : kinh tế
nhà nước , kinh tế tập thể , kinh tế tư nhân , kinh tế tư bản nhà nước , kinh tế có vốn đầu tư
nước ngoài .
Hai là , thương mại nội địa phát triển theo định hướng XHCN dưới sự quản lý của nhà
nước . Sự quản lý này được thực hiện bằng luật pháp , chính sách , chiến lược , quy hoạch ,
kế hoạch phát triển thương mại nội địa .
Ba là , thương mại nội địa tự do hay tự do lưu thông hàng hoá dịch vụ theo quy luật
kinh tế thị trường và theo pháp lụât . Thương mại nội địa làm cho sản xuất phù hợp với

những biến đổi không ngừng của thị trường trong nước và thế giới , đồng thời thông qua
việc phục vụ tiêu dùng làm nảy sinh nhưng nhu cầu mới mà kích thích sản xuất . Thương
mại tự do làm cho lưu thông hàng hóa nhanh chóng thông suốt là điều kiện nhất thiết phải
có để phảt triển thương mại nội địa và kinh tế hàng hoá
Bốn là , thương mại nội địa theo giá cả thị trường . Giá cả thị trường được hình thành
trên cơ sở giá trị thị trường . Mua bán hàng hoá theo giá cả thị trường tạo ra động lực thúc
đẩy sản xuất kinh doanh phát triển , tạo cơ hội cho các doanh nghiệp vươn lên làm giầu .
Năm là , tất cả các mối quan hệ kinh tế trong lĩnh vực thương mại dịch vụ đều được

Ba là,góp phần giảI quyết những vấn đề kinh tế xã hội quan trọngcủa đất nước:vốn
,việc làm ,công nghệ…
Bốn là,không ngừng hoàn thiện bộ máy quản lývà mạng lưới kinh doanh,chống trốn
thuế ,lậu thuế,lưu thông hàng giả ,hàng kém phẩm chất,thực hiệ đầy đủ các nghĩa vụ với
nhà nước,xã hội và người lao động.
Năm là,đảm bảo sự thống nhất giữa kinh tế và chính trị trong hoạt động thương
mại-dịch vụ.
4.Vai trò của thương mại nội địa.
Thứ nhất , thương mại nội địa là điều kiện để thúc đẩy sản xuất hàng hoá phát
triển.Thông qua hoạt động thương mại trên thị trường ,các chủ thể kinh doanh mua bán
được các hàng hoá ,dịch vụ .Điều đó đảm bảo cho quá trình tái sản xuất được tiến hành
bình thường ,lưu thông hàng hoá dịch vụ thông suốt.
Thứ hai , việc mua bán hàng hoá ,dịch vụ trên thị trường thương mại nội địa có vai trò
quan trọng trong việc mở rộng khả năng tiêu dùng nâng cao mức hưởng thụ của các cá
nhân và doanh nghiệp ,thúc đẩy sản xuất và mở rộng phân phối lao động xã hội.
Thứ ba , thương mại nội địa là điều kiện , là cầu nối gắn kết nền kinh tế trong nước với
nền kinh tế thế giới , thực hiện chính sách mở cửa.
Thứ tư , hoạt động thương mại đòi hỏi các doanh nghiệp tính năng động , sáng tạo
trong sản xuất ,kinh doanh thúc đẩy cải tiến ,phát huy sáng kiến để nâng cao khả năng
cạnh tranh của hàng hoá ,dịch vụ trên thị trường.
II . Nội dung của thương mại và hệ thống chỉ tiêu đánh giá.

1.Nội dung cơ bản của thương mại nội địa.
Thứ nhất là quá trình điều tra ,nghiên cứu và xác định nhu cầu thị trường về các loại
hàng hoá ,dịch vụ.Đây là khâu đầu tiên trong quá trình hoạt động kinh doanh thương
mại.Có thể là nhu cầu cho tiêu dùng sản xuất trong đó có phần cá nhân nó hình thành trực
tiếp từ sản xuất và do sản xuất quyết định cỏ cấu, có thể là nhu cầu đặt hàng của doanh
nghiệp.
Thứ hai là quá trình huy động sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên để thoả mãn các
nhu cầu của xã hội.Các nguồn lực : vốn , nhân lực , lao động , tài nguyên là những nguồn

và nghĩa vụ dân sự , tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động kinh doanh trong phạm vi số
vốn do doanh nghiệp quản lý.
Công ty trách nhiệm hữu hạn, Công ty cổ phần và Công ty hợp doanh: đây là hình thức
biểu hiện sự kết hợp và giao lưu các thành phần kinh tế .Các doanh nghiệp này có đặc
điểm là chế độ sở hữu vốn , tài sản không thuần nhất .Các thành viên , các cổ đông chỉ
chịu trách nhiệm về khoản nợ của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp.
Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài :xí nghiệp liên doanh được thành lập tại Việt
Nam trên cơ sở hợp đồng liên doanh ký giữa một bên là xí nghiệp có tư cách pháp nhân
của Việt Nam với một bên hoặc các bên nước ngoài nhằm kinh doanh trong các lĩnh vực
của nền kinh tế .Xí nghiệp 100% vốn nước ngoài là xí nghiệp hoàn toàn thuộc quyền sở
hữu của tổ chức và cá nhân nước ngoài ,do tổ chức hoặc cá nhân nứơc ngoài thành lập ,tự
quản lý và tự chịu trách nhiệm về tổ chức sản xuất kinh doanh .Nó là một pháp nhân hoạt
động theo sự điều chỉnh của luật pháp Việt Nam.
Doanh nghiệp tập thể: vốn do một tập thể người lao động góp tạo nên trên nguyên tắc
tự nguyện hoặc một phần vốn tập thể ,một phần vốn do nhà nước đảm bảo .Hình thức tổ
chức kinh doanh là các Hợp Tác Xã hoặc Tổ hợp tác , các cửa hàng hợp tác mua bán.
b. Theo ngành kinh tế:
Theo hệ thống phân ngành SNA thì nền kinh tế bao gồm :
Ngành Nông nghiệp : bao gồm có nông nghiệp ,lâm nghiệp ,chăn nuôi ,thuỷ sản . Sản
phẩm của nó gắn liền với cuộc sống hàng ngày của nhân dân.Sản phẩm nông nghiệp có
tính thời vụ ,tính phân tán ,tính khu vực ,tính tươi sống và tính không ổn định.

Ngành công nghiệp : bao gồm công nghiệp và xây dựng cơ bản .Sản phẩm của ngành
công nghịêp có người mua chủ yếu là các đơn vị công nghiệp ,xây dựng , giao thông vận
tải ….số lượng mua mỗi lần khá nhiều ,sản xuất đồng bộ đầy đủ.
Ngành dịch vụ : bao gồm thương mại , giao thông vận tải ,bảo hiểm y tế.
2.2 .Các nhân tố tác động tới thương mại nội địa.
a.Yếu tố chính trị và pháp luật ,môi trường pháp lý :
Nền kinh tế nước ta là nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà Nước theo định
hướng Xã Hội Chủ Nghĩa.Trong thực tế không có nền kinh tế thị trường tự do với nghĩa là

trong đỉều kiện hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới tjì yếu tố Khoa Học Công
Nghệ cần được quan tâm tránh tình trạng tụt hậu ,trở thành bãi rác của thế giới về Khoa
học Công Nghệ.
e.Yếu tố cơ sở hạ tầng và điều kiện tự nhiên:
Yếu tố cơ sở hạ tầng là điều kiện thuận lợi hoặc khó khăn cho hoạt động kinh doanh
.Cơ sở hạ tầng bao gồm hệ thống giao thông vận tải ,hệ thống thông tin , hệ thống bến
cảng , nhà kho…
Điều kiện tự nhiên là yếu tố cần được quan tâm vì sự biến động của tự nhiên như nắng ,
mưa , bão lụt…có ảnh hưởng trực tiếp đến các hoạt động thương mại nội địa.
2.3.Hệ thống chỉ tiêu đánh giá thương mại nội địa.
a.Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng là toàn bộ doanh thu hàng
hoá bán lẻ và dịch vụ tiêu dùng đã bán ra thị trường của các cơ sở kinh doanh bao gồm :
doanh thu bán lẻ hàng hoá của các cơ sở kinh doanh thương nghiệp , doanh thu bán lẻ sản
phẩm của các cơ sở sản xuất và nông dân trực tiếp bán ra thị trường ,doanh thu khách sạn
nhà hàng ,doanh thu du lịch lữ hành ,doanh thu dịch vụ cá nhân ,cộng đồng và các dịch vụ
khác do các tổ chức và cá nhân kinh doanh , phục vụ trực tiếp cho người tiêu dùng.
b. Giá tiêu dùng : là số tiền do người tiêu dùng phải chi trả khi mua một đơn vị hàng hoá
hoặc dịch vụ phục vụ trực tiếp đời sống hàng ngày.Giá tiêu dùng được biểu hiện bằng giá
bán lẻ hàng hoá trên thị trường hoặc giá dịch vụ phục vụ đời sống sinh hoạt .Trong trường
hợp hàng hoá không niêm yết gía ,ngươì mua có thể mặc cả giá thì giá tiêu dùng là giá mà
người mua phải trả thực sau khi thoả thuận với người bán.

Công thức tính chỉ số giá tiêu dùng (công thức Laspeyres):
I
P
=
100*
oo
to
pq

o
=
oo
oo
pq
pq

.
Rổ hàng hoá ,dịch vụ để tính chỉ số giá tiêu dùng gồm các loại hàng hoá và dịch vụ
phổ biến ,đại diện cho tiêu dùng của dân cư , thường được xem xét cập nhật 5 năm một lần
cho phù hợp với tiêu dùng của dân cư trong mỗi thời kì.
Quyền số để tính chỉ số giá tiêu dùng là cơ cấu chi tiêu các nhóm mặt hàng trong tổng
chi tiêu của hộ gia đình được tổng hợp từ kết quả điều tra mức sống hộ gia đình và dùng cố
định khoảng 5 năm.
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) được tính theo tháng cho ba gốc : tháng trước ,cùng tháng
năm trước và tháng 12 năm trước cho từng tỉnh ,thành phố vad cả nước( bao gồm chỉ số
của khu vực thành thị ,nông thôn ,chỉ số chung cuả từng tỉnh ,thành
phố ,các vùng kinh tế và cả nước).
3. Quá trình phát triển thương mại nội địa.
Lịch sử hình thành và phát triển thương mại nội địa Việt Nam gắn liền với cuộc đấu
tranh oanh liệt giành độc lập tự do,thống nhất tổ quốcvà xây dung chủ nghĩa xã hội.Qúa
trình này cũng gắn lion với những biến đổi to lớn trong công cuộc xây dung và phát triển
kinh tế ở nước ta từ một nền kinh tế kém phát triển ,hiệu quả và sức cạnh tranh thấp.
3.1.Thương mại nội địa Việt Nam thời kì 1975-1986.

Trong bối cảnh đất nước thống nhất,mọi hoạt động thương mại nội địa có những
thuận lợi mới đồng thời có những khó khăn mới.Chúng ta có điệu kiện và khả năng khai
tháccó hiệu quả tiềm năng của đất nước,phát huy lợi thế so sánh của ba miền để đẩy mạnh
phát triển thương mại –dịch vụ,thu hút vốn và kĩ thuật nước ngoàinhưng trình độ phát triển
của nước ta còn thấp,cơ sở vật chất kĩ thuật còn yếu kém,kinh tế hàng hoá chưa phát

thống hoạch định chính sách vĩ mô ,tạo điều kiện cho sản xuất kinh doanh phát triển . Kết
cấu hạ tầng kinh tế xã hội và năng lực sản xuất tăng lên đáng kể. Đời sống các tầng lớp
dân cư được cải thiện.
Thời kỳ này tổng mức lưu chuyển hàng hoá bán lẻ trong những năm qua liên tục
tăng : năm 2001 là 11.1% , năm 2002 là 11.3% ,năm 2004 là 13% ,năm 2005 lên 26.1%
,đến 2006 là 20.9% . Năm 2005 đạt 475.380 tỷ đồng ,2006 đạt 580.7tỷ đồng ,sau 5 năm
2001-2005 tăng trên 230 nghìn tỷ đồng ,bình quân mỗi năm tăng 46 500 tỷ đồng (16.7%)
.Xét một cách tương ứng ,mức bán lẻ hàng hoá tính theo đầu người cũng tăng theo động
thái như vậy : năm 2005 đạt 5 719 201 đồng /người tăng 24.5% so với 2004 .Sau 5 năm
(2001-2005) tăng trên 2.6 triệu đồng ,gần 84%. Đồng thời cùng với sự tăng lên cúa tỷ
trọng GDP thương mại nội địa trong GDP của toàn nền kinh tế (13 -14 %, đứng thứ 3 sau
nền kinh tế ) sự tăng lên nhanh chóng về số lượng thương nhân ,số lượng lao động .Tính
chất và trình độ thương mại nội địa cũng chuyển dịch theo hướng tích cực.

Chương 2:thực trạng của thương mại nội địa .
đánh giá khái quát tổ chức và hoạt động của thương mại nội địa.
I.Đánh giá khái quát tổ chức ,hoạt động của thương mại nội địa.
Mặc dù bị tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính-tiền tệ khu vực trong các
năm 1997-1999,thiên tai nghiêm trọng liên tiếp xảy ra nhưng nhịp độ tăng GDP bình quân
giai đoạn 1996-2000 vẫn đạt 7% /năm,công cuộc phát triển kinh tế xã hội được quản lý và
điều hành tích cực .

Phát huy những kết qủa đạt được của 5 năm trước ,việc thực hiện thắng lợi kế hoạch 5
năm 2001-2005 đã tiếp tục đưa nền kinh tế nước ta đạt tóc độ tăng trưởng cao và phát triển
tương đối toàn diện .Tốc đoọ tăng trưởng GDP năm sau cao hơn năm trước và cao hơn giai
đoạn 1996-2000(tốc độ tăng GDP bình quân hàng năm của giai này là 7.5%/năm)
Năm 2006,kinh tế thế giới chịu sự tác động tiêu cực của nhiều yếu tố không thuận lợi

phát triển mạnh của thương mại nội địa được nhiều chuyên gia kinh tế đáng giá là những
nhân tố quan trọng góp phần đạt được những thành công của kinh tế ,thương mại năm
2006.
1.Những thành tựu.
T ổng kết lại trong vòng mấy năm trở lại đây,thương mại nội đại đã đạt được những
thành tựu quan trọng đó là:
1.1.Góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tếliên tục,không chỉ giải quyết đàu ra, tiêu thụ
sản phẩm cho các ngành sản xuất mà tự thân thương mại nội địa cũng góp phần gia
tăng GDP chung cả nước.
Tổng mức lưu chuyển hàng hoá bán lẻ liên tục tăng:giai đoạn 1996-2000 tăng bình
quân 11%/năm,giai đoạn 2001-2005 tăng bình quân 18%/năm,gấo 1,5-2 lấno với mức tăng
trưởng bình quân của GDP cùng kì
Thương mại nội địa đóng góp khỏang13,5-14% trong tổng GDP chỉ sau ngành công
nghiệp chế biến (khoảng 20%)và ngành nông nghiệp (khoảng 18%).
1.2. Tạo ra nhiều việc làm cho người lao động,nhất là lao động phổ thông,góp phần giải
quyết áp lực về mặt xã hội của một quốc gia đông dân như Việt Nam.
Bình quân hàng năm tạo thêm hàng trăm ngàn công việc làm cho xã hội ,tỉ trọng
thương mại trong thương mại nội địa có xu hướng ngày càng tăng trong toàn nền kinh tế
quốc dân.Nếu như tỉ lệ tăng bình quân hàng năm giai đoạn 2001-2005 về việc làm của toàn
nền kinh tế là 2,5%,thì tỉ lệ đó của thương mại nội địa là 4,25%(2001)và tăng dần,năm
2004 đạt 5,2%.
Đến năm 2004 cả nước có 4767.000 lao động làm việc trong thương mại nội
địa,chiếm 11,5%tổng lao động xã hội ( tương đương với ngành công nghiệp chế biếnvà

bằng 1/6 số lao động trong ngành nông nghiệpnhưng nhà nước gần như không phải đàu
tư).
1.3.Đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu phong phú đa dạng của người tiêu dùng nhờ
đó góp phần cải thiện và từng bước nâng cao đời sống nhân dân.
Nếu như ở giai đoạn 1996-2006,tổng mức lưu chuyển hàng hoá bán lẻ chỉ đạt
66,1%quỹ tiêu dùng( tăng dần từ năm 1996 là 64,8%lên 68,71%vào năm 2000)thì sang

Minh.Nhưng vài năm trở lại đây đã “lan hoá” ra các thành phố khác (Hải Phòng ,Đà Nẵng
, Nha Trang , Cần Thơ…).Nếu như cuối năm 1995 có 12 siêu thị tại 6/64 tỉnh và thành
phố thì đến năm 2005 đã có trên 200 siêu thị ,30 trung tâm thương mại và trên dưới 1000
cửa hàng tiện lợi hoạt động tại 30/64 tỉnh và thành phố .Liên kết phân phối theo “chuỗi”
bắt đầu được hình thành và có xu hướng phát triển như là 1 tất yếu khách quan của lý
thuyết “ quy mô kinh tế” trong lĩnh vực phân phối (hiện SaiGon Co.op với chuỗi 15 siêu
thị và hàng chục cửa hàng tiện lợi ,Intimex với chuỗi 6 siêu thị ,Công ty Trách nhiệm hữu
hạn thương mại – dịch vụ An Phong với chuỗi siêu thị Maximark ,Công ty Trách nhiệm
hữu hạn thương mại dịch nụ Đông Hưng với chuỗi 10 siêu thị Citimark ,Tổng công ty dệt
may Việt Nam với chuỗi 28 siêu thị và cửa hàng Vinatex …) và quá tình thành lập kéo dài
các chuỗi vẫn đang tiếp tục phát triển trong những năm tới.
Đồng thời với sự ra đời các loại hình tổ chức phân phối mới ,phương thức kinh doanh
với sự tiến bộ và hiện đại đã xuất hiện và ngày càng được nhiều doanh nghiệp ứng dụng.
Trong số doanh nghiệp phân phối được tổ chức và hoạt động một cách chuyên nghiệp
với mạng lưới phân phối được phân chia theo khu vực địa lý đã xuất hiện các trung tâm
hậu cần phân phối (trung tâm logicstics làm nhiệm vụ đặt hàng , phân loại ,bao gói ,chế
biến và cung ứng hàng hoá cho mạng lưới bán lẻ ,kèm theo các chương trình chăm sóc
khách hàng ,tiếp thị ,phát triển thương hiệu…cho toàn hệ thống của doanh nghiệp ).
Kinh doanh theo phương thức nhượng quỳên thương mại để mở rộng mạng lưới bán
hàng ,kahi thác và kết hợp nguồn lực của nhiều doanh nghiệp nhỏ trở thành hệ thống có
quy mô lớn và có trình độ tổ chức cao ngày một phát triển ,như là Cà Phê Trung Nguyên
hiện có hơn 1000 cửa hàng ,Công ty Trách nhiệm hữu hạn An Nam có 12 cửa hàng phở
24 ,Công ty Kinh Đô với hàng chục cửa hiệu bánh “Kinh Đô Bakery”….Nhiều doanh

nghiệp trong và ngoài nứơc đang có kế hoạch hình thành và phát triển mạnh hệ thống với
hệ thống phân phối G7 Mart, Công ty CP Hoang Corp với hệ thống cửa hàng tiện lợi 24
seven….
Thương mại điện tử mới xuất hiện nhưng đang có xu hướng phát triển tích cực .
Ngoài việc xây dung Website giới thiệu hình ảnh công ty ,lĩnh vực kinh doanh ,tìm kiếm
bạn hàng ,ký kết hợp đồng ( giao dịch B2B ‘Doanh nghiệp với Doanh nghiệp’) các sàn

hệ thống phân phối hiện đại (TTTM ,siêu thị ,của hàng tự chọn…) mới chỉ khoảng 10%
,còn lại 6% là do nhà sản xuất trực tiếp bán thẳng.
Cơ sở hậu cần phân phối logicstics (cảng ,kho vận chuyển …) vừa ít ,vừa yếu , thiếu
đồng bộ ,chưa đảm bảo hỗ trợ và phục vụ tốt cho khâu bán buôn cũng như khâu bán lẻ .Ví
dụ về vận tải đường bộ , trong khi xu hướng của thế giới là tập trung hoá với các loại xe
với tải trọng lớn 10-14 tấn,thậm chí 32 tấn hoặc xe kéo container thì ở Việt Nam phổ biến
vẫn là các loại xe dưới 7 tấn .Nếu như 1 doanh nghiệp chuyên vận tải lớn nhất ở nước ta có
khoảng 200 đầu xe thì 1 doanh nghiệp hạng vừa của các nước trong khu vực cũng đã có tới
2000 đầu xe.
2.3.Lực lượng nhân dân đông nhưng chưa mạnh, đa số là có quy mô kinh doanh nhỏ
và vừa ,tăng trưởng chậm. ,thiếu những doanh nghiệp lớn với phương pháp qủn trị tiên
tiến làm “đầu tàu “ tiên phong để lôi kéo ,dẫn dắt và liên kết các doanh nghiệp khác lại
thành 1 hệ thống phân phối theo hướng hiện đại .Quá trình tích tụ và tập trung nguồn
lực của doanh nghiệp đều còn yếu.
Năm 2004 bình quân 1 doanh nghiệp chỉ có 72 lao động và 24 tỷ đồng tiền vốn thì
ngành công nghệ có quy mô lớn nhất : 154 lao động và 32 tỷ đồng vốn , ngành thương mại
có quy mô nhỏ nhất : 18 lao động và 6 tỷ đồng vốn.Nếu tính cả hộ kinh doanh cá thể thì
con số trên sẽ còn nhỏ đi rất nhiều .Do quy mô nhỏ ,vốn ít nên mua bán qua lại nhiều tầng
nấc và chồng chéo ,thanh toán chem. Và đại lí vẫn là phương thức kinh doanh phổ biến
trong hoạt động phân phối (kết quả điều tra do Tổng cục Thống Kê phối hợp với Ngân
Hàng thế giới tổ chức).

Hầu hết các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thương mại nội địa chưa áp dụng
hệ thống ISO ,việc quản lý hàng tồn kho ,xử lý đơn đặt hàng ,tổ chức vận chuyển thông tin
,báo cáo …đều ở trình độ công nghệ thấp ,chưa phù hợp với chuẩn mực quốc tế (nạp dữ
liệu và tổng hợp xử lý đều được điều khiển theo chương trình tự động).
2.4.Phương thức kinh doanh chậm. được đổi mới ,chưa theo kịp xu thế chung của khu

kinh doanh được nghị định 02/ CP xác lập sự đổi mới về tư duy quản lý đã tạo ra sức hút
để huy động các nguồn lực trong xã hội vào việc cải tạo, nâng cấp xây mới các loại hình
chợ ( đặc biệt là các chợ đầu mối cấp vùng, cấp tỉnh ). Sau khi ban hành nghị định 02/CP
năm 2003 cả nước xây mới 813 chợ các loại bằng gần 10% tổng số chợ xây dựng từ trước
tới nay với nguồn vốn Trung Ương hỗ trợ rất nhỏ ( chỉ 240 tỷ đồng cho một số chợ đầu
mối lớn). Một phần từ ngân sách địa phương còn chủ yếu là vốn của người kinh doanh
trong chợ đóng góp và vốn đầu tư cuả tư nhân. Đã xuất hiện một số chợ do tư nhân tự đầu
tư lên hàng chục tỷ đồng và hoạt động có hiệu quả.
Quản lý nhà nước về thương mại nội địa các bước đổi mới từ Trung Ương đến địa
phương cả về nhận thức, nội dung lẫn phương pháp và công cụ quản lý. Đã chuyển đổi căn
bản từ việc chỉ chú trọng trực tiếp quản lý doanh nghiệp, quản lý các mặt hàng thuộc diện
cấm, hạn chế kinh doanh, kinh doanh có điều kiện sang việc xây dựng, hướng dẫn tổ chức
và kiểm tra tình hình thực hiện chính sách, luật pháp, xây dựng và từng bước hoàn chỉnh
cơ chế điều tiết cung- cầu, giá cả thị trường các mặt hàng trọng yếu, từng bước chú trọng
nghiên cứu, tham mưu đề xuất các chính sách nhằm thúc đẩy mở rộng thị trường, phát
triển hoạt động thương mại nội địa phù hợp với điều kiện kinh tế trong và ngoài nước ở
từng giai đoạn.
3.2. Nguyên nhân chủ yếu của tồn tại.
Quan điểm, nhận thức chung về vị trí, vai trò của hoạt động thương mại nội địa đối với
nền kinh tế quốc dân chưa rõ ràng và sâu sắc. Tư tưởng cho rằng thương mại là khâu trung
gian, không tạo sản phẩm hàng hoá, do đó không được khuyến khích ưu đãi đã kìm hãm
sự phát triển rất cần thiết và rất quan trọng của thương mại nội địa. Cũng chính vì vậy thời
gian qua, thương mại nội địa chưa thực sự trở thành cầu nối vững chắc giữa sản xuất và
tiêu dùng, chưa thực sự trở thành “ đòn xeo” để phát triển cả sản xuất lẫn tiêu dùng. Hoạt

động thương mại nội địa tuy có phát triển nhưng mang nặng tính tự phát, chủ yếu là dựa
vào sự giải phóng các năng lực nội sinh cuả toàn xã hội được tạo ra bởi sự chuyển đổi nền
kinh tế sang cơ chế thị trường, khuyến khích nhiều thành phần tham gia làm cho khối
lượng sản phẩm làm ra gia tăng kéo theo nhu cầu mua bán trong xã hội tăng lên mạnh mẽ.
Các kênh phân phối, các hệ thống phân phối cũng theo đó mà tự phát hình thành là chủ


II.Thực trạng thương mại nội địa.
1.Hệ thống phân phối hàng hoá.
Mấy năm gần đây tổng mức bán lẻ xã hội tăng liên tục với tốc độ cao và khá ổn
định.Năm 2005 đạt 475.380 tỷ đồng tăng 26.1% so với 2004 .Sau 5 năm (2001-2005)
tăng trên 230 tỷ đồng ( gần 94 %) ,bình quân mỗi năm tăng 46.500 tỷ đồng (16.7%) .Xét
một cách tương ứng mức bán lẻ hàng hoá tính theo đầu người cũng tăng theo động thái
như vậy.Năm 2005 đạt 5 719 201 đồng /người ,tăng 24.5% so với năm 2004 .Sau 5 năm
(2001-2005) tăng trên 2.6 tỷ đồng /người (gần 84%) ,bình quân mỗi năm tảng 576 nghìn
/người (15.2%).Con số tổng mức bán lẻ hàng hoá hàng năm tương đương trên 20 tỉ USD
,năm 2005 gần 30 tỉ USD đã nói lên sự đóng góp rất quan trọng có thể xem là một cơ cấu
ngày càng có ý nghĩa quyết định trong tăng trưởng GDP ,tạo ra sự yên tâm về nội lực để
tiếp tục thúc đẩy sản xuất và thu hút vốn đầu tư của nước ngoài.Đồng thời với sự tăng lên
của tỷ trọng GDP ,thương mại nội địa trong GDP của nền kinh tế (13-14% ,đứng thứ 3 xét
theo ngành kinh tế) ,sự tăng lên nhanh chóng về số lượng thương nhân ,số lượng lao động
đã cho phép khẳng định : thương mại nội địa hay nói cách khác , ngành du lịch phân phối
5 năm qua đã có bước phát triển rõ rệt trên diện rộng , trước hết là xem xét về mặt quy mô
,chủ yếu phản ánh về mặt quy mô.
Về tính chất và trình độ thương mại nội địa cũng như lĩnh vực phân phối đã và đang
chuyển động theo hướng tích cực đầy triển vọng.Không phải chỉ có sản xuất ra hàng hoá
mà cả cải cách đem hàng hoá đến người tiêu dùng cũng quyết định sự phát triển của tiêu
dùng.5 năm qua ,sự đổi mới bước đầu về loại hình tổ chức và phương thức hoạt động trên
mặt trận phân phối ,nhất là bán lẻ hàng hoá đã làm cho tiêu dùng chuyển biến đáng kể và

lần này diễn ra ở chiều sâu ,ở tính chất ,trình độ tiêu dùng ,ở cơ cấu và “phổ “ cầu ,ở hình
thức và phương thức thoả mãn ….Từ chỗ người tiêu dùng thoả mãn nhu cầu về hàng hoá
100% là qua chợ và mạng lưới bán lẻ truyền thống .Đến nay khoảng 40% là qua chợ , 44%
qua các cửa hàng độc lập và cửa hàng doanh nghiệp ,10% qua hệ thống phân phối hiện đại
(Trung tâm thương mại ,siêu thị…) nếu tính riêng ở các đô thị lớn thì tỷ trọng này lên đến
20%.Một số cửa hàng truyền thống cũng đang chuyển hoá thành cửa hàng tiện lợi , cửa


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status