Các tội xâm phạm sở hữu là những hành vi có lỗi gây thiệt hại hoặc đe dọa
gây thiệt hại cho quan hệ sở hữu và sự gây thiệt hại này thể hiện được đầy đủ bản
chất nguy hiểm của hành vi. Hiện nay, các tội xâm phạm quan hệ sở hữu khá phổ
biến và ngày càng nguy hiểm, đó vừa là một mối quan tâm của xã hội mà cũng là
một thách thức yêu cầu những người áp dụng pháp luật phải hiểu rõ và áp dụng
đúng nội dung cũng như của Bộ luật hình sự để đưa ra những quyết định đúng đắn
nhất có tính răn đe giáo dục người phạm tội và giáo dục ý thức pháp luật cho toàn
xã hội. Ngoài ra, những vấn đề về đồng phạm, giai đoạn phạm tội, tuổi chịu TNHS
cũng là những nội dung quan trọng, ảnh hưởng không nhỏ đến việc định tội danh
và quyết định hình phạt. Vì vậy, nhóm em xin chọn bài tập tình huống số 7, qua
việc giải quyết các câu hỏi tình huống sẽ làm rõ thêm các nội dung nêu trên.
Câu 1: A,B và C đều là đồng phạm trong vụ trộm cắp tài sản nói trên.
Trước hết, Điều 20 Bộ luật hình sự (BLHS) quy định: “Đồng phạm là
trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm”.
Để xem xét tội phạm đã được thực hiện có đồng phạm hay không thì tội
phạm đó phải có những đặc điểm chung về:
Mặt khách quan với các dấu hiệu bắt buộc cơ bản sau đây:
_Phải có sự cùng tham gia của từ hai người trở lên và những người này đều phải có
năng lực TNHS và đủ tuổi chịu TNHS. Trong tình huống đề bài: “A, B và C bàn
nhau trộm cắp tài sản của nhà ông H” nên ở đây đã có từ hai người trở lên ( cụ thể
là 3 người A,B,C) và có năng lực TNHS và đủ tuổi chịu TNHS.
_Những người đồng phạm phải cùng chung hoạt động, hành vi của mỗi người
trong số họ đều nhằm thực hiện tội phạm hoặc góp phần thực hiện tội phạm. Ở
đây, A,B,C đã có sự phân công để cùng chung hoạt động là nhằm trộm cắp tài sản
của nhà ông H, dù C trên thực tế đã không trực tiếp tham gia vào hành vi trộm cắp
1
tài sản của nhà ông H nhưng việc C được phân công mang theo một thanh sắt để
cạy phá cửa và C cũng đồng tình mang theo thanh sắt đó tới địa điểm hẹn A,B đã
thể hiện hành vi nhằm mục đích góp phần thực hiện tội phạm.
Mặt chủ quan là phải có sự cố ý của tất cả các người phạm tội với dấu hiệu
bắt buộc là cơ bản là:
có đủ yếu tố cấu thành của một tội khác, thì người đó phải chịu trách nhiệm hình
sự về tội này.”
Để được coi là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội, chủ thể phải thỏa
mãn những dấu hiệu sau:
Dấu hiệu thứ nhất: Việc chấm dứt không thực hiện tiếp tội phạm phải xảy
ra khi tội phạm đang ở giai đoạn chuẩn bị hoặc ở giai đoạn chưa đạt chưa hoàn
thành. Cụ thể:
_Ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội, người phạm tội mới chỉ có hành vi tạo ra những
điều kiện cần thiết cho việc thực hiện tội phạm nhưng chưa thực hiện hành vi
khách quan được mô tả trong cấu thành tội phạm. Những hành vi chuẩn bị phạm
tội chưa trực tiếp làm biến đổi tình trạng bình thường của đối tượng tác động của
tội phạm.
_Ở giai đoạn chưa đạt chưa hoàn thành thì người phạm tội vì những nguyên nhân
khách quan mà chưa thực hiện hết các hành vi được cho là cần thiết để gây ra hậu
quả, hậu quả chưa phát sinh. Vì thế, khi chủ thể dừng lại không thực hiện tiếp tội
phạm ở giai đoạn chuẩn bị hoặc ở giai đoạn chưa đạt chưa hoàn thành thì những
3
quan hệ xã hội là khách thể của loại tội định thực hiện chưa (xảy ra) bị gây thiệt
hại.
Xét tình huống trên, theo lời thỏa thuận, C đã đem thanh sắt đến địa điểm X
để chuẩn bị cậy cửa nhà ông H nhưng chờ mãi không thấy A và B đến nên C bỏ về
đi ngủ. Hành vi đem thanh sắt đến địa điểm X đã hẹn trước với A,B của C được
thực hiện ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội. Bởi lẽ, C mới chỉ sửa soạn, chuẩn bị
phương tiện phạm tội là thanh sắt dùng để cạy cửa và mang tới địa điểm X, thời
điểm C “bỏ về” là thời điểm trước lúc hắn bắt đầu thực hiện hành vi khách quan
được phản ánh trong cấu thành tội phạm. Như vậy, hành vi của C thoả mãn dấu
hiệu thứ nhất của trường hợp tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội.
Dấu hiệu thứ hai: việc chấm dứt không thực hiện tiếp tội phạm phải là tự
nguyện và dứt khoát.
Để được coi là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội, đòi hỏi chủ thể dừng
Trường hợp thứ nhất: K biết rằng số tài sản mà mình mua lại của A và B là từ
hành vi trộm cắp mà có. Trường hợp này K sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự về
hành vi của mình vì hành vi của K thỏa mãn các dấu hiệu của cấu thành tội phạm
của tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có (Điều 250 BLHS: “1. Người
nào không hứa hẹn trước mà chứa chấp, tiêu thụ tài sản biết rõ là do người khác
phạm tội mà có, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, phạt
cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm ….” đó
là các dấu hiệu về khách thể của tội phạm, mặt khách quan của tội phạm, chủ thể
của tội phạm, mặt chủ quan của tội phạm. Cụ thể:
5
Khách thể của tội phạm: Hành vi tiêu thụ tài sản của K trực tiếp xâm phạm an
toàn công cộng, ngoài ra hành vi này còn cản trở hoạt động đúng đắn của các cơ
quan nhà nước có thẩm quyền trong việc điều tra, xử lí người phạm tội, gián tiếp
khuyến khích người khác phạm tội nhiều lần.
Mặt khách quan của tội phạm: hành vi khách quan của tội phạm là hành tiêu thụ
tài sản do người khác phạm tội mà có. Tài sản do người khác phạm tội mà có được
hiểu là tài sản đang được một người chiếm hữu không hợp pháp và tài sản đó là đối
tượng của tội phạm mà họ đã thực hiện trước đó. Hành vi tiêu thụ tài sản được hiểu
là những hành vi có tính chất làm “dịch chuyển” tài sản từ người có tài sản do
phạm tội sang người khác như hành vi mua tài sản đó, tạo điều kiện để bán hoặc
trao đổi tài sản đó.
Trong quy định về tội, điều luật không xác định chứa chấp, tiêu thụ tài sản có
giá trị bao nhiêu mà chỉ quy định “ chưa chấp, tiêu thụ tài sản mà biết rõ do
người khác phạm tội mà có ”. Qua quy định này, có thể hiểu chứa chấp, tiêu
thụ tài sản do người khác phạm tội mà có (trừ đối tượng hàng cấm) luôn cấu
thành tội phạm mà không phụ thuộc vào mức độ.
Cụ thể trong tình huống này, K đã có hành vi mua lại tài sản của A và B do hành
vi trộm cắp mà có.
Chủ thể của tội phạm: Do đề bài không đề cập đến tuổi và năng lực chịu trách
nhiệm hình sự của K nên nhóm xin mặc định cho K là người có đủ năng lực trách
coi là phạm tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có tùy
tính chất của đối tượng được chứa chấp và tiêu thụ mà truy cứu trách nhiệm hình
sự của ngừoi có hành vi về các tội danh tương ứng trong BLHS, ví dụ” chứa chấp
hoặc tiêu thụ chất ma túy ( không hứa hẹn trước) là phạm tội tàng trử mua bán trái
phép chất ma túy( Điều 194) .
_Hoặc nếu đã hứa hẹn trước việc tiêu thụ số tài sản này thì K sẽ là đồng phạm
trong tội trộm cắp tài sản với vai trò là người giúp sức…
Câu 4: Giả sử A, B, C mới tròn 15 tuổi thì A, B, C có phải chịu trách nhiệm
hình sự về hành vi của mình không? Tại sao?
Người chưa thành niên là những người chưa phát triển đầy đủ về tâm lý,
sinh lý dễ bị chi phối bởi môi trường sống. Nếu họ ở trong môi trường lành mạnh,
được chăm sóc bởi nền giáo dục khoa học của gia đình, nhà trường và xã hội, họ sẽ
trở thành những công dân có ích cho xã hội; ngược lại ở môi trường xấu như thiếu
thốn về các điều kiện vật chất, thiếu sự quản lý chăm sóc giáo dục khoa học và
thường xuyên của gia đình và xã hội hoặc sống trong môi trường gia đình có nhiều
mâu thuẫn, khuyết tật, họ dễ bị nhiễm cái xấu, bị tha hoá dần dần về nhân cách, trở
thành thanh thiếu niên hư, vi phạm pháp luật và thậm chí còn phạm tội.
Tuy nhiên, không phải mọi hành vi phạm tội của những người chưa thành
niên sau khi thực hiện đều bị xử lý hình sự như người đã thành niên mà người thực
hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội phải ở một lứa tuổi nhất định thì mới bị coi là
chủ thể của tội phạm và việc xử lý họ cũng có chính sách cụ thể phù hợp với đặc
điểm riêng biệt của loại người này thì mới đạt được mục đích của hình phạt.
Điều 12. Tuổi chịu trách nhiệm hình sự
8
1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội
phạm.
2. Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm
hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
Như vậy, Luật hình sự Việt Nam quy định tuổi chịu trách nhiệm hình sự
được chia làm hai loại: một là, phải đủ 14 tuổi trở lên đến dưới 16 tuổi và hai là, từ
tài sản này thì:
-Trường hợp 1: Nếu K biết số tài sản mà A và B bán cho mình là từ hành vi
trộm cắp mà có thì hành vi của K sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội tiêu thụ
tài sản do người khác phạm tội mà có (Điều 250 BLHS)
-Trường hợp 2: Nếu K không biết số tài sản mà mình mua lại của A và B là
từ hành vi trộm cắp mà K sẽ không phải chịu trách nhiệm hình sự
4, Nếu A,B,C mới tròn 15 tuổi thì A, B, C không phải chịu trách nhiệm hình
sự về hành vi của mình.
10