Các chức năng của quản lý giáo dục và những vấn đề mấu chốt cần quan tâm trong thực hiện chức năng quản lý trong trường đại học, cao đẳng nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đại học, cao đẳng việt nam - Pdf 95

Quản lý là một trong những hoạt động cơ bản nhất của con người, xét từ những
phạm vi cá nhân, tập đoàn, quốc gia, nhóm quốc gia. Đây cũng là một hoạt động mang ý
nghĩa quyết định, mang tính chất sống còn của các chủ thể tham dự vào các hoạt động xã
hội và nhân loại. Quản lý đúng dẫn đến thành công, ổn định và phát triển bền vững, còn
quản lý sai dẫn đến thất bai, suy thoái, lệ thuộc và biến chất và đổ vỡ.
Lĩnh vực giáo dục là một lĩnh vực đặc biệt trong xã hội, quyết định đến sự phát
triển bền vững của một quốc gia, Đảng và nhà nước ta đã đặt vai trò của giáo dục rất là
quan trọng “Giáo dục là Quốc sách hàng đầu” vì vậy đòi hỏi việc quản lý giáo dục phải
đi trước một bước để xây dựng được một nền giáo dục tiên tiến sánh ngang với các
cường quốc trên thé giới
Một phần không thể thiếu của quản lý là quá trình thực hiện các chức năng của
quản lý, muốn quản lý tốt thì phải thực hiện tốt các chức năng của quản lý. Sau đây
chúng ta cùng nghiên cứu các chức năng của quản lý giáo dục và những vấn đề mấu
chốt cần quan tâm trong thực hiện chức năng quản lý trong trường Đại học, Cao
đẳng nhằm nâng cao chất lượng giáo dục Đại học, Cao đẳng Việt Nam
1. Các chức năng của quản lý giáo dục:
1. 1. Chức năng hoạch định
Hoạch định là chức năng đầu tiên của họat động quản lý. Nó có vai trò quan trọng
là xác định phương hướng hoạt động và phát triển của tổ chức, xác định các kết quả cần
đạt được trong tương lai. Hoạch định là một quá trình gồm các bước: Dự báo, xác định
mục tiêu, xây dựng kế hoạch thực hiện mục tiêu.
1.1.1.Dự báo là công việc bắt đầu của chức năng hoạch định. Nó có nhiệm vụ tìm
ra hướng hoạt động và phát triển của nhà trường trên cơ sở nắm vững đường lối phát triển
kinh tế-xã hội-giáo dục của Đảng và Nhà nước, của địa phương, hiểu biết thị trường
(hàng hóa, lao động ), nhu cầu đào tạo, sự cạnh tranh và đặc biệt là phân tích kỹ về
điểm mạnh và điểm yếu của nhà trường về đào tạo, sản xuất, về cán bộ, cơ sở vật chất kỹ
thuật, vốn chỉ trên cơ sở phân tích kỹ nhu cầu và khả năng người quản lý mới có thể xác
định được đúng phương hướng hoạt động và phát triển của nhà trường.
Các phương pháp dự báo phát triển nhà trường mà người quản lý có thể sử dụng
là: nghiên cứu đường lối, chính sách phát triển kinh tế-xã hội-giáo dục của Đảng và Nhà
nước, của địa phương; tiến hành các hoạt động Marketing nhằm tìm hiểu thị trường, nhu

Đường lối, chính sách phát triển kinh tế-xã hội-giáo dục của Đảng và Nhà nước.
Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội-giáo dục của địa phương.
Nhu cầu đào tạo và nhu cầu học tập.
Điểm mạnh và điểm yếu của trường về đào tạo, dịch vụ, về các nguồn lực, kể cả
tiềm lực.
Thời cơ, thách thức
* Các phương pháp xác định mục tiêu:
 Phương pháp tiếp cận ngoại suy,
 Phương pháp tiếp cận tối ưu,
 Phương pháp tiếp cận thích ứng,
 Nhóm phương pháp trực cảm,
 Phương pháp chuyên gia,
 Trò chơi tác nghiệp,
 Phương pháp nhóm họp theo điều khiển học.
* Hệ thống chuẩn kiểm tra tính xác đáng của mục tiêu.
1.Các mục tiêu có bao hàm những nội dung chính của hoạt động nhà trường.
2. Nếu nhiều mục tiêu. Có thể hợp nhất một số mục tiêu không
3.Các mục tiêu có được trình bày rõ về:
-Số lượng.
-Về chất lượng.
-Thời gian nào phải hoàn thành.
4. Các nguồn lực có cân đối với mục tiêu. Không vượt quá thẩm quyền của trường.
5. Xác định mục tiêu ưu tiên.
6. Mục tiêu kỳ vọng phải hợp lý.
7. Hệ thống mục tiêu thống nhất và không mâu thuẫn.
8. Các mục tiêu có được xây dựng một cách dân chủ.
9. Phải thông báo đầy đủ các mục tiêu đến những người thực hiện.
* Những thái độ khác nhau trong việc xác định mục tiêu.
-Thái độ duy ý chí: cảm tính, mong muốn quá lớn, vượt xa khả năng thực hiện.
-Thái độ cơ hội: không có mục tiêu, việc đến tay thì làm, bị động và lạc đường.

Phân loại kế hoạch
Kế hoạch của tổ chức được phân loại theo một số các tiêu thức khác nhau:
- Theo tính chất có: Kế hoạch chiến lược (thực hiện mục tiêu chiến lược); kế
hoạch tác nghiệp (thực hiện mục tiêu tác nghiệp).
- Theo thời gian có: Kế hoạch dài hạn; kế hoạch trung hạn; kế hoạch ngắn hạn.
- Theo nội dung có: kế hoạch tổng thể; kế hoạch các mặt hoạt động v.v
Nội dung chủ yếu của kế hoạch
- Xác định mục tiêu của tổ chức.
- Xác định các nguồn lực để đạt được các mục tiêu.
- Quyết định những hoạt động và biện pháp cần thiết để đạt các mục tiêu.
-Phân chia các giai đoạn và dự kiến thời gian thực hiện kế hoạch cụ thể
Yêu cầu của kế hoạch
- Nội dung kế hoạch phải rõ ràng, tập trung giải quyết những vấn đề chủ yếu;
- Nội dung kế hoach phải khoa học, hợp lý;
- Nội dung kế hoạch phải phù hợp với thực tế và có tính khả thi;
- Nội dung kế hoạch phải cụ thể: phải chỉ rõ làm gì, ai làm, làm ở đâu, làm như thế
nào, cái gì cần đạt được; nhưng không quá vụ vặt, quá chi tiết.
Cơ sở khoa học của lập kế hoạch
- Căn cứ mục tiêu, chức năng nhiệm vụ của tổ chức;
- Căn cứ phân cấp về quyền hạn và trách nhiệm trong tổ chức;
- Đòi hỏi của các quy luật khách quan chi phối lĩnh vực hoạt động của tổ chức;
- Chỉ tiêu, định mức, hướng dấn của cấp trên giao;
- Hoàn cảnh thực tiễn khách quan bên trong và bên ngoài tổ chức
- Dự báo khoa học v.v
Quy trình lập kế hoạch
Quy trình lập kế hoạch bao gồm các bước sau:
- Nghiên cứu và dự báo;
- Xác định các mục tiêu;
- Phát triển các tiền đề;
- Xây dựng các phương án;

hiện các hoạt động;
- Bố trí, sắp xếp đội ngũ, xác định vị trí, nhiệm vụ quyền hạn của từng thành viên
từng bộ phận trong tổ chức, trong đó bao gồm cả vấn đề phân cấp, phân quyền;
- Quản lý nhân sự bao gồm tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí sắp xếp, khen
thưởng, đề bạt, kỷ luật, sa thải v.v
- Đảm bảo các nguồn lực cho hoạt động của tổ chức.
Về bản chất, tổ chức là việc thực hiện phân công lao động một cách khoa học, là
cơ sở để tạo ra năng suất lao động cao.
Yêu cầu của công tác tổ chức
- Đảm bảo tính khoa học, hiệu quả;
- Phân cấp rõ ràng, phối hợp nhịp nhàng;
- Chỉ rõ nhiệm vụ và quyền hạn, kết hợp trách nhiệm, quyền hạn và quyền lợi;
- Cụ thể và sáng tạo;
- Đảm bảo lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài v.v
Đối tượng của công tác tổ chức
- Cơ cấu bộ máy tổ chức;
- Cán bộ, công chức (cán bộ quản lý và nhân viên);
- Các công việc cụ thể;
- Văn hóa tổ chức v.v
Phân loại công tác tổ chức
- Tổ chức cơ cấu bộ máy;
- Tổ chức công việc;
- Tổ chức cán bộ;
- Tổ chức chính thức và phi chính thức;
- Tổ chức chiến lược và tổ chức tác nghiệp;
- Tổ chức ngắn hạn và tổ chức dài hạn;
- Tổ chức nhất thời và tổ chức cố định thường xuyên.
Một số vấn đề về công tác tổ chức
Cơ cấu tổ chức
Cơ cấu tổ chức có hai dạng: cơ cấu chính thức và cơ cấu phi chính thức. Ở đây

Kiểu cơ cấu này có đặc điểm cơ bản là vẫn tồn tại các đơn vị chức năng nhưng chỉ
đơn thuần về chuyên môn, không có quyền chỉ đạo các đơn vị trực tuyến. Những người
lãnh đạo trực tuyến chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động và được toàn quyền quyết định
trong đơn vị mình phụ trách.
- Cơ cấu tổ chức theo ma trận:
Là sự kết hợp của hai hay nhiều kiểu mô hình tổ chức giáo dục khác nhau. Ví dụ,
kiểu mô hình cơ cấu theo chức năng kết hợp với mô hình theo kết quả đầu ra. Trong kiểu
mô hình này, các cán bộ quản lý theo chức năng và theo đầu ra đều có vị thế ngang nhau.
Họ chịu trách nhiệm báo cáo cho cùng một cấp lãnh đạo và có thẩm quyền ra quyết định
thuộc lĩnh vực mà họ phụ trách.
Ngoài ra còn có nhiều kiểu mô hình cơ cấu tổ chức khác như: cơ cấu tổ chức phân
theo địa dư, cơ cấu tổ chức theo đối tượng, cơ cấu tổ chức bộ phận theo quá trình. Tuy
nhiên không có kiểu mô hình nào là vạn năng cho mọi tổ chức, mỗi kiểu mô hình đều có
những ưu điểm và hạn chế nhất định. Vì vậy, việc áp dụng mô hình nào phải tùy thuộc
vào nhiều yếu tố bên trong cũng như bên ngoài tổ chức. Thông thường người ta áp dụng
phối kết hợp các mô hình thuần túy nói trên thành mô hình tổng hợp.
1.2.1. Tổ chức cán bộ
a/ Vai trò của công tác tổ chức cán bộ
Cán bộ là vấn đề quyết định đối với thành bại của mọi tổ chức. Làm thế nào để có
một đội ngũ cán bộ giỏi về chuyên môn, nghiệp vụ, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu,
sẵn sàng đồng tâm hiệp lực với tinh thần trách nhiệm cao, hoàn thành mọi nhiệm vụ là
mục tiêu của công tác tổ chức cán bộ.
b/ Yêu cầu của công tác tổ chức cán bộ
- Đáp ứng đầy đủ mọi nhu cầu về cán bộ của tổ chức;
- Xây dựng, chuẩn bị, đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ có chất lượng, đủ số lượng,
thích ứng với mọi hoàn cảnh thay đổi của tổ chức.
- Bảo đảm tính liên tục, tính kế thừa về đội ngũ cán bộ;
- Phát huy được tính năng động, độc lập tự chủ, sáng tạo, tinh thần hợp tác, ý thức
trách nhiệm và tính hiệu quả của cán bộ.
c/ Nội dung của công tác tổ chức cán bộ

"Quyền định đoạt mọi công việc quan trọng về mặt chính trị và sức mạnh để bảo đảm
việc thực hiện quyền ấy".
Theo TS Nguyễn Thanh Hội và TS Phan Thăng, trong cuốn Quản trị học, NXB
Thống kê, 1999 thì "Quyền lực trong tổ chức là mức độ độc lập trong hoạt động dùng
cho nhà quản trị để tạo ra khả năng sử dụng những quyết định của họ thông qua việc trao
cho họ quyền ra quyết định".
Theo các tác giả của Viện nghiên cứu hành chính, trong cuốn: Một số thuật ngữ
hành chính, Nxb Thế giới, H-2000 thì: Quyền lực là tiềm năng của một chủ thể để buộc
các cá nhân, tổ chức khác phải phục tùng và hành động, xử sự theo ý chí của mình.
c/ Tập trung trong tổ chức
Là phương thức tổ chức trong đó mọi quyền ra quyết định được tập trung vào cấp
quản lý cao nhất của tổ chức.
d/ Phân cấp quản lý
Phân cấp là một loại hình tổ chức và hoạt động quản lý tạo nên các cơ quan có thứ
bậc khác nhau trong một hệ thống, mỗi cấp được giao nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm
nhất định để phát huy tính tự chủ, năng động và sáng tạo của mình nhằm thực hiện một
hay nhiều nhiệm vụ nào đó đạt hiệu quả cao nhất.
e/ Phân quyền trong tổ chức
Là xu hướng phân tán quyền ra quyết định cho cấp quản lý thấp hơn trong hệ
thống thứ bậc. Phân quyền là hiện tượng tất yếu khi tổ chức đạt tới quy mô và trình độ
phát triển nhất định làm cho một người (hay một cấp quản lý) không thể đảm đương được
mọi công việc quản lý.
g/ Ủy quyền trong quản lý tổ chức:
Là hành vi cấp trên trao cho cấp dưới một số quyền hạn để họ nhân danh mình
thực hiện những công việc nhất định. Trong các tổ chức khác nhau, mức độ phân quyền
sẽ khác nhau.
- Các nguyên tắc ủy quyền:
+ Cấp trên ủy quyền cho cấp dưới trực tiếp, không ủy quyền vượt cấp;
+ Ủy quyền không làm mất đi hay thu nhỏ trách nhiệm của người được ủy quyền;
quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm của người ủy quyền và người được ủy quyền phải bảo

Theo nghĩa này, chức năng điều khiển có những định nghĩa sau:
- Điều khiển, chỉ đạo là quá trình tác động đến con người sao cho họ tự nguyện và
nhiệt tình phấn đấu để đạt được các mục tiêu của tổ chức, bao gồm các hoạt động chỉ đạo,
điều hành, hướng dẫn, phối hợp ra lệnh và đi trước của người quản lý đối với các cá
nhân, bộ phận thừa hành trong tổ chức.
- Chỉ đạo là quá trình tập hợp, liên kết các thành viên trong tổ chức; theo sát hoạt
động của bộ máy, hướng dẫn, điều chỉnh công việc nhịp nhàng, động viên, khuyến khích,
khen thưởng người lao động nhằm đạt mục tiêu của tổ chức.
1.3.2. Nội dung chủ yếu của chức năng điều khiển, chỉ đạo
Để thực hiện chức năng lãnh đạo, người quản lý phải thực hiện các nội dung sau:
- Hiểu rõ con người trong tổ chức. Đây là nội dung đầu tiên hết sức quan trọng mà
người quản lý phải nắm vững để có thể đưa ra các quyết định và lựa chon đúng các
phương pháp quản lý.
- Đưa ra các quyết định lãnh đạo thích hợp.
- Xây dựng nhóm làm việc và làm việc với nhóm.
- Dự kiến các tình huống và tìm cách xử lý tốt các tình huống xảy ra.
- Giáo tiếp và đàm phán.
Tóm lại, lãnh đạo là chức năng quản lý trong đó người quản lý phải thường xuyên
tiếp xúc, làm việc và tác động trực tiếp đến người lao động giúp họ thực hiện kế hoạch đã
đề ra đạt kết quả cao nhất. Để làm tốt chức năng này người quản lý cần phải đạt được
những yêu cầu sau:
- Có kinh nghiệm, có ý chí, có khả năng thực hiện, hướng dẫn, động viên và giúp
đỡ người khác hoàn thành công việc.
- Người quản lý phải biết lựa chọn việc nào làm trước, việc nào làm sau, biết định
hướng, hỗ trợ và kiểm tra những việc ấy.
- Người quản lý phải có khả năng làm việc với con người: biết giao tiếp với cấp
dưới, biết làm cho người khác vừa tuân phục, vừa mến mộ mình.
- Người quản lý phải có khả năng hiểu biết về con người nói chung, đặc biệt là
những người trực tiếp làm việc với mình.
1.4. Chức năng kiểm tra

- Kiểm tra cần phải hiệu quả.
1.4.4. Quá trình kiểm tra
Theo định nghĩa trên thì quá trình kiểm tra gồm những giai đoạn:
- Xây dựng hệ thống các tiêu chuẩn kiểm tra: Là những chuẩn mực mà các cá
nhân, tập thể và tổ chức phải thực hiện để đảm bảo cho toàn bộ tổ chức hoạt động có hiệu
quả. Các tiêu chuẩn của kiểm tra rất phong phú do tính đặc thù của tổ chức, sự đa dạng
của các kế hoạch, các chương trình, các sản phẩm và dịch vụ.
- Đo lường và đánh giá sự thực hiện các hoạt động: Đo lường là để dự báo được
những sai lệch trước khi chúng trở nên trầm trọng, để rút ra những kết luận đúng đắn về
hoạt động và kết quả thực hiện cũng như nguyên nhân của những sai lệch. Việc đo lường
được thực hiện bằng những công cụ khoa học hợp lý. Đánh giá là xem xét sự phù hợp
giữa kết quả đo luờng so với hệ tiêu chuẩn.
- Tiến hành điều chỉnh các hoạt động: Là những tác động bổ sung trong quá trình
quản lý để khắc phục những sai lệch nhằm không ngừng cải tiến hoạt động.
1.4.5. Hình thức kiểm tra
Hình thức kiểm tra rất đa dạng, được phân loại theo nhiều tiêu thức:
Theo quá trình hoạt động kiểm tra
- Kiểm tra trước hoạt động: bao gồm kiểm tra sự chuẩn bị và kiểm tra phòng ngừa
các hoạt động (kiểm tra lường trước);
- Kiểm tra đồng thời với các hoạt động đang diễn ra là kiểm tra kết quả của từng
giai đoạn hoạt động.
- Kiểm tra phản hồi là kiểm tra được thực hiện sau khi hoạt động đã hoàn thành.
Theo mức độ tổng quát của nội dung kiểm tra
- Kiểm tra toàn bộ, kiểm tra toàn diện;
- Kiểm tra bộ phận, kiểm tra chuyên đề;
- Kiểm tra cá nhân.
Theo tần suất của các cuộc kiểm tra
- Kiểm tra đột xuất;
- Kiểm tra định kỳ;
- Kiểm tra liên tục.

câu hỏi nên họ đối phó là chỉ khi nào sắp thi thì mới học. Đánh giá vấn đề này trong Báo
cáo tổng kết năm học 2008 – 2009 và phương hướng nhiệm vụ năm học 2009 – 2010
khối các trường đại học, cao đẳng có nhận xét: “Chất lượng luận văn, luận án, đề tài
khoa học chưa cao. Một số hội đồng chấm luận văn, luận án, đề tài khoa học cơ sở chưa
thật sự nghiêm túc thực hiện các quy định của Bộ GD&ĐT. Việc đánh giá luận văn, luận
án, đề tài khoa học vẫn còn tình trạng nể nang, xuê xoa, chưa thật sự nghiêm khắc, thẳng
thắn và khách quan. Nhiều nghiên cứu sinh không thật sự nghiêm túc trong học tập và thi
cử; gây dư luận xấu trong giới tri thức khoa học và xã hội; làm ảnh hưởng đến kế hoạch
đào tạo của các cơ sở đào tạo” dẫn đến chất lượng nhìn chung còn thấp, chưa đáp ứng
yêu cầu đòi hỏi của phát triển kinh tế xã hội.
2.2 Vấn đề thực hiện chức năng quản lý chất lượnng đào tạo trong các trường
Đại học, Cao đẳng ở Việt Nam
Nhìn vào kết quả tuyển sinh hàng năm của các trường đại học, cao đẳng, chúng ta
thấy rằng chỉ những trường thuộc loại “top” thì đầu vào tương đối cao, số còn lại lấy trên
điểm sàn, những trường mới thành lập thì tuyển sinh “xé rào” quy chế của Bộ, thậm chí
nhiều người không thi vẫn đậu, loạn giấy báo nhập học. Nhìn chung, chất lượng đầu vào
chưa cao.
Bảng số liệu sau đây cho ta thấy điều đó:
Điểm sàn các khối thi đại học (Nguồn: dantri.com.vn)
Năm Khối A Khối B Khối C Khối D
2008 13 15 14 13
2009 13 14 14 13
2010 13 14 14 13
Đánh giá về thực trạng giảng dạy đại học hiện nay của Việt Nam, trong một báo
cáo được thực hiện năm 2006 bởi Đoàn khảo sát thực địa thuộc Viện Hàn lâm Quốc gia
Hoa Kỳ gửi đến Quỹ Giáo dục Việt Nam sau một thời gian khảo sát tại một số trường đại
học của Việt Nam, có phần nhận xét về phương pháp dạy và học như sau: 1/ Phương
pháp giảng dạy không hiệu quả, quá phụ thuộc vào các bài thuyết trình và ít sử dụng các
kỹ năng học tích cực (như giao bài tập về nhà có chấm điểm, thảo luận trong lớp), kết
quả là có ít sự tương tác giữa sinh viên và giảng viên trong và ngoài lớp học. Nhiều

sâu hay là cả hai? Mục đích của nó là phục vụ cho lao động sản xuất; cho đào tạo và phát
triển nhân tài hay là nâng cao dân trí? Tất cả những vấn đề trên cần được làm sáng tỏ.
Trên cơ sở đó, chúng ta mới cho phép phát triển loại trường đào tạo, phân cấp quản lý,
định ra quy định, quy chế, thanh tra.
Để có thể kiểm soát số lượng tăng nhanh nhưng vẫn đảm bảo chất lượng giáo dục
đại học cao đẳng thì cần đề ra những quy định, quy chế, tiêu chí nghiêm ngặt và công
khai trên phương tiện thông tin đại chúng về điều kiện thành lập một trường đại học một
cách rõ ràng như: mục đích trường đó mở ra để làm gì; trình độ được đào tạo (đại học,
Sau Đại học); ngành được đào tạo; đội ngũ quản lý và giảng viên (số lượng Giáo sư, Phó
Giáo sư, Tiến sĩ, Thạc sĩ); cơ sở vật chất; đầu vào, đầu ra; có tiêu chí cho đại học vùng,
địa phương, tiêu chí nâng cấp trường trung cấp, cao đẳng lên đại học. Đặc biệt, khi cho
phép mở một trường đại học mới, dứt khoát phải đảm bảo 100% tiêu chí, nếu không đủ
mà cấp phép hoạt động thì người kí phải chịu trách nhiệm như thế nào. Tất cả nên được
“số hóa” cụ thể nhằm cung cấp thông tin cho người học trong việc chọn trường, ngành;
đó cũng là kênh quan trọng để xã hội giám sát chất lượng đào tạo.
- Tiến hành rà soát và quy định lại việc phân chia cấp bậc đào tạo là cần thiết.
Phân loại và phân tầng các trường ĐH theo dạng ĐH nghiên cứu/ tinh hoa (đào tạo đến
tiến sĩ); ĐH địa phương (đào tạo đến thạc sĩ) và cao đẳng cộng đồng (đào tạo chuyên
môn ngắn hạn/ nghề nghiệp) nhằm đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao phục vụ cho
nhu cầu quốc gia và địa phương. Bên cạnh đó, cần giám sát chặt chẽ tất cả các trường đại
học, cao đẳng, đặc biệt là những trường yếu kém; đóng cửa, sát nhập hoặc giải thể các
trường được thành lập hoặc nâng cấp trong thời gian gần đây nhưng kém chất lượng.
- Nên thống nhất các trường đại học cao đẳng để thu về một mối quản lý sẽ có
hiệu quả cao hơn trong việc triển khai và thực thi chính sách, đồng thời phân công, phân
cấp quản lý giữa Bộ GD&ĐT, các Bộ, ngành, Ủy ban nhân dân các tỉnh và thành phố, các
công ty, doanh nghiệp. Để đạt hiệu quả cao hơn nữa trong quản lý giáo dục và nâng cao
chất lượng đầu ra thì chương trình đào tạo, các trường trọng điểm, các đại học vùng,
những trường được đào tạo đến trình độ Sau Đại học phải nằm dưới sự quản lý của Bộ
GD&ĐT.
- Bộ GD&ĐT nên tăng cường quyền tự chủ của nhà trường trên cơ sở bảo đảm

hết học phần, đồ án và khóa luận tốt nghiệp, các đề tài khoa học, các luận văn Thạc sĩ,
Tiến sĩ. Việc thành lập Hội đồng khoa học để đánh giá đầu ra cực kì quan trọng. Hỗ trợ
cho phòng là các Tổ trưởng tổ bộ môn phù hợp với từng chuyên ngành, đề tài khoa học.
Có thể họ không trực tiếp tham gia nhưng sẽ tư vấn tháo gỡ khó khăn trong đào
tạo, thẩm định đầu vào, đầu ra. Như vậy, phòng cần tăng cường thanh tra, dự giờ giảng
viên, phỏng vấn nhu cầu sinh viên và liên kết chặt chẽ với Trưởng các bộ môn là điều cần
thiết trong đào tạo. Nếu làm được như vậy, lãnh đạo trường hoàn toàn có thể kiểm soát
được chuyên môn thông qua các Trưởng bộ môn. Tất nhiên, để làm được việc đó thì nhà
trường cần trả lương, phụ cấp và thù lao xứng đáng cho trí tuệ mà họ đã bỏ ra.Việc nâng
cao chất lượng đào tạo trong một trường thì không có thể thiếu các Trưởng bộ môn trong
việc bồi dưỡng, đánh giá chất lượng giảng viên, sinh viên, tuyển sinh đầu vào, đầu ra. Sự
có mặt của họ trong các trung tâm đánh giá và kiểm định chất lượng là cần thiết.
Từ những phân tích trên đơn vị quan trọng nhất của một trường đại học, cao đẳng
theo thứ tự là tổ bộ môn, phòng Đào tạo, phòng Khoa học ông nghệ và Sau Đại học,
trong đó Tổ trưởng tổ bộ môn là then chốt, quyết định nhất.
Để tạo đột phá trong việc nâng cao chất lượng giáo dục thì Bộ GD&ĐT nên có
những chính sách về đào tạo, bồi dưỡng cho các Tổ trưởng tổ bộ môn của 440 trường đại
học, cao đẳng trong toàn quốc.
2.3.3. Giải pháp cho vấn đề quản lý chất lượng đào tạo trong các trường đại
học, cao đẳng ở Việt Nam
- Để có đầu ra tốt thì đầu vào phải tốt, muốn vậy, cần thắt chặt khâu tuyển sinh
đầu vào trên cơ sở nâng cao điểm sàn, thay đổi môn thi, khối thi cho phù hợp ngành
nghề, trường đào tạo. Ví dụ: Ngành CNTT nên thi Toán, Lý, Anh.
- Nhà trường cần tăng cường thanh tra, kiểm tra công tác giảng dạy, thi cử, hoạt
động chuyên môn của các khoa. Chấn chỉnh lại việc lập Hội đồng bảo vệ luận văn, luận
án, đề tài khoa học nhằm nâng cao chất lượng đầu ra.
- Nên có tiêu chí đánh giá công nhận Thạc sỹ, Tiến sỹ hướng tới chuẩn thế giới,
với Thạc sỹ, trước khi bảo vệ luận văn phải có ít nhất một bài báo khoa học đăng trên tạp
chí khoa học; luận văn phải ứng dụng được vào thực tế ít nhất về mặt lý thuyết; Với Tiến
sỹ, luận án cần có những đóng góp mới, khả năng ứng dụng thực tiễn cao. Bên cạnh đó,

- Tăng cường giáo dục kĩ năng sống cho sinh viên, thường xuyên tổ chức các khóa
sinh hoạt ngoại khóa (vui chơi, học thuật). Điều không kém phần quan trọng là giáo dục
kỹ năng “mềm” cho họ, hiện nay sản phẩm đào tạo của chúng ta rất yếu về mặt này. Theo
khảo sát của các doanh nghiệp ở Singapore (có 9 điều cần nhất ở các SV tốt nghiệp ĐH,
CĐ), thì thứ tự ưu tiên là: 1/ Kỹ năng trình bày vấn đề; 2/ Kỹ năng giao tiếp; 3/ Kỹ năng
làm việc theo nhóm; 4/ Khả năng giải quyết vấn đề; 5/ Xử lý công việc mềm dẻo linh
hoạt; 6/ Khả năng quản lý lãnh đạo; 7/ Kỹ năng viết; 8/ Kiến thức chuyên môn; 9/ Khả
năng vi tính .
- Nên xây dựng “học bạ” cho sinh viên, học bạ đó bao gồm chương trình chi tiết
các môn trong 4 năm đại học và phát cho sinh viên khi mới nhập học. Trong một môn có
những phần, chương, mục lục lớn nhỏ chi tiết cụ thể, tên những giảng viên phụ trách, thời
gian học, tài liệu tham khảo, môn nào bắt buộc và không bắt buộc, ý nghĩa thực tế của
từng môn học để người học hình dung ra tổng quan chương trình được đào tạo, từ đó xây
dựng kế hoạch học tập cho riêng mình. “Học bạ” cũng nên ghi hạnh kiểm, số điểm thi lần
1, 2 từng môn học, từng kì thi, hội đồng thi và chữ kí của người chấm thi. Đó là hồ sơ để
giảng viên theo dõi sát sao và điều chỉnh kịp thời quá trình học tập của sinh viên và làm
cơ sở để cơ quan, doanh nghiệp, công ty tuyển chọn lao động.
- Nên có tổ chức độc lập, có tư cách pháp nhân và chuyên môn sâu về đo lường,
đánh giá kiểm định chất lượng các trường đại học nhằm đảm bảo tính khách quan, trung
thực, tin cậy. Các kết quả kiểm định cần được công khai kịp thời. Kiểm định chất lượng
gắn liền với việc xếp hạng các trường đại học nhằm tạo ra sự cạnh tranh lành mạnh. Cấp
vĩ mô, đó là những nhà khoa học đầu ngành, giảng viên giỏi lấy từ các trường đại học,
cán bộ giỏi ở viện nghiên cứu; Cấp trường, đó là những Tổ trưởng tổ bộ môn như phân
tích ở bên trên.
- Việc đào tạo cần gắn với thực tế theo xu hướng chung của thế giới, nhưng trước
hết phù hợp với nhu cầu của xã hội VN. Có nghĩa rằng, xã hội, các công ty cần gì thì nhà
trường đào tạo đáp ứng điều đó. Thước đo cho chuẩn đầu ra là sinh viên ra trường kiếm
được việc làm đúng chuyên môn, lương cao, ổn định, giữ nhiều trọng trách trong công ty,
cơ quan. Sự công nhận của doanh nghiệp và người sử dụng thông qua các hợp đồng là
minh chứng tốt nhất chất lượng đào tạo đạt chuẩn. Muốn vậy, chúng ta nên tiến hành

6/ Học viện hành chính quốc gia, Viện nghiên cứu Hành chính: Một số thuật ngữ hành
chính, Nxb thế giới, H - 2000.
7/ Trung tâm nghiên cứu khoa học tổ chức, quản lý: Khoa học tổ chức và quản lý - Một
số vấn đề lý luận và thực tiễn. Nxb Thống kê 1999.
8/ Viện Ngôn ngữ học: Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng - Trung tâm từ điển học, 2001.
9/ TS Nguyễn Thị Liên Diệp: Quản trị học, Nxb Thống Kê, Hà Nội, 1994.
10/ TS. Nguyễn Thị Doan, Đỗ Minh Cương, Phương Kỳ Sơn: Các học Thuyết quản lý,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996.
11/ Nguyễn Minh Đạo: Cơ sở của khoa học quản lý. Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
1997.
12/ TS. Nguyễn Thanh Hội, TS Phan Thăng: Quản trị học, Nxb Thống kê, 1999.
13/ Harol Koontz: Những vấn đề cốt yếu của quản lý, Nxb Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội,
1993.
14/ Báo cáo tổng kết năm học 2008 – 2009 và phương hướng nhiệm vụ năm học 2009 –
2010 khối các trường đại học, cao đẳng; />15/ TS. Lê Văn Hảo, Một nguyên nhân làm hạn chế hoạt động đổi mới phương pháp
giảng dạy ĐH tại Việt Nam; />


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status