1
Nguyễn Minh Tân
Đại học Thái Nguyên
2
Nội dung:
1. Tổng quan về việc tổ chức dạy và học môn Vật lý
trong các trường đại học - cao đẳng y dược hiện nay
2. Vai trò, vị trí của môn Vật lý trong các trường đại
học Y - Dược
3. Sự cần thiết và định hướng đổi mới phương pháp
dạy học môn Vật lý - Lý sinh y học
4. Một vài đề xuất của tác giả nhằm góp phần đổi mới
hoạt động dạy và học môn Vật lý - Lý sinh tại trường
đại học Y Dược Thái Nguyên.
3
1. Tổng quan về việc tổ chức dạy và học môn Vật lý trong
các trường đại học - cao đẳng Y - Dược hiện nay
* Chuyên ngành Vật lý – Lý sinh đã được đưa vào
giảng dạy trong gần 100 trường đại học, cao đẳng Y,
Dược, Điều dưỡng trên toàn quốc
* Chuyên ngành này được giảng dạy cho các hệ: chính
quy, chuyên tu, tại chức, ở tất cả các bậc học: cao
đẳng, đại học và sau đại học.
* Môn học này cũng còn được giảng dạy tại khoa Sinh
các trường ĐH Tổng hợp, Sư phạm, Nông Lâm
4
Điều đó khẳng định: nhu cầu XH về chuyên
ngành này là rất lớn. Cụ thể là:
Cần có một đội ngũ giáo viên giảng dạy chuyên
ngành này được đào tạo chuyên sâu và bài bản.
Cần có một khung chương trình chuẩn.
của khoa học vật lý vào các vấn đề y sinh học
Từ điển Bách khoa toàn thư VN (dictionary.bachkhoatoanthu.gov.vn)
thì định nghĩa: Lý sinh là môn học nghiên cứu liên ngành có
mục đích nghiên cứu các cơ chế của sự sống, trên cơ sở các
quy luật và các phương tiện của vật lí học.
VL-LS đảm trách 3 nhiệm vụ chính:
•
Phát hiện và làm sáng tỏ bản chất, cơ chế, động lực của các
hiện tượng và các quá trình sống,
•
Nghiên cứu tác động và ảnh hưởng của các tác nhân vật lý lên
cấu trúc và chức năng sinh lý của cơ thể;
•
Tìm hiểu nguyên lý chung của các phương pháp, kỹ thuật Y-
Sinh học tiên tiến
N S
Cuộn RF B
1
Máy phát RF và
máy đo
M
ẫ
u
•
Nói một cách nôm na thì:
Nếu như Vật lý là môn học giúp chúng ta
trả lời câu hỏi:“Tại sao và như thế nào” về
tất cả các hiện tượng, các quá trình vật lý
xảy ra trong thế giới tự nhiên, thì Lý sinh
trả lời câu hỏi “tại sao và như thế nào” về
không thể thiếu mà sinh
viên các ngành thuộc
khối Y - Sinh cần được
trang bị trong quá ntrình
học tập - nghiên cứu
trong nhà trường.
Các quan điểm hiện đại của lí luận
dạy học đều thống nhất ở một
điểm, đó là: cần biến quá trình đào
tạo thành tự đào tạo, chuyển đổi
dần vai trò người dạy là trung tâm
sang người học làm trung tâm,
nhằm phát huy cao nhất tính chủ
động, tích cực, tự lập của người
học, cũng như sự linh hoạt, sáng
tạo của người dạy.
Một buổi sinh hoạt chuyên đề về các kỹ thuật
lý sinh y học
3. Sự cần thiết và định
hướng đổi mới phương
pháp Dday học môn Vật
Lý – Lý sinh
Đặc biệt, thực hiện nghị quyết số 14/2005/NQ-CP của Chính phủ
về việc chuyển đổi từ đào tạo niên chế sang đào tạo theo tín chỉ, từ
năm học 2008 -2009 các trường đại học trong cả nước, trong đó có 9
cơ sở đào tạo của Đại học Thái Nguyên đã đồng loạt triển khai việc đào
tạo theo tín chỉ.
Việc đổi mới phương thức đào tạo là một tác nhân kích thích việc đổi
mới toàn diện phương pháp dạy học, đặc biệt là đổi mới phương pháp
phản ánh rõ nhất bản chất, chức năng, nhiệm vụ và tính đặc thù của
môn học
- Đào tạo nguồn nhân lực chuyên ngành
Trên thực tế, cho đến nay, ở tất cả các trường đại học, các
cơ sở đào tạo trong nước đều chưa có được một mã ngành đào
tạo chuyên ngành Lý sinh riêng, chưa thực sự có một đội ngũ cán
bộ nghiên cứu và giảng dạy được đào tạo bài bản chính quy theo
một chương trình chuẩn.
Điều đó dẫn đến tình trạng, hầu hết độ ngũ những người
làm công tác Giảng dạy và nghiên cứu trong lĩnh vực Lý sinh lại
bắt đầu sự nghiệp từ các chuyên ngành đào tạo khác nhau như
Vật lý, Sinh học và Y khoa.
Từ năm 2006, Bộ Giáo dục
Đào tạo đã có Quyết định mở mã số
đào tạo thạc sĩ chuyên ngành Lý sinh
Y học, cơ sở đào tạo là các trường
đại học Y dược, trong khi đó, mã số
này ở hệ đại học đến nay vẫn chưa
được mở, và do đó, việc có một đội
ngũ cán bộ, giáo viên chuyên ngành
Lý sinh được đào tạo bài bản, chính
quy vẫn là một nỗi niềm canh cánh
của lớp người đi trước.
Thực hành kỹ thuật đo ghi điện tim tại PTN
bộ môn Lý sinh – Trường ĐH Y dược Thái
Nguyên
Chương trình khung, đối tượng và nội dung kiến thức:
Khung chương trình, kế hoạch giảng dạy và đối tượng của môn
học luôn có sự thay đổi, điều chỉnh trong suốt 20 năm qua
Chương 1: Cơ học
1. Các khái niệm và đại lượng vật lý
cơ bản
2. Cơ học chất lưu
3. Dao động và sóng
Chương 2: Nhiệt động học
1. Thuyết động học phân tử, các định
luật thực nghiệm về chất khí
2. Các thông số và các nguyên lý
nhiệt động cơ bản
3. Các hiện tượng nhiệt động cơ bản
Chương 3: Điện và Từ
1. Điện trường, điện thế, hiệu điện
thế, nguồn điện và dòng điện
2. Tác dụng từ của dòng điện
3. Trường điện từ, sóng điện từ
Chương 4: Quang học
1. Bản chất ánh sáng
2. Phản xạ, khúc xạ, nhiễu xạ và giao
thoa của ánh sáng
3.Hiệu ứng quang điện
Chương 5: Nguyên tử, phân tử và
phóng xạ hạt nhân
1. Hạt cơ bản, Nguyên tử, Phân tử,
Hạt nhân
2. Phóng xạ hạt nhân
3. Định luật phân rã phóng xạ, tính
chất của các tia phóng xạ
Chương 1: Năng lượng và sự sống
1. Phương trình cơ bản về cân bằng nhiệt
3. Cơ chế dẫn truyền hưng phấn từ thần
kinh đến cơ
Chương 1: P. pháp đo ghi điện tim
1. Sự hình thành đồ thị điện tim, điện tâm đồ và ý
nghĩa các sóng
2. Phương pháp đo ghi điện tim và ứng dụng
trong chẩn đoán
Chương 2: Tác dụng của dòng điện lên cơ thể và
ứng dụng
1. Tác dụng của dòng điện lên cơ thể
2. Phương pháp kích thích điện, ứng dụng trong
kỹ thuật điện châm
Chương 3: Phương pháp Âm và Siêu âm, ứng
dụng trong y học
1.Đại cương về sóng âm và siêu âm
2.Ứng dụng của âm và siêu âm trong chẩn đoán
và điều trị
Chương 4: Tác dụng của ánh sáng lên cơ thể
sống và ứng dụng
1.Tác dụng của ánh sáng lên cơ thể sống và ứng
dụng
2. Kỹ thuật Laser, ứ dụng trong Y học
Chương 5: Bức xạ ion hóa và ứng dụng trong kỹ
thuật CĐHA
1. Bức xạ ion hóa
2. Bức xạ tia X và ứ dụng trong CĐHA
Chương 6: Phương pháp cộng hưởng từ hạt nhân
1.Cơ sở vật lý của phương pháp cộng hưởng từ
hạt nhân
2.Kỹ thuật chụp cộng hưởng từ
hơn, phù hợp với đối tượng là sinh viên các
trường khối ngành B đồng thời cũng phù hợp
với đội ngũ các thày được đào tạo từ các
nguồn khác nhau.
Với việc sử dụng bộ công cụ phần
mềm hỗ trợ dạy học, quá trình giảng dạy - học
tập trên lớp, cũng như tự học ở nhà của sinh
viên sẽ thuận lợi và hiệu quả hơn rất nhiều,
nhất là khi triển khai phương thức đào tạo tín
chỉ.