Đề án môn học
LỜI MỞ ĐẦU
Bước vào thế kỷ XXI, trong bối cảnh khu vực hoá, toàn cầu hoá, các nền
kinh tế diễn ra mạnh mẽ, cộng với sự suy thoái kinh tế mang tính toàn cầu,
sau các sự kiện đầy kịch tính ở Mỹ, Nga, Trung Đông, nước ta cũng không
thể thoát khỏi những thách thức đầy cam go như các nước khác trong khu
vực. Tuy vậy, Việt Nam trong những năm qua khép lại bằng những thành tựu
kinh tế - xã hội đã đạt được trong bối cảnh không ít khó khăn thách thức đó.
Nền kinh tế tiếp tục tăng tưởng với tốc độ khá cao, giá trị sản lượng công
nghiệp tăng nhanh chóng. Việt Nam đã khẳng định mình là một quốc gia ổn
định trên con đường phát triển và hội nhập. Trong thành tựu chung đó có sự
đóng góp quan trọng của ngành Dầu khí Việt Nam.
Một thực tế là, nhiều năm nay, Dầu khí là một trong những ngành đầu tư
hấp dẫn nhất. Kim ngạch xuất khẩu Dầu khí chiếm tỷ trọng đáng kể và đóng
góp quan trọng đối với nền kinh tế nhiều nước. Riêng với ngành Dầu khí Việt
Nam, cơ hội đầu tư có nhiều, nhưng vốn đầu tư còn hạn chế. Thêm vào đó ta
nhận thấy ngành công nghiệp Dầu khí thế giới đang đi vào giai đoạn đỉnh để
bước sang giai đoạn suy tàn, cuộc khủng bố ở Newyork ngày 11.9.2001 đã
mang lại những thay đổi to lớn trong bức tranh địa lý_ chính trị Dầu khí toàn
cầu. Và những gì chúng ta đã và đang thấy trong hoạt động chính trị- quân sự
của Mỹ ở Trung Cận Đông phần nào nói lên tầm quan trọng của năng lượng
Dầu khí.
Trước sự quan trọng như vậy của năng lượng Dầu khí, cùng với một
tiềm năng Dầu khí không phải là ít ở Việt Nam, thì vấn đề đầu tư vào phát
triển ngành Dầu khí ở Việt nam là vấn đề đang được quan tâm. Chính vì lẽ
đó, mà trong bài viết này em xin trình bày về tình hình huy động vốn đầu tư
vào phát triển ngành Dầu khí ở Việt Nam, nhằm đánh giá một cách cụ thể hơn
các hoạt động đầu tư vào phát triển ngành Dầu khí Việt Nam, cũng như sự
SV: Trần Quốc Hùng 1 Kinh tế Đầu tư 47C
Đề án môn học
phát triển ngành Dầu khí nước ta giai đoạn hiện nay, để từ đó có những giải
Những kết quả đã đạt được ở trên đây, những kết quả là tài sản vật chất,
tài sản trí tuệ và nguồn nhân lực tăng thêm có vai trò quan trọng trong mọi
lúc, mọi nơi, đối với cả người bỏ vốn và nền kinh tế. Những kết quả này
không chỉ riêng người đầu tư mà cả nền kinh tế được hưởng.
Trong hoạt động đầu tư có bao gồm Đầu tư cho tài chính, Đầu tư thương
mại và Đầu tư cho phát triển. Đầu tư vào ngành dầu khí là hoạt động thuộc
thuộc lĩnh vực Đầu tư phát triển.
Đầu tư phát triển là hoạt động sử dụng các nguồn lực tài chính, nguồn
lực vật chất, nguồn lực lao động và trí tuệ để xây dựng, sửa chữa nhà cửa và
SV: Trần Quốc Hùng 3 Kinh tế Đầu tư 47C
Đề án môn học
kiến trúc hạ tầng, mua sắm trang thiết bị và lắp đặt chúng trên nền bệ và, bồi
dưỡng đào tạo nguồn nhân lực, thực hiện chi phí thường xuyên gắn liền với
hoạt động của các tài sản này nhăm duy trì tiềm lực hoạt động của các cơ sở
đang tồn tại và tạo tiềm lực mới cho nền kinh tế - xã hội,tạo ra việc làm và
nâng cao đời sống của mọi thành viên trong xã hội.
Đầu tư phát triển làm gian tăng tài sản cho nền kinh tế mà không phải là
sự chu chuyển giữa đơn vị này sang đơn vị kia của nền kinh tế.
1.1.1. Đặc điểm của đầu tư phát triển.
Khác với các hoạt động đầu tư khác, Đầu tư phát triển có đặc điểm sau:
Hoạt động Đầu tư phát triển đòi hỏi một khối lượng vốn lớn, vốn tồn
đọng, không vận động suốt quá trình thực hiện đầu tư. Đây chính là cái giá
khá lớn của Đầu tư phát triển.
Thời gian để tiến hành một công cuộc đầu tư cho đến khi các thành quả
của nó phát huy tác dụng thường đòi hỏi nhiều thời gian với nhiều biến động
xảy ra.
Thời gian cần huy động đòi hỏi để có thể thu hồi đủ vốn đã bỏ ra đối với
các cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ sản xuất kinh doanh thường là lớn và do
đó không tránh khỏi sự tác động hai mặt (tích cực và tiêu cực) của các yếu tố
không ổn định về tự nhiên, xã hội, chính trị, kinh tế …
và sản lượng bình quân mỗi lao động. Theo mô hình của Harrod-Domar, mức
tăng trưởng của nền kinh tế phụ thuộc trực tiếp vào mức gia tăng vốn đầu tư
thuần.
g =∆Y/Y =∆Y/y*∆K/∆K=∆Y/∆K*∆K/Y=1/ICOR*I/Y
=> ∆Y=1/ICOR*I
Trong đó: ∆Y: mức gia tăng sản lượng
SV: Trần Quốc Hùng 5 Kinh tế Đầu tư 47C
Đề án môn học
∆K: Mức gai tăng vốn đầu tư
I: Mức đầu tư thuần
K: Tổng quy mụ vốn của nền kinh tế
Y: Tổng sản lượng của nền kinh tế
ICOR: Là hệ số gia tăng vốn-sản lượng.
Mối quan hệ giữa đầu tư và tăng trưởng thể hiện cũng rất rõ trong tiến
trình đổi mới của nền kinh tế nước ta thời gian qua. Với chính sách đổi mới,
các nguồn vốn đầu tư cả trong nước và nước ngoài ngày càng được đa dạng
hoá và gia tăng về quy mô, tốc độ tăng truởng của nền kinh tế đạt được cũng
rất thoả đáng. Cuộc sống vật chất và tinh thần của đại bộ phận dân cư ngày
càng được cải thiện.
* Đầu tư vừa tác động đến tổng cung, vừa tác động đến tổng cầu:
Về mặt cung: Khi thành quả của đầu tư phát huy tác dụng, các năng lực
mới đi vào hoạt động thì tổng cung, đặc biệt là tổng cung dài hạn tăng lên
(đường S dịch chuyển sang đường S’), kéo theo sản lượng tiềm năng từ Q1
đến Q2 và do đó giá cả sản phẩm từ P1 đến P2. Sản lượng tăng, giá cả giảm,
cho phép tăng tiêu dùng. Tăng tiêu dùng đến lượt mình lại tiếp tục kích thích
sản xuất hơn nữa sản xuất phát triển là nguồn gốc cơ bản để tăng tích luỹ,
phát triển kinh tế - xã hội, tăng thu nhập cho người lao động, nâng cao đời
sống của mọi thành viên trong xã hội.
Về mặt cầu: Đầu tư là một yếu tố chiếm tỷ trọng lớn trong tổng cầu của
toàn bộ nền kinh tế. Theo số liệu của Ngân hàng thế giới, đầu tư thường
E
2
E
1
S
S’
E
0
Q
0
Q
1
Q2
P
0
P
2
P
1
Q
P
Đề án môn học
chương trình chuyển giao công nghệ trong đó nước nhận vốn cũng có thể là
điểm đến của một số công nghệ và phương thức dản xuất mới. Đối với chi
đầu tư của nhà nước cho nghiên cứu khoa học và phát triên công nghệ mới
mặc dù vẫn cũn nhỏ về quy mô, thấp về tỷ trọng (giai đoạn 2001-2005 là 7,6
nghìn tỷ đồng chiếm 0.9% vốn đầu tư toàn xã hội) nhưng ở đây cũng là một
trong những biểu hiện của đầu tư và ở mức độ nhận định nó cũng có tạo ra và
tăng cường năng lực khoa học công nghệ nước ta (đạt được những thành tựu
nhất định trong lĩnh vực nông nghiệp: giống mới, công nghệ ren…)
xưởng, cấu trúc hạ tầng, mua sắm và lắp đặt thiết bị máy móc trên nền bệ, tiến
hành các công tác xây dựng cơ bản và thực hiện các chi phí khác gắn với sự
hoạt động trong một chu kỳ của các cơ sở vật chất kỹ thuật vừa được tạo ra.
Các hoạt động này chính là hoạt động đầu tư.
Đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh phục vụ đang tồn tại, sau một thời
gian hoạt động, các cơ sở vật - chất kỹ thuật của các cơ sở này hao mòn, hư
hỏng. Để duy trì được sự hoạt động bình thường cần định kỳ tiến hành sửa
chữa lớn hoặc thay mới các cơ sở vật chất - kỹ thuật đã hư hỏng, hao mòn
hoặc đổi mới để thích ứng với điều kiện hoạt động mới của sự phát triển khoa
học kỹ thuật và nhu cầu tiêu dùng của nền sản xuất xã hội, mua sắm các thiết
bị mới thay thế cho các trang thiết bị cũ đã lỗi thời, cũng có nghĩa là phải đầu
tư.
* Đối với các cơ sở vô vị lợi, để duy trì sự hoạt động, ngoài tiến hành
sửa chữa lớn định kỳ, các cở sở vật chất - kỹ thuật còn phải thực hiện các chi
phí thường xuyên. Tất cả những hoạt động và chi phí này đều là những hoạt
động đầu tư.
Như vậy: Đầu tư có một vai trò vô cùng to lớn đối với toàn bộ sự phát
triển của một quốc gia. Muốn hoạt động đầu tư ta cần có vốn đầu tư. Vậy vốn
là gì? Vốn huy động từ đâu?
SV: Trần Quốc Hùng 9 Kinh tế Đầu tư 47C
Đề án môn học
1.2. Vốn và nguồn vốn.
1.2.1 Khái niệm về vốn.
Xét một phương diện tổng quát nguồn vốn đầu tư là thuật ngữ dùng để
chỉ các nguồn tập trung và phân phối vốn cho đầu tư kinh tế đáp ứng nhu cầu
chung của nhà nước và của xã hội. Nguồn vốn đầu tư bao gồm nguồn đầu tư
trong nước và nguồn đầu tư nước ngoài.
Nếu chỉ xét theo nguồn hình thành và mục tiêu sử dụng thì vốn đầu tư là
tiền tích luỹ của xã hội, của các cơ sở sản xuất kinh doanh phục vụ, là tiền tiết
kiệm của dân cư và vốn huy động từ các nguồn khác được đưa vào sử dụng
có vị trí quan trọng trong chính sách đầu tư của chính phủ. Hiện nay ở nước ta
chính phủ sử dụng vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước nhằm tập
trung hỗ trợ đầu tư cho những ngành, lĩnh vực hoặc sản phẩm quan trọng,
then chốt của nền kinh tế một cách có trọng tâm, trọng điểm; giảm sự bao cấp
và tách bạch tín dụng ngân sách và tín dụng thương mại trong lĩnh vực đầu tư
xây dựng cơ bản.
Nguồn vốn đầu tư từ doanh nghiệp Nhà nước là Nguồn vốn này được
xác định là thành phần giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, các doanh
nghiệp Nhà nước vẫn nắm giữ một khối lượng vốn Nhà nước khá lớn. Nguồn
vốn đầu tư từ doanh nghiệp Nhà nước được hình thành do ngân sách Nhà
nước cấp, từ lợi nhuận của doanh nghiệp (đầu tư mới), từ quỹ khấu hao của
doanh nghiệp đó (đầu tư thay thế), từ vốn vay (vay ngân hàng thương mại,
quỹ tín dụng đầu tư của cán bộ công nhân viên, từ cổ phần )…
* Nguồn vốn từ khu vực tư nhân
Nguồn vốn của khu vực tư nhân bao gồm phần tiết kiệm của dân cư,
phần tích luỹ của các doanh nghiệp dân doanh, các hợp tác xã và lượng kiều
hối.
SV: Trần Quốc Hùng 11 Kinh tế Đầu tư 47C
Đề án môn học
Tiết kiệm của dân cư được hình thành từ phần còn lại trong thu nhập của
dân cư, sau khi đó đóng góp nghĩa vụ với Nhà nước (nếu có) và đảm bảo tiêu
dùng cho nhu cầu thiết yếu của bản thân và gia đình họ. Phạm vi thu nhập của
dân cư bao gồm: thu nhập từ kết quả lao động, từ sản xuất và kinh doanh dịch
vụ của bản thân dân cư và gia đình họ, kể cả xí nghiệp gia đình cú quy mô
nhỏ (không phải là công ty); thu nhập do người thân từ nước ngoài gửi về; thu
nhập do thừa kế; thu nhập được hình thành từ những cơ hội may mắn bất ngờ.
Tiết kiệm khu vực dân cư là một bộ phận quan trọng của tiết kiệm trong nước,
đóng góp vai trũ chủ yếu trong việc hỡnh thành vốn đầu tư của các quốc gia,
đây là một bộ phận lớn, chiếm tỷ trọng ngày càng tăng.
Tích luỹ của các doanh nghiệp dân doanh là nguồn vốn bao gồm vốn chủ
25% tổng vốn ODA, thường là hỗ trợ kĩ thuật, chủ yếu là chuyển giao công
nghệ, kiến thức, kinh nghiệm thông qua các hoạt động của chuyên gia quốc
tế. Đôi khi viện trợ này lại là viện trợ nhân đạo như lương thực, thuốc men
hoặc các loại hàng hoá khác nên chúng rất khó huy động vào mục đích đầu
tư phát triển. Nhưng bên cạnh đó các khoản viện trợ này thường kèm theo
một số điều kiện về tiếp nhận, về đơn giá
- Viện trợ có hoàn lại: thực chất là cho vay ưu đãi với điều kiện “mềm”
có thể sử dụng cho mục tiêu đầu tư phát triển. Tính chất ưu đãi thể hiện ở khía
cạnh đó là: lãi suất thấp, thời hạn cho vay dài. Nhật Bản cho Việt Nam vay
trong thời gian là 30 năm, Ngân hàng thế giới là 40 năm; thời gian ân hạn từ
khi vay đến khi trả vốn gốc đầu tiên khá dài, khoảng từ 5-10 năm trở lên,
Nhật Bản ân hạn là 10 năm.
- Viện trợ hỗn hợp: bao gồm phần cấp không và phần còn lại thực hiện
theo hình thức vay tín dụng ( có thể ưu đãi hoặc bình thường ).
SV: Trần Quốc Hùng 13 Kinh tế Đầu tư 47C
Đề án môn học
* Đặc điểm của nguồn vốn ODA.
- ODA là nguồn vốn tài trợ ưu đãi của nước ngoài mà các nhà tài trợ
không trực tiếp điều hành dự án nhưng có thể gián tiếp tham gia dưới hình
thức nhà thầu hoặc chuyên gia. Danh mục các dự án ODA phải có sự thoả
thuận với nhà tài trợ.
- ODA gồm: viện trợ không hoàn lại và viện trợ có ưu đãi nhưng nếu
quản lý và sử dụng kém hiệu quả thì nó sẽ là gánh nặng nợ trong tương lai.
- Các nước nhận viện trợ ODA phải có đủ 1 số điều kiện nhất định thì
mới được nhận viện trợ. Điều này tuỳ thuộc vào quy định của từng nhà tài trợ.
Ví dụ: để nhận tài trợ ưu đãi của IMF nước chủ nhà phải có cổ phần đóng góp
vào IMF và số tiền vay sẽ phụ thuộc vốn cổ phần.
- Chủ yếu dành hỗ trợ cho dự án đầu tư vào cơ sở hạ tầng như: giao
thông vận tải, y tế giáo dục…
- Các nhà tài trợ là các tổ chức viện trợ là các tổ chức viện trợ đa phương
2005 của Diễn đàn Thương mại và Phát triển Liên hợp quốc (UNCTAD) thu
hút đầu tư nước ngoài (FDI) của các nước đang phát triển đã lên tới 233 tỷ
USD, tăng 40% so với năm 2003. Lượng FDI đổ vào các nước phát triển lại
giảm 14%, chỉ còn 380 tỷ USD. Tuy nhiên Mỹ vẫn là nước nhận được FDI
nhiều nhất thế giới, sau đó là Anh. Thu hút FDI ở châu Á và châu Đại Dương
đó đạt được 148 tỷ USD trong năm 2004, cao hơn 46 tỷ USD so với năm
2003 và trở thành nơi tiếp nhận nhiều FDI nhất trong các khu vực đang phát
triển. Trung Quốc một lần nữa là nước tiếp nhận nhiều FDI nhất so với các
quốc gia trong khu vực châu Á. Lượng FDI vào nước này trong năm ngoái đó
đạt con số kỷ lục mới là 60,6 tỷ USD. Lượng FDI đổ vào khu vực Đông Nam
Á cũng tiếp tục tăng, từ 17 tỷ USD năm 2003 lên 26 tỷ USD năm 2004.
SV: Trần Quốc Hùng 15 Kinh tế Đầu tư 47C
Đề án môn học
* Đặc điểm của nguồn vốn FDI.
- Việc tiếp nhận nguồn vốn này không phát sinh nợ cho các nước tiếp
nhận.
- Khi đầu tư vào một nước nào đó, chủ đầu tư không chỉ chuyển giao vào
nước đó vốn bằng tiền mà còn chuyển giao cả vốn hiện vật như máy móc,
thiết bị, nguyên vật liệu (công nghệ cứng) và vốn vô hình như chuyên gia kĩ
thuật - công nghệ, tri thức khoa học, bí quyết quản lý, năng lực tiếp cận thị
trường (công nghệ mềm)
- Nâng cao trình độ nguồn nhân lực, giải quyết công ăn việc làm cho
người lao động vào các nước tiếp nhận.
1.2.2.2.4. Thị trường vốn quốc tế.
Trái phiếu quốc tế: là trái phiếu phát hành bằng đồng tiền không phải là
đồng tiền Nhà nước, có nhà phát hành để vay vốn các nhà đầu tư nước ngoài.
Việc phát hành các trái phiếu chính phủ ra thị trường vốn quốc tế của các
quốc gia nhằm huy động vốn cho đầu tư phát triển hoặc bù đắp thiếu hụt về
cán cân thương mại quốc tế. Trái phiếu chính phủ cho phép các quốc gia huy
động vốn với khối lượng lớn, kỳ hạn dài. Ưu điểm của trái phiếu quốc tế cũng
DN nhà nước 17% 16.8% 13.9% 14.8% 15.3% 15.2%
Vốn ngoài quốc
doanh
25% 27.2% 29.7% 31.8% 33% 32.4%
Vốn FDI 17.6% 17.3% 16.3% 16.1% 16.3% 15.4%
Vốn khác - - 3.9% 3.6% 4.3% 5.4%
SV: Trần Quốc Hùng 17 Kinh tế Đầu tư 47C
Đề án môn học
Vốn đầu tư của khu vực kinh tế Nhà nước phân theo nguồn vốn
Tổng số
Chia ra
Vốn ngân
sách Nhà
nước
Vốn vay
Vốn của các
doanh nghiệp Nhà
nước và nguồn
vốn khác
Giá thực tế Tỷ đồng
1995 30447 13575 6064 10808
1996 42894 19544 8280 15070
1997 53570 23570 12700 17300
1998 65034 26300 18400 20334
1999 76958 31763 24693 20502
2000 89417 39006 27774 22637
2001 101973 45594 28723 27656
2002 114738 50210 34937 29591
2003 126558 56992 38988 30578
2004 139831 69207 35634 34990
cách khác, đối với ngành dầu mỏ càng khai thác được nhiều thì ngày càng khó
khai thác. Một vấn đề nữa của ngành dầu khí là công nghệ rất hiện đại, vốn
đầu tư cực kỳ lớn, rủi ro cao, lợi nhuận nhiều và tính quốc tế cao. Vì các đặc
điểm đó mà cho đến giữa thế kỷ 20, ngành này hoàn toàn nằm trong tay các
nước phát triển cao, cùng các tập đoàn siêu quốc gia mang tính độc quyền.
Cho nên các quốc gia đang phát triển dù có một tiềm năng lớn về tài nguyên
dầu khí thì vấn đề phát triển dầu khí vẫn còn khó khăn.
SV: Trần Quốc Hùng 19 Kinh tế Đầu tư 47C
Đề án môn học
2.2. Sự cần thiết phải huy động vốn đầu tư vào ngành dầu khí ở Việt Nam.
Từ nhiều năm nay dầu khí là một trong những ngành đầu tư hấp dẫn
nhất. Kim ngạch xuất khẩu dầu khí chiếm tỷ lệ đáng kể và đóng góp quan
trọng đối với nền kinh tế nước. Trong lĩnh vực thăm dò và khai thác dầu khí,
đặc biệt là trong môi trường thềm lục địa và tiềm năng dầu khí của Việt Nam,
cơ hội đầu tư có nhiều nhưng vốn đầu tư có hạn. Vì vậy vấn đề huy động vốn
đầu tư vào phát triển ngành dầu khí không những phục vụ cho lĩnh vực thăm
dò khai thác dầu thô, mà điều quan trọng nữa là chúng ta cần vốn để trang bị
công nghệ, kiến thức tơi tinh lọc dầu. Khi đó mới hy vọng đất nước đi theo
con đường CNH - HDH mà ngành dầu khí là ngành dẫn đầu.
Nếu đặt nền kinh tế Việt Nam trong quỹ đạo kinh tế thế giới: ta thấy hiện
nay năng lượng và nhiên liệu luôn được coi là đầu tàu cho sự phát triển kinh
tế - xã hội, vậy mà vẫn chưa tìm ra một năng lượng, nhiên liệu nào thay thế
than, dầu khí. Theo các chuyên gia của OPEC, nhu cầu tiêu thụ dầu của thế
giới trong 20 năm nữa sẽ tăng lên khoảng hơn 113 triệu thùng/ngày, số lượng
xăng dầu sử dụng tăng rất nhiều so với hiện nay. Các chuyên gia dự tính năm
nay, thế giới sẽ tiêu thụ bình quân khoảng gần 87 triệu thùng/ngày. Theo nhận
định của các chuyên gia, trong những năm tới, các nước đang phát triển sẽ
tiêu thụ xăng dầu nhiều hơn so với các nước phát triển. Lượng tiêu thụ dầu
mỏ của thế giới tăng từ 83 triệu thùng/ngày năm 2004, lên 84.9 triệu thùng
/ngày năm 2006, 85.7 triệu thùng ngày năm 2007.
Tổng công ty thăm dò khai thác Dầu
khí (PVEP)
Tổng công ty cổ phần Vận tải Dầu
khí (PV Trans)
Tổng công ty Điện lực Dầu khí Việt
Nam (PVPC)
Tổng công ty cổ phần khoan và dịch
vụ khoan dầu khí (PV Drilling)
Tổng công ty cổ phần dịch vụ tổng
hợp dầu khí ( PETROSETCO)
Tổng công ty khí Việt Nam (PV
GAS)
Tổng công ty TNHH một thành viên
Thương mại Dầu khí(PETECHIM
CORP)
Công ty cổ phần bất động sản Dầu
khí (PETROWACO)
Công ty Cổ phần Chế tạo giàn khoan
Dầu khí (PVSHIPYARD)
Công ty cổ phần Chứng khoán Dầu
Khí (PV Securieties)
Công ty cổ phần Dầu khí Tản Viên
(PVT)
Công ty cổ phần đầu tư Dầu khí Sao
Mai - Bến Đình (PVSB)
Công ty Cổ phần Đầu tư hạ tầng và Đô
thi Dầu Khí (Petroland)
Công ty cổ phần đầu tư khu CN DK
- IDICO Long Sơn - (PIV - Long
Son J.S.C)
Nghệ An (PVNC)
Công ty cổ phần xây lắp dầu khí (PV
Construction)
Công ty du lịch dầu khí Phương
Đông (PTC)
Công ty nhựa và hoá chất Phú Mỹ
(PMPC)
Công ty TNHH 1 thành viên Quản lý
và Khai thác tài sản Dầu (PVA)
Công ty TNHH dầu khí Mê Kông
(PETROMEKONG)
Công ty TNHH một thành viên Chế
biến và Kinh doanh sản phẩm dầu
mỏ(PDC Co Ltd)
Công ty TNHH một thành viên Cung
ứng Nhân lực và Dịch vụ Dầu Khí
(PETROMANNING)
Công ty TNHH một thành viên điện
lực Dầu khí Cà Mau (PVCMPC)
Viện Dầu Khí Việt Nam (VPI)
Công ty Cổ phần Điện lực Dầu khí
Nhơn Trạch 2 (PVNT2)
Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển
Chế biến Dầu khí (PVPro)
Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển
An toàn và Môi trường Dầu Khí
(RDCPSE)
Trung tâm thông tin tư liệu Dầu khí
(PIC)
Trung tâm Công nghệ thông tin,
(PVTC)
Ban trù bị thành lập Ngân hàng thương
mại cổ Dầu khí (PV-Bank)
Một thực tế là Việt Nam có một tiềm năng dầu khí không phải là nhỏ.
Cùng với việc công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, ngành dầu khí Việt
Nam cũng từng bước phát triển. Từ chỗ phải nhập từng lít dầu hoả để thắp
đèn, sau 34 năm thành lập, Tập đoàn dầu khí Việt Nam đã đưa ngành công
nghiệp dầu khí Việt Nam phát triển tương xứng với tiềm năng của nó.
Ta xem xét tình hình phát triển của ngành dầu khí Việt Nam trong những
năm qua:
“Ở hoạt động tìm kiếm thăm dò” với phương châm chủ yếu là phát
huy nội lực, kết hợp tăng cường hợp tác quốc tế, thu hút đầu tư về khoa học
và công nghệ của nước ngoài. Với mục tiêu xác định tiềm năng và gia tăng
trữ lượng dầu khí, phát hiện thêm nhiều mỏ mới, đảm bảo nhu cầu về sản
lượng dầu khí cho đất nước, Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam đã không
ngừng mở rộng khu vực tìm kiếm, thăm dò thông qua các hợp đồng phân chia
sản phẩm, hợp đồng liên doanh, hợp đồng điều hành chung hoạt động tự đầu
tư, tự điều hành tìm kiếm thăm dò, có nhiều phát hiện quan trọng, đưa nhanh
các mỏ đã được phát hiện vào khai thác và áp dụng các công nghệ tiên tiến để
nâng cao sản lượng, tăng hệ số thu hồi dầu khí, bảo vệ môi trường tài nguyên.
Kết quả công tác tìm kiếm thăm dò cho đến nay đã xác định được bể trầm tích
Đệ Tam có triển vọng dầu khí: Sông Hồng, Phú Khánh, Cửu Long, Nam Côn
Sơn, Malay - Thổ Chu, Tư Chính – Vũng Mây, nhóm bể Trường Sa và Hoàng
Sa, trong đó các bể Cửu Long, Nam Côn Sơn, Malay - Thổ Chu và Sông
Hồng gồm cả đất liền (miền võng Hà Nội) đã phát hiện và đang khai thác dầu
khí. Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam đã tiến hành khảo sát trên 300
SV: Trần Quốc Hùng 24 Kinh tế Đầu tư 47C
Đề án môn học
nghìn km tuyến địa chấn 2D, gần 40 nghìn km2 địa chấn 3D, khoan 600 giếng
tìm kiếm, thăm dò, thẩm lượng và khai thác với tổng số mét khoan trên 2.0