TCNCYH 25 (5) - 2003
Nghiên cứu đặc Điểm nhiệt độ 12 cặp huyệt nguyên
ở NGƯời tRƯởng Thành
Nguyễn Thị Vân Anh
1
, Phạm Thị Minh Đức
2
,
Hoàng Bảo Châu
1
1
Khoa Y học cổ truyền,
2
Bộ môn Sinh lý học
Trờng Đại học Y Hà Nội
Chọn ngẫu nhiên 120 đối tợng khoẻ mạnh và chia làm hai nhóm, 60 đối tợng ở lứa tuổi 20 -
25 (30 nam, 30 nữ); 60 đối tợng ở lứa tuổi 50 - 67 (30 nam, 30 nữ) để nghiên cứu về nhiệt độ 12
cặp huyệt Nguyên. Kết quả cho thấy: nhiệt độ 12 cặp huyệt Nguyên giữa bên phải và bên trái cơ
thể không có sự khác biệt (p > 0,05) ở cả hai nhóm tuổi và cả hai giới. ở giới nữ, nhóm tuổi 20 - 25
nhiệt độ 12 cặp huyệt Nguyên ở nửa sau chu kỳ kinh nguyệt cao hơn hẳn so với nửa trớc chu kỳ
kinh nguyệt (p < 0,01; 0,001). Cùng lứa tuổi, nhiệt độ 12 cặp huyệt Nguyên của nam cao hơn nữ,
đặc biệt ở lứa tuổi 50 - 67 (p < 0,001). Cùng giới, nhiệt độ 12 cặp huyệt Nguyên ở lứa tuổi 50 - 67
thấp hơn so với lứa tuổi 20 - 25, sự khác biệt này đặc biệt rõ rệt ở nữ (p < 0,001).
I. đặt vấn đề
Châm cứu, một phơng pháp chữa bệnh
không dùng thuốc của Y học cổ truyền đã
chứng tỏ là một trong những phơng pháp có
hiệu quả. Tuy nhiên, cho đến nay, bản chất
não Nhật Bản [6]. Tuy vậy, 3 công trình này
mới chỉ đề cập đến một vài đặc điểm hoặc mới
chỉ nghiên cứu trên trẻ nhỏ.
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi tiến
hành đề tài này nhằm mục tiêu:
1. So sánh nhiệt độ 12 cặp huyệt Nguyên
của bên phải và trái cơ thể.
2. Khảo sát nhiệt độ 12 cặp huyệt Nguyên
của phụ nữ trởng thành theo giai đoạn của
chu kỳ kinh nguyệt.
3. Mô tả nhiệt độ 12 cặp huyệt Nguyên theo
tuổi và giới
II. Đối tợng và phơng pháp
nghiên cứu
1. Đối tợng nghiên cứu:
Chia hai nhóm:
- Nhóm 1: Gồm có 60 đối tợng tuổi từ 20-
25 khoẻ mạnh, bình thờng, không mắc các
bệnh cấp tính.
39
TCNCYH 25 (5) - 2003
+ 30 đối tợng nam , đợc đo nhiệt độ 1 lần
+ 30 đối tợng nữ, đợc đo nhiệt độ 2 lần:
Lần1 vào ngày thứ 5 - 10 của chu kỳ kinh nguyệt
Lần2 vào ngày thứ 20- 22 của chu kỳ kinh nguyệt
- Nhóm 2: Gồm 60 đối tợng tuổi từ 50 - 67
khoẻ mạnh bình thờng, không mắc các bệnh
cấp tính.
+ 30 đối tợng nam
+ 30 đối tợng nữ đã mãn kinh
5. Xử lý số liệu
Các số liệu đợc xử lý theo phơng pháp
thống kê y sinh học với t - test ghép cặp bằng
chơng trình Epi Infor 6.0.
III. Kết quả
1. Nhiệt độ 12 cặp huyệt Nguyên ở bên
phải và bên trái cơ thể
Bảng 1: So sánh nhiệt độ (
o
C) giữa bên phải và bên trái của 12 cặp huyệt Nguyên
của Nhóm 1 (tuổi 20 -25)
Nữ (n = 30) Nam (n = 30)
TT Tên huyệt
Phải Trái
p
Phải Trái
p
1 Hợp cốc
32,19 0,29 32,20 0,31
> 0,05
32,26 0,65 32,25 0,63
> 0,05
2 Dơng trì
32,21 0,31 32,20 0,30
> 0,05
32,28 0,65 32,27 0,63
> 0,05
3 Uyển cốt
32,21 0,29 32,10 0,30
> 0,05
9 Kinh cốt
30,21 0,82 31,23 0,81
> 0,05
30,87 0,80 30,88 0,80
> 0,05
10 Thái bạch
30,35 0,77 30,36 0,75
> 0,05
30,98 0,83 30,96 0,85
> 0,05
11 Thái xung
31,92 0,63 31,91 0,63
> 0,05
31,35
0,60 31,34 0,60
> 0,05
12 Thái khê
31,04 0,69 31,05 0,68
> 0,05
31,45 0,60 31,46
0,61
> 0,05
40
TCNCYH 25 (5) - 2003
Từ bảng 1 ta có nhận xét: Nhiệt độ của 12 cặp huyệt Nguyên giữa bên phải và bên trái không có
sự khác biệt có ý nghĩa (p > 0,05) ở nam và nữ nhóm 1, và khi xét đến nhóm 2 cũng có kết quả tơng
tự. Do vậy ta có thể lấy kết quả chung của cả hai phía để so sánh giữa các nhóm nghiên cứu.
9 Kinh cốt
30,24 0,82 30,80 0,59
< 0,01
10 Thái bạch
30,35 0,75 30,84 0,58
< 0,01
11 Thái xung
30,92 0,63 31,39 0,40
< 0,01
12 Thái khê
31,05 0,69 31,65 0,43
< 0,01
Bảng 2 cho thấy, ở lứa tuổi 21-25, nhiệt độ của 12 cặp huyệt Nguyên ở nửa sau chu kỳ kinh
nguyệt cao hơn hẳn nửa trớc chu kỳ kinh nguyệt (p < 0,001-0,01).
3. Nhiệt độ 12 cặp huyệt Nguyên theo tuổi và giới
Bảng 3: Nhiệt độ 12 cặp huyệt Nguyên của tất cả các nhóm (
o
C)
Nhóm 1 (20 - 25 tuổi) Nhóm 2 (50 - 67 tuổi)
TT
Tên huyệt
Nữ trớc ckkn
(n = 30) (1)
Nữ sau ckkn
(n = 30) (2)
Nam
(n = 30) (3)
Nữ
(n = 30) (4)
31,05 0,69 31,65 0,43 31,46 0,61 30,38 0,54 30,96
0,50 41
TCNCYH 25 (5) - 2003
Cùng lứa tuổi: p
1-2
< 0,001- 0,01
p
4-5
< 0,001
p
1-3
(6 huyệt tay) > 0,05
p
1-3
(6 huyệt chân) < 0,05
Cùng giới: p
1-4
< 0,001
p
2-4
< 0,001
p
3-5
(6 huyệt tay) > 0,05
p
3-5
2. Đặc điểm về nhiệt độ 12 cặp huyệt
Nguyên trong chu kỳ kinh nguyệt
Qua kết quả ở bảng 2, chúng tôi nhận thấy
ở lứa tuổi 21-25, nhiệt độ 12 cặp huyệt Nguyên
ở nửa sau chu kỳ kinh nguyệt cao hơn hẳn nửa
trớc chu kỳ kinh nguyệt (p < 0,01; 0,001).
Theo Y học cổ truyền, phụ nữ ở nửa trớc
và sau chu kỳ kinh nguyệt có khác nhau. ở nửa
sau chu kỳ kinh nguyệt, thận khí thịnh, thiên
quý đến, khí huyết sung mãn trong các đờng
kinh, đặc biệt là khí dơng [2, 9] nên nhiệt độ
của 12 cặp huyệt Nguyên ở thời kỳ này cao
hơn so với nửa trớc chu kỳ kinh nguyệt.
Theo Y học hiện đại, nửa sau chu kỳ kinh
nguyệt do có tác dụng của progesteron làm
tăng chuyển hoá, nên thân nhiệt của ngời phụ
nữ tăng hơn so với nửa trớc chu kỳ kinh
nguyệt khoảng 0,3- 0,5
0
C. Trên thực tế ngời
ta đã ứng dụng hiểu biết này để xác định ngày
phóng noãn dựa trên phép đo thân nhiệt [4].
Kết quả một lần nữa đã cho thấy, huyệt là nơi
phản ánh các hoạt động chức năng của cơ thể
trong đó có hoạt động chuyển hoá.
3. Đặc điểm về nhiệt độ 12 cặp huyệt
Nguyên theo giới và tuổi
Qua bảng 3 chúng tôi nhận thấy, cùng giới,
nhiệt độ 12 cặp huyệt Nguyên lứa tuổi 50-67
thấp hơn so với lứa tuổi 20-25, sự khác biệt này
Theo Y học hiện đại, thân nhiệt là kết quả
của quá trình chuyển hoá trong cơ thể. Có
nhiều yếu tố ảnh hởng đến chuyển hoá nh
tuổi, giới, dinh dỡng, lao động, luyện tập, vai
trò của hoạt động nội tiết, bệnh tật, trong đó
tuổi, giới, bệnh tật là những yếu tố ảnh hởng
rõ rệt đến chuyển hoá cơ sở. Cùng tuổi thì
chuyển hoá cơ sở của nam cao hơn nữ, do tác
dụng tăng chuyển hoá của testosteron mạnh
hơn các hormon sinh dục nữ. Cùng giới chuyển
hoá cơ sở giảm dần theo tuổi. Kết quả của
chúng tôi hoàn toàn phù hợp với các kiến thức
kinh điển [3].
Khác với kết quả của Vũ Hữu Lợi khi nghiên
cứu trên trẻ ở lứa tuổi 3 đến 10. ở lứa tuổi này,
nhiệt độ 12 cặp huyệt Nguyên của nam và nữ
không có sự khác biệt (p>0,05). Điều này có
thể lý giải là ở trẻ nhỏ cha chịu ảnh hởng của
các hormon sinh dục, do vậy không thấy có sự
khác biệt về nhiệt độ giữa hai giới.
Cùng với kết quả nghiên cứu về đặc điểm
huyệt của các tác giả khác [5, 8, 11], kết quả
nghiên cứu về nhiệt dộ của 12 cặp huyệt
Nguyên một lần nữa cho thấy: huyệt là một cấu
trúc đặc biệt vừa phản ánh các hoạt động chức
năng của cơ thể, vừa có liên hệ với các cơ
quan trong cơ thể. Do vậy, khi tác động vào
huyệt có thể dẫn tới những thay đổi hoạt động
chức năng của cơ thể.
V. Kết luận
(2000), Châm cứu học Trung Quốc. Ngời
dịch: Bác sỹ Hoàng Quý, Nhà xuất bản Y học
Hà Nội, tr 7 - 10.
7. Đỗ Công Huỳnh (1985). Phơng pháp
xác định huyệt bằng châm cứu. Tạp chí T liệu
Y học quân sự, Cục quân y, 2 (127), tr. 50 - 52.
8. Vũ Hữu Lợi (1998 - 1999). Đánh giá hoạt
động của hệ kinh lạc bằng xác định cờng độ
dòng điện và nhiệt độ 12 cặp huyệt nguyên. Kỷ
yếu các chơng trình nghiên cứu khoa học
1998 - 1999, Hà Nội.
9. Đinh Văn Mông dịch và giải nghĩa
(1988). Nạn kinh dịch giải. Bệnh viện Y học
dân tộc Đắc Lắc và Hội y học dân tộc thành
phố Hồ Chí Minh kết hợp xuất bản, tr. 117 -
126.
10. Lê Văn Sửu (1995). Chẩn đoán và theo
dõi điều trị bệnh bằng đo nhiệt độ kinh lạc. Nhà
xuất bản Y học Hà Nội.
43
TCNCYH 25 (5) - 2003
11. Nguyễn Thị Ngọc Thu (2001). Nghiên
cứu đặc điểm huyệt Thần môn và ảnh hởng
của châm cứu huyệt này lên điện não đồ và
một số chỉ số tuần hoàn. Luận văn thạc sĩ y
học, bảo vệ tại Đại học Y Hà Nội.
Summary
Study particular trait of temperature of 12
couples of Yuan point in adult