ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
TĂNG TUẤN ANH
Tên đề tài:
“NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ BỆNH TIÊN MAO TRÙNG
(TRYPANOSOMIASIS) Ở ĐÀN TRÂU TẠI HUYỆN CHIÊM HÓA,
TỈNH TUYÊN QUANG VÀ THỬ NGHIỆM PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo
Chuyên ngành
Khoa
Lớp
Khóa học
: Chính quy
: Thú y
: Chăn nuôi thú y
: 41 - TY
: 2009 - 2013
Thái Nguyên - 2013
i
LỜI CẢM ƠN
Được sự nhất trí của Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm
bị cho mình một lượng kiến thức về lý thuyết, mỗi sinh viên cần phải trải
qua giai đoạn thực tập thử thách về thực tế, tự mình trau dồi kĩ năng và đạo
đức. Chính vì vậy, thực tập tốt nghiệp là một khâu quan trọng đối với các
trường Đại học nói chung và Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên nói
riêng. Đây là thời gian cần thiết để mỗi sinh viên củng cố và hệ thống lại
các kiến thức đã học trong nhà trường, đồng thời giúp sinh viên làm quen
với thực tế sản xuất, nâng cao tay nghề, tích lũy kinh nghiệm chuyên môn,
áp dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn sản xuất, góp phần vào sự
phát triển của nền nông nghiệp nước nhà.
Xuất phát từ những lý do trên, được sự nhất trí của Ban Giám hiệu
nhà trường, Ban Chủ nhiệm Khoa Chăn nuôi Thú y – Trường Đại học
Nông Lâm Thái Nguyên, sự giúp đỡ nhiệt tình của thầy giáo hướng dẫn và
sự tiếp nhận của Trạm Thú y huyện Chiêm Hóa, em được về thực tập tốt
nghiệp tại cơ sở từ tháng 06 tới tháng 11/2013 với 2 nhiệm vụ chính:
+ Ứng dụng những kiến thức đã học vào thực tế sản xuất.
+ Thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh tiên mao
trùng (Trypanosomiasis) ở đàn trâu tại huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên
Quang và thử nghiệm phác đồ điều trị”.
Đến nay, thời gian thực tập đã kết thúc và khóa luận tốt nghiệp của
em đã hoàn thành. Do thời gian thực tập có hạn, kiến thức chuyên môn và
kinh nghiệm chưa nhiều nên kết quả báo cáo khóa luận này không tránh
khỏi những thiếu sót. Em kính mong nhận được sự giúp đỡ, thông cảm và
những góp ý quý báu của các thầy cô giáo, bạn bè để khóa luận của em
được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên
Tăng Tuấn Anh
: Vanant Glycoprotein Surface
ISG
: Invanant Surface Glycoprotein
VAT
: Variable Antigen Typet
IFAT
: Indirect Fluorecent Antibody Test
ELISA
: Enzym Linked Immunosorbent Assay
CATT
: Card Agglutination Test for Trypanosomiasis
iv
MỤC LỤC
Phần 1: MỞ ĐẦU ................................................................................... 1
1.1. Đặt vấn đề ........................................................................................ 1
1.2. Mục tiêu nghiên cứu ......................................................................... 2
1.3. Mục đích nghiên cứu ........................................................................ 2
2.2. Tình hình nghiên cứu về bệnh tiên mao trùng .................................. 30
2.2.1. Tình hình nghiên cứu trong nước ................................................. 30
2.2.2. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài .............................................. 32
Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU ............................................................ 35
3.1. Đối tượng và vật liệu nghiên cứu .................................................... 35
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu .................................................................. 35
3.1.2. Vật liệu nghiên cứu ...................................................................... 35
3.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu .................................................... 36
3.2.1. Địa điểm nghiên cứu .................................................................... 36
3.2.2. Thời gian nghiên cứu ................................................................... 36
3.3. Nội dung nghiên cứu ....................................................................... 36
3.3.1. Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh tiên mao trùng
(Trypanosomiasis) ở trâu tại huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên
Quang ..................................................................................... 36
3.3.2. Nghiên cứu về côn trùng môi giới truyền bệnh tiên mao trùng...... 36
3.3.3. Nghiên cứu phác đồ điều trị bệnh T. evansi cho trâu .................... 37
3.3.3.1. Xây dựng phác đồ điều trị bệnh tiên mao trùng cho trâu ............ 37
3.3.3.2. Đề xuất biện pháp phòng chống bệnh tiên mao trùng do T. evansi
gây ra cho trâu ở huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang ........... 37
3.4. Phương pháp nghiên cứu ................................................................. 37
3.4.1. Phương pháp thu thập mẫu ........................................................... 37
3.4.1.1. Phương pháp thu thập mẫu máu trâu ......................................... 37
3.4.1.2. Phương pháp thu thập mẫu côn trùng hút máu trâu (ruồi, mòng) 38
3.4.2. Phương pháp phát hiện tiên mao trùng trong mẫu ......................... 38
3.4.2.1. Phương pháp xem tươi (Direct smear) ...................................... 38
3.4.2.2. Phương pháp nhuộm Giemsa tiêu bản máu khô (Romanovsky)... 38
3.4.2.3. Phương pháp tiêm truyền động vật thí nghiệm........................... 39
vii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 4.1: Tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng ở trâu tại một số xã
thuộc huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang........................... 42
Bảng 4.2: Tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng ở trâu theo lứa tuổi ......................... 44
Bảng 4.3: Tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng ở trâu theo các tháng điều tra......... 46
Bảng 4.4: Sự phân bố và tần suất xuất hiện các loài ruồi, mòng ở
huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang ..................................... 47
Bảng 4.5: Biến động thành phần loài ruồi, mòng ở 3 xã thuộc huyện
Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang ................................................ 49
Bảng 4.6: Quy luật hoạt động theo tháng của các loài ruồi, mòng ở các xã
thuộc huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang............................ 50
Bảng 4.7: Quy luật hoạt động của các loài ruồi, mòng theo thời gian trong
ngày ở các xã thuộc huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang ..... 51
Bảng 4.8: Thử nghiệm thuốc điều trị bệnh tiên mao trùng cho trâu ........... 53
Bảng 4.9: Ứng dụng phác đồ có hiệu quả cao trong điều trị bệnh
tiên mao trùng cho trâu ở các địa phương thuộc huyện
Chiêm Hóa,...................................................... tỉnh Tuyên Quang 54
1
Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Bệnh tiên mao trùng (Trypanosomiasis) hay còn gọi là bệnh ngã nước
(do Trypanosoma gây ra) là bệnh do ký sinh trùng đơn bào (Protozoa) lớp
nuôi. Vì vậy, việc nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh và thử nghiệm phác đồ
điều trị bệnh là hết sức cần thiết.
Từ những yêu cầu thực tiễn trên, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài:
“Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh tiên mao trùng (Trypanosomiasis) ở
đàn trâu tại huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang và thử nghiệm phác đồ
điều trị”.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định các đặc điểm dịch tễ bệnh do Trypanosoma evansi gây ra
ở đàn trâu tại huyện Chiêm Hóa – tỉnh Tuyên Quang.
- Lựa chọn phác đồ điều trị bệnh tiên mao trùng có hiệu quả, phù hợp
với điều kiện chăn nuôi miền núi.
- Xây dựng quy trình phòng, trị bệnh, góp phần hạn chế những
thiệt hại do bệnh tiên mao trùng cho đàn trâu ở huyện Chiêm Hóa – tỉnh
Tuyên Quang.
1.3. Mục đích nghiên cứu
Giúp người chăn nuôi trâu hiểu biết thêm về bệnh tiên mao trùng do
Trypanosoma evansi gây ra, đồng thời khuyến cáo người chăn nuôi áp dụng
các biện pháp phòng và trị bệnh cho trâu có hiệu quả.
1.4. Ý nghĩa của đề tài.
1.4.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
Kết quả của đề tài là những thông tin khoa học về đặc điểm dịch tễ và
quy trình phòng chống bệnh tiên mao trùng ở trâu.
3
1.4.2. Ý nghĩa trong thực tiễn
Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học để khuyến cáo người chăn nuôi
áp dụng quy trình phòng, trị bệnh tiên mao trùng; nhằm hạn chế tỷ lệ nhiễm
và thiệt hại do Trypanosoma evansi gây ra; góp phần nâng cao năng suất
Giống phụ Schizotrypanum Chagas, 1909
5
Loài Trypanosoma (S) cruzi
Giống phụ Duttonella Chalmers, 1918
Loài Trypanosoma (D) vivax
Loài Trvpanosoma (D) uniform
Giống phụ Nalmomonas Hoare, 1964
Loài Trypanosoma (N) congolense
Loài Trypanosoma (N) siminae
Loài Trypanosoma (N) vanhogi
Giống phụ Trypanozoon Liihe, 1906
Loài Trypanosoma (T) brucei
Loài Trypanosoma (T) gambience
Loài Trypanosoma (T) rhodesiense
Loài Trypanosoma (T) equiperdum
Giống phụ Pycnomonas Hoare, 1964
Loài Trypanosoma (P) suis
Giống phụ Trypanosoma Gruby, 1843
Loài Trypanosoma evansi Steel, 1885
Trong các loài tiên mao trùng trên, có 7 loài được tổ chức dịch tễ quốc
tế (OIE) thông báo là có khả năng gây bệnh cho người và động vật có
vú, đó là: T. brucei, T. congolense, T. cruzi, T. evansi, T. gambiense, T.
siminae, T. vivax.
2.1.1.2. Đặc điểm hình thái, cấu tạo của tiên mao trùng
Tiên mao trùng T. evansi được xếp vào loại đơn hình thái, cơ thể chỉ
là một tế bào, có kích thước nhỏ, chiều dài 18 - 34 µm (trung bình là 25 µm),
chiều rộng 1,5 - 2µm. Cơ thể có hình suốt chỉ mảnh hoặc hình thoi, cuối thân
* Kháng nguyên ổn định (kháng nguyên không biến đổi)
Phần lớn các thành phần kháng nguyên tiên mao trùng không biến đổi
trong quá trình sống ký sinh. Bằng phương pháp điện di miễn dịch huyết
7
thanh thỏ tối miễn dịch với T. evansi, Kageruka (1982) đã phát hiện tới 30
thành phần kháng nguyên khác nhau. Có ba loại kháng nguyên không biến
đổi ở màng nguyên sinh chất tế bào (ISG: Invanant Surface Glycoprotein):
ISG 65, ISG 75 và ISG 100. Do cấu trúc không gian ba chiều và đặc tính ưa
nước, các loại này không kết hợp với kháng thể của vật chủ (Nolan, 1997).
* Kháng nguyên biến đổi
Về kháng nguyên biến đổi, cần đề cập đến sự biến đổi lớp vỏ bề mặt
VSG (Variant Surface Glycoprotein), những quan điểm mới về sự xuất
hiện kháng nguyên biến đổi của tiên mao trùng và cơ chế di truyền của
kháng nguyên biến đổi.
Nhờ kháng thể đặc hiệu được đánh dấu mà Vickerman và Luckins
(1969) đã phát hiện ra sự biến đổi của lớp kháng nguyên bề mặt. Cross
(1975) đã mô tả lớp áo bề mặt của tiên mao trùng có thành phần là
glycoprotein bao phủ toàn bộ bề mặt tế bào bằngmột lớp phân tử giống nhau
(mỗi tiên mao trùng có 107 phân tử). Lớp áo bề mặt này kích thích cơ thể
vật chủ tạo ra kháng thể đặc hiệu với từng type kháng nguyên biến đổi VAT
(Variable Antigen Type). Chỉ có kháng nguyên biến đổi mới có khả năng
kích thích vật chủ tạo miền dịch chủ động. Người ta ước lượng rằng, một
con tiên mao trùng có ít nhất vài trăm hoặc vài nghìn VSG, nghĩa là 5 - 10%
số gen của tiên mao trùng cung cấp cho kháng nguyên bề mặt này.
Nhiều tác giả nghiên cứu về miễn dịch học cho rằng, tiên mao trùng
biến đổi kháng nguyên bề mặt để né tránh miễn dịch đặc hiệu của vật chủ.
Tuy nhiên, Van Meirvenne (1975) cho biết, sự biến đổi kháng nguyên bề
không gây ra một cản trở hoạt hoá tự nhiên của các điểm biểu hiện gen này.
Cách thứ hai là, tập hợp lại các đoạn ADN khác nhau để tái tổ hợp gen, mà
việc tái tổ hợp này cho phép thay thế hoàn toàn hoặc từng phần gen; hoặc
việc thay thế diễn ra dựa vào sự chuyển đổi gen chứ không phải dựa vào tái
tổ hợp gen. Trường hợp này được diễn giải như sau: một gen hoạt hoá được
9
thay thế bằng bản sao chép của một gen khác. Do có sự thay thế một phần
của gen nên đã tạo ra loại gen phức hợp và đặc trưng.
2.1.2. Dịch tễ học bệnh tiên mao trùng
2.1.2.1. Phân bố của bệnh
Bệnh tiên mao trùng phân bố rất rộng, từ phía Tây sang phía Đông
bán cầu. Phía Tây bán cầu thuộc châu Mỹ, phía Đông bán cầu trải dài từ
châu Phi cho đến Philippine.
Theo Euzeby (1984), bệnh phổ biến ở trâu, bò, ngựa các nước nhiệt
đới ở châu Phi,châu Á và Nam Mỹ.
Ở châu Phi, bệnh trải dài từ Tây sang Đông, phía Bắc qua vùng sa
mạc Sahara, dọc theo bờ biển Atlantique Địa trung hải.
Bệnh tiên mao trùng xảy ra với tên gọi "bệnh Surra” ở Ả rập Saudi,
Yêmen, Sultanate, Ả Rập thống nhất, Thổ Nhĩ Kỳ, Israel, Syrie, Afganistan,
Pakistan.
Ở châu Á, bệnh xuất hiện ở Trung Á (thuộc Liên Xô cũ), Ấn Độ,
Malaysia, bán đảo Đông Dương, Trung Quốc, Indonexia, Philippine.
Ở châu Âu, bệnh xuất hiện ở Bungaria (nay đã được thanh toán), hiện
chỉ còn ở vùng Volga và Nam Capcase (Liên Xô cũ).
Ở châu Mỹ, bệnh xuất hiện ở Trung Mỹ, Nam Mỹ, đặc biệt phổ biến ở
Brazil, Mexico, Venezuela, Colombia.
Châu Úc cũng đã được xác định là có bệnh tiên mao trùng (Reid, 2002
mét chỉ có 26 loài). Ở vùng trung du (rừng thưa, độ cao không quá 500 mét
so với mặt nước biển có 27 loài; vùng đồi trọc chỉ có 9 - 11 loài; vùng rừng
núi ven biển phát hiện chỉ có 8 loài. Những loài mòng phổ biến ở tất cả các
vùng là: Tabanus rubidus, T. striatus, Chrysops dispar, Chrysozoma
assamensis.
Những loài mòng chỉ gặp ở vùng núi là: Tabanus flavistriatus, T.
fumifer, Chrysops vander. Miền Bắc nước ta có 4 loài ruồi hút máu, 2 loài phổ
11
biến ở tất cả các vùng là Stomoxys calcitrans và Liperosis exigua; 2 loài chỉ
thấy ở những vùng sinh cảnh đặc biệt: loài Bdellolarynx sanguinolentus (chỉ
xuất hiện ở vùng có độ cao dưới 1.000mét), loài Stomoxys indica (chỉ thấy ở
vùng núi Cẩm Thuỷ - Thanh Hoá).
Loài ruồi Stomoxys calcitran là loài ruồi có kích thước trung
bình 5 đến 8mm. đầu có mắt kép màu nâu óng ánh, trán rất rộng, chiều rộng
trán bằng ¼ chiều rộng của đầu, chiều rộng của trán giữa gấp 3 lần của trán
cạnh. Con cái chính giữa trán có một dải màu nhạt. Lông trán cạnh có hai
hàng trở lên. Ruồi có một vòi hút dài, cứng để châm hút. Khi đậu nghỉ thì
vòi chĩa về phía trước, khi đốt thì vòi chĩa xuống dưới làm thành góc thẳng
với đầu. Cánh có hàng lông mọc ở gần gốc, phía dưới gân không vượt quá
gân ngang. Bụng: mặt lưng vàng xám, có hai đốm nâu đen hoặc xanh đen ở
hai bên đốt thứ hai, thứ ba. Mặt dưới bụng vàng hơi nâu. Hai khiên lưng của
đốt bụng thứ ba, thứ tư có một vết ngang rõ rệt. Chân có đốt ống vàng hoặc
vàng nâu. (Phan Văn Chinh, 2006) [4].
Theo Phan Địch Lân (1983) [18] thì loài mòng Tabanus rubidus có
các đặc điểm sau:
Con cái:
Đặc điểm chung: Tabanus rubidus là loài mòng màu xám, xám hơi
màu vàng nâu đậm, lông vàng và lông đen.
Loài mòng Tabanus kiangsuesis là loài mòng to trung bình, màu nâu vàng
xám hoặc nâu vàng. Trán màu nâu ánh kim, chai trán gốc nối liền với chai
trán giữa hình thành gậy màu nâu đỏ, bong. Chai trán phụ, má, mặt màu
vàng xám. Râu miệng màu trắng vàng. Râu hàm dưới màu trắng vàng, lông
đen xen lẫn lông trắng. Anten màu nâu đỏ đầu cuối hơi sẫm. Mặt lưng của
ngực màu nâu đỏ sẫm, lông đen xen lẫn lông vàng, có ba sọc dọc màu nâu
xám nhạt. Màng cánh nâu nhạt, không có nhánh phụ. Chân màu đỏ nhạt.
Mặt lưng của bụng màu nâu đỏ xám. Từ đốt thứ nhất tới đốt thứ năm có một
13
đai dọc, giữa màu nâu vàng không rõ rệt lắm. Cạnh đai dọc giữa từ đốt thứ
nhất đến đốt thứ năm có đốm bên hình chữ nhật nằm chếch với đai giữa
cùng màu.( Phan Địch Lân, 1983) [18] ; (Phan Văn Chinh, 2006) [4].
Phan Địch Lân (1994 - 2004) [19] cho biết, kiểm tra ở nhiều địa điểm
thấy hai loài mòng T. rubidus và T. striatus mang tiên mao trùng với tỷ lệ
15,2% và 14,0%; ruồi hút máu Stomoxys calcitrans mang tiên mao trùng với
tỷ lệ 12,5%. Ở những vùng đang có bệnh tiên mao trùng, kiểm tra ruồi và
mòng hút máu dễ dàng tìm thấy tiên mao trùng. Sau khi theo máu vào vòi hút
ruồi và mòng, tiên mao trùng vẫn sống đến giờ thứ 53, thời gian hoạt động
mạnh nhất là từ giờ thứ nhất đến giờ thứ 34 trung bình là 24giờ. Sự hoạt động
của tiên mao trùng yếu dần từ giờ thứ 35 đến 42. Từ 46 - 53 giờ thì tiên mao
trùng ngừng hoạt động.
Hình thái tiên mao trùng khi ở trong vòi ruồi, mòng biến đổi theo thời
gian: từ 1 -34 giờ có hình thái, kích thước bình thường; 35 - 45 giờ: tiên mao
trùng có hình dạng thay đổi, tăng kích thước chiều rộng và thô dần; 46 - 53
giờ: tiên mao trùng trương to, duỗi thẳng, mất khả năng di động và ngừng
hẳn hoạt động.
trùng ở trâu, bò, dê, lạc đà. Từ cuối mùa thu, mùa đông và đầu mùa xuân,
trâu bò nhiễm tiên mao trùng phải sống trong điều kiện thời tiết lạnh, thiếu
thức ăn nên sức đề kháng giảm, bệnh thường phát ra vào thời gian này và
trâu bò bị đổ ngã hàng loạt. Tiên mao trùng có sức đề kháng yếu, dễ chết khi
tiếp xúc với nước cất, cồn và thuốc sát trùng.
2.1.3. Đặc điểm bệnh lý và lâm sàng của bệnh
2.1.3.1. Đặc điểm bệnh lý
Khi ruồi trâu, mòng đốt, hút máu và truyền tiên mao trùng vào trâu,
bò, ngựa, tiên mao trùng xâm nhập vào da, gây ra vết viêm trên mặt da.
Theo dõi có thể quan sát được phản ứng viêm ở da của thỏ, cừu, dê và bò
15
gây nhiễm thực nghiệm tiên mao trùng, kích thước chỗ viêm phụ thuộc vào
số lượng tiên mao trùng được tiêm truyền (ước chừng khoảng 108 tiên mao
trùng có thể gây viêm da - ở vị trí tiêm truyền), một số lượng lớn tiên mao
trùng phát triển ở tại chỗ viêm này.
Vào máu, tiên mao trùng nhân lên theo cấp số nhân ở trong máu,
trong bạch huyết và ở trong các mô khác của cơ thể vật chủ theo cách phân
chia theo chiều dọc. Số lượng tiên mao trùng trong máu không phải lúc nào
cũng như nhau. Mật độ tiên mao trùng thay đổi theo ngày. Biểu đồ sóng tiên
mao trùng cho thấy, xen kẽ giữa những sóng tiên mao trùng mạnh là những
đợt sóng yếu. Mỗi đợt sóng tiên mao trùng bắt đầu bằng sự tăng số lượng
tiên mao trùng trong máu, sau đó giảm và khó phát hiện thấy tiên mao trùng.
Mỗi đợt tiên mao trùng tăng lên trong máu là biểu hiện sự xuất hiện một
quần thể tiên mao trùng có tính kháng nguyên bề mặt mới, quần thể này có
thể tiếp tục sinh sản và tồn tại một thời gian cho đến khi cơ thể xuất hiện
kháng thể đặc hiệu với chúng.
Tiên mao trùng phát triển nhanh trong máu, tiêu thụ Glucose và các
tiên mao trùng, trâu bò thường đột ngột lên cơn sốt (40 - 41,7 C) kéo dài 2 4 ngày rồi giảm, thời gian sau nhiệt độ lại tăng lên. Thời gian gián đoạn giữa
hai cơn sốt dài hay ngắn tuỳ theo thể trọng con vật. Khi sốt, kiểm tra máu
thường thấy tiên mao trùng.
- Hội chứng thần kinh: ở một số trâu, bò khi lên cơn sốt còn thể hiện
hội chứng thần kinh như điên loạn, mắt đỏ ngầu, húc đầu vào tường, chạy
vòng quanh kêu rống lên. Trường hợp nhẹ thấy run rẩy từng cơn, mắt trợn
ngược rồi đổ ngã vật xuống, sùi bọt mép giống như trâu bị cảm nắng. Sau 20
- 30 phút con vật lại đứng dậy đi lại được. Những trâu bò mắc bệnh có triệu
chứng lâm sàng như trên thường là mắc bệnh ở thể cấp tính.
Trâu, bò bị bệnh mạn tính thường kéo dài, cơ thể suy yếu, liệt hai
chân sau, nằm tư thế quỳ và không đi lại được. Mặc dù nằm liệt nhưng vẫn
ăn và nhai lại cho đến khi sắp chết.
17
- Phù thũng dưới da: phù thũng thường thấy ở vùng thấp của cơ
thể như ở bốn chân (từ khớp khuỷu trở xuống), phần yếm, ngực, bộ phận
sinh dục.
- Viêm giác mạc và kết mạc mắt: triệu chứng này thấy ở hầu hết trâu,
bò bệnh. Mắt có dử trắng hay vàng, chảy liên tục, nếu nặng thì mắt sưng đỏ
ngầu. Khi khỏi bệnh, mắt có màng trắng (củi nhãn) kéo che kín giác mạc.
- Hội chứng tiêu hoá: một số trâu, bò bệnh bị ỉa chảy nặng, phân lỏng,
màu vàng, sau chuyển màu xám, có lẫn bọt và chất nhầy. Các đợt ỉa chảy
tiếp theo những cơn sốt cách quãng. Ỉa chảy trong bệnh tiên mao trùng
thường dai dẳng và con vật vẫn ăn được.
- Gầy yếu, suy nhược: ở thể bệnh cấp tính trâu, bò gầy sút nhanh, chỉ
sau 7 – 14 ngày từ khi phát bệnh con vật đã gầy rộc, mắt trũng sâu. Nếu
bệnh kéo dài thì con vật gầy xơ xác, lông dựng ngược, da khô nhăn nheo,