Nghiên cứu Y học
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 8 * Phụ bản của Số 1 * 2004
PHÂN TÍCH ĐẶC ĐIỂM BẢN ĐỒ GIÁC MẠC BÌNH THƯỜNG
Ở NGƯỜI TRƯỞNG THÀNH TẠI BỆNH VIỆN MẮT TPHCM
Phạm Nguyên Huân *, Lê Minh Thông *
TÓM TẮT
Mục tiêu : Phân tích các dữ liệu có được từ máy đo bản đồ giác mạc ORBSCAN II trên giác mạc bình
thường ở người trưởng thành 18-40 tuổi bằng cách phân tích bản đồ giác mạc theo độ chênh ở mặt trước và
mặt sau giác mạc, bản đồ theo độ cong trục mặt trước giác mạc
Đối tượng và phương pháp: Phân tích tiền cứu cắt ngang được thực hiện trên 476 mắt (282 cá thể)
bằng cách đo bản đồ giác mạc với máy Orbscan II. Bản đồ độ chênh thẳng góc mặt trước và mặt sau giác
mạc được phân loại thành kiểu bờ đều, bờ không đều, bờ không hoàn toàn, kiểu đảo và kiểu không xác đònh.
Độ cong theo trục được phân thành 5 nhóm: tròn, bầu dục, nơ đối xứng, nơ không đối xứng và kiểu không
xác đònh.
Kết quả : Độ cầu tương đương trung bình là –2.29
±
1.38 D. Trò số K mô phỏng là 44.39
±
1.50 và
43.42
±
1.42 D. Có sự tương quan kém giữa độ cầu tương đương và công suất giác mạc vùng 3mm, 5mm, và
7mm. Từ trung tâm ra ngoại vi, công suất giác mạc giảm dần và tính không đều của giác mạc tăng dần ở cả
mặt trước và mặt sau giác mạc Trong bản đồ độ chênh mặt trước, kiểu đảo chiếm đa số (42.7%), kế đến là
kiểu bờ không hoàn toàn (38.2%), bờ đều (12.8%), bờ không đều (3.6%) và kiểu không xác đònh (2.7%).
Trong bản đồ độ chênh mặt sau kiểu đảo cũng chiếm đa số (53.3%) kế đến là kiểu bờ không hoàn toàn (32.8
%), bờ không đều (9.7%), bờ đều (2.5%) và kiểu không xác đònh (1.7%). Kiểu nơ không đối xứng chiếm tỷ lệ
cao nhất (33%) trong các bản đồ độ cong theo trục, sau đó là kiểu nơ đối xứng (24.6%), bầu dục (18.1%),
tròn (15.5%), và không xác đònh (8.8%)
Kết luận : Kết quả về độ chênh và độ cong giác mạc từ máy Orbscan ở giác mạc bình thường người
(2.7%). Island(53.3%) was the most common topographic pattern in the posterior corneal surface, following
by incomplete ridge (32.8 %), irregular ridge(9.7%), regular ridge(2.5%) and unclassified pattern (1.7%).
Asymmetric bow-tie pattern was the most common axial power pattern in the anterior cornea (33%).
Followed by symmetric bow-tie(24.6%), oval (18.1%), round (15.5%), and irregular pattern(8.8%)
Conclusions: The information on corneal elevation and axial corneal curvature obtained with the
Orbscan corneal topography system from normal corneas provides a reference for comparision with disease
corneas.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Các phương pháp đo đạc hình dạng, công suất
giác mạc đóng vai trò rất quan trọng trong phẫu thuật
khúc xạ, cũng như trong nghiên cứu, chẩn đoán một
số bệnh lý giác mạc. Những máy móc hiện có chủ
yếu đo được mặt trước giác mạc, chiếm phần lớn
công suất giác mạc, tuy nhiên, mặt sau giác mạc
cũng là một thành phần trong các bề mặt quang học
của nhãn cầu, đóng vai trò quan trọng trong một số
trường hợp bệnh lý. Máy đo bản đồ giác mạc Orbscan
là một công cụ có thể đánh giá mặt trước lẫn mặt sau
giác mạc, vì thế nó giúp ta hiểu thêm về cấu trúc và
chức năng của giác mạc một cách chính xác hơn.
Chúng tôi tiến hành đề tài này nhằm mục đích khảo
sát những thông số bình thường của mặt trước lẫn
mặt sau giác mạc.
ĐỐI TƯNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
Đối tượng
Bệnh nhân tới khám tại Khoa Lasik – Bệnh viện
Mắt TP. HCM gồm 282 người trưởng thành (114 nam
và 168 nữ) (476 mắt – 229 mắt phải và 247 mắt trái)
Với tiêu chuẩn:
5
(1990) với
thang màu chuẩn hoá như trong nghiên cứu của
Pflugfelder
6
với bước màu là 1.5 D. Bao gồm các kiểu:
Tròn, bầu dục, hình nơ đối xứng, nơ không đối xứng,
và kiểu không xác đònh.
Xử lý số liệu
Dữ liệu được thu thập và xử lý bằng phần mềm
SPSS 10.0.
Chuyên đề Tai Mũi Họng – Mắt
146
Nghiên cứu Y học
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 8 * Phụ bản của Số 1 * 2004
KẾT QUẢ
Bảng 1: Đặc điểm mẫu nghiên cứu
Đặc điểm TB - ĐLC
Tuổi (n = 282) 26.59 ± 6.73
Độ cầu tương đương (n=476) -2.29 ± 1.38
Sim K1 44.39 ± 1.50
Sim K2 43.42 ± 1.42
Bảng 2: Các chỉ số thu thập từ máy
n = 476
Vùng
3mm
TB (ĐLC)
Vùng
5mm
-6.20
(0.21)
Kết hợp 2 mặt
Chỉ số không đều 1.20
(0.54)
1.51
(0.53)
2.16 (0.68)
CS Trung bình 43.88
(1.42)
43.53
(1.36)
43.13
(1.36)
Có sự tương quan kém giữa độ cầu tương
đương và công suất trung bình giác mạc ở vùng 3,
5, 7 mm
Có sự gia tăng chỉ số không đều và giảm công
suất trung bình giác mạc ở mặt trước lẫn mặt sau
từ trung tâm ra ngoại vi. Sự khác biệt này là có ý
nghóa thống kê (p< 0.05). Điều này chứng tỏ giác
mạc bình thương có hình dạng lồi (prolate).
So sánh các chỉ số không đều và công suất
trung bình giữa mắt phải và mắt trái của những cá
thể được tiến hành đo cả 2 mắt thấy không có
khác biệt (p > 0.05) và độ chênh lệch công suất
trung bình giữa 2 mắt không quá 1.2 D
Bảng 3: Độ khác biệt về công suất giữa mắt trái và
mắt phải
n
g
47 100.0 476 100.0
Kiểu đảo là kiểu chiếm tỷ lệ cao nhất. Ở những cá
thể tiến hành đo bản đồ của 2 mắt, chúng tôi thấy sự
phân bố theo bản đồ độ chênh giữa mặt trước và mặt
sau là độc lập với nhau (p <0.05) có nghóa là một
người có bản đồ độ chênh mặt trước là kiểu đảo
không nhất thiết bản đồ độ chênh mặt sau phải là
kiểu đảo hay một kiểu nhất đònh nào đó. Kiểu đảo
cũng là kiểu đặc trưng cho một giác mạc có dạng lồi
(prolate) các kiểu bờ đều, bờ không đều, bờ không
hoàn toàn cũng phản ánh một phần của dạng lồi này.
Bảng 5: Phân bố bản đồ giác mạc theo độ cong
Mặt trước GM
Kiểu phân loại
N %
Kiểu tròn 74 15.5
Kiểu bầu dục 86 18.1
Kiểu nơ đối xứng 117 24.6
Kiểu nơ không đối xứng 157 33.0
Kiểu không phân loại 42 8.8
Tổng cộng 476 100.0
Bản đồ giác mạc kiểu nơ không đối xứng chiếm
tỷ lệ cao nhất. Và kết quả này tương tự như kết quả
của các tác giả trước đó như Bogan, Pflugfelder, và
đặc biệt là Kanpolat tiến hành nghiên cứu trên 114
mắt chính thò hoàn toàn, tác giả hy vọng kiểu tròn và
bầu dục sẽ chiếm tỷ lệ cao hơn, nhưng kết quả vẫn
cho thấy kiểu nơ đối xứng và không đối xứng chiếm
Kiểu bờ không đều 2 3.6 2 3.6
Kiểu bờ không hoàn toàn 25 45.5 19 34.6
Kiểu đảo 23 41.8 31 56.4
Kiểu không phân loại 0 0.0 2 3.6
Bảng 7: Phân bố theo bản đồ độ cong của hai phân
nhóm
Mặt trước GM
Kiểu phân loại
N %
Không chính thò (n= 421)
Kiểu tròn 68 16.2
Kiểu bầu dục 75 17.8
Kiểu nơ đối xứng 107 25.4
Kiểu nơ không đối xứng 137 32.5
Kiểu không phân loại 34 8.1
Chính thò (n= 55)
Kiểu tròn 6 10.9
Kiểu bầu dục 11 20.0
Kiểu nơ đối xứng 10 18.2
Kiểu nơ không đối xứng 20 36.4
Kiểu không phân loại 8 14.5
Sự phân bố bản đồ giác mạc theo các phân loại
không phụ thuộc vào độ khúc xạ của nhãn cầu. Điều
này phù hợp với các nghiên cứu cho rằng độ khúc xạ
của nhãn cầu phụ thuộc vào nhiều yếu tố : độ cong
giác mạc, độ sâu tiền phòng, độ cong của thủy tinh
thể và chiều dài trục nhãn cầu, các yếu tố này tương
tác lẫn nhau.
KẾT LUẬN
Có nhiều phương pháp đánh giá giác mạc một
4. Bogan SJ, Waring GO – Classification of normal
corneal topography based on computer-assisted
videokeratography – Archives of Ophthalmology 1990;
108:945-949
5. Z Liu, AJ Huang, SC Pflugfelder – Evaluation of
corneal thickness and topography in normal eyes
using the Orbscan corneal topography system. -
British Journal of Ophthalmology 1999; 83:774-778
6. Wilson SE, Klyce SD - Standardized color – coded
scales for corneal topography – Ophthalmology 1993;
100: 1723-1727
7. Lucio Buratto – The clinical atlas of corneal
topography – SLACK Incorporated – 1996
Chuyên đề Tai Mũi Họng – Mắt
148
Nghiên cứu Y học
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 8 * Phụ bản của Số 1 * 2004
8. Kanpolat Ayfer – The evaluation of normal corneal
topography in emmetropic eyes with Computer –
assisted Videokeratography – The CLAO Journal 1997
; 23 : 168 –171
10. ORBSCAN presentations – CD ROM 2000 – Bausch &
Lomb
11. Yaron S. Rabinowitz – Corneal Topography : Optics
and Clinical application – Duane’s Clinical
Ophthalmology - Lippincott-Raven Publishers – 1997
9. Rabinowitz YS – Videokeratography database of
normal human corneas – British Journal of
Ophthalmology 1996; 80: 610 – 616