CHIẾN LƯƠC PHÁT TRIỂN THÀNH PHỐ
Từ tầm nhìn tới tăng trưởng và xóa ₫ói giảm nghèo
PHIÊN HỌP TOÀN THỂ IV:
TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ VIỆC LÀM
ĐÀO TẠO NHÂN LỰC VỚI TẦM NHÌN CHIẾN LƯỢC
PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ VIỆT NAM
PGS.TS.KTS. Trần Trọng Hanh
Hiệu trưởng Trường ĐH Kiến trúc Hà Nội 24 — 26 tháng 11 năm 2004
Hà Nôi, Viêt Nam
Chiến lươc Phát triển thành phố: Từ Tầm nhìn tới Tăng trưởng và Xóa ₫ói giảm nghèo
24-26 tháng 11 năm 2004/Hà Nôi, Viêt Nam
Phiên hop toàn thể IV: Tăng trưởng kinh tế và viêc làm Trần Trong Hanh- 1
I. Ý nghĩa của vấn đề
(1) Nguồn nhân lực là mục tiêu, động lực và nhân tố quyết định sự phát triển đô thị.
24-26 tháng 11 năm 2004/Hà Nôi, Viêt Nam
Phiên hop toàn thể IV: Tăng trưởng kinh tế và viêc làm Trần Trong Hanh- 2
II. Tăng trưởng đô thị và nguồn nhân lực cho các đô thị việt Nam
1. Tăng trưởng đô thị
(1) Tăng trưởng đô thị được hiểu đầy đủ là sự gia tăng dân số, tăng trưởng kinh tế và
không gian.
Chủ đề của tham luận này là tăng dân số và phát triển nguồn nhân lực ở đô thị.
(2) Trong những năm gần đây, mạng lưới đô thị Việt Nam đã không ngừng được mở
rộng và phát triển gồm 656 đô thị, trong đó có 2 thành phố loại đặc biệt, 2 thành phố
loại I, 12 đô thị loại II, 13 đô thị loại III, 50 đô thị loại IV và 570 đô thị loại V.
Theo cấp quản lý đô thị, cả nước có 4 thành phố trực thuộc TW, 82 thành phố, thị xã
thuộc tỉnh, còn lại là thị trấn thuộc huyện. Trên địa bàn cả nước đã và đang thành lập
trên 90 khu CN tập trung, 22 đô thị mới 18 khu và kinh tế cửa khẩu.
(3) Dân số đô thị liên tục gia tăng từ 11,87 triệu người năm 1986 lên 12,89 triệu người
năm 1995, 18,81 triệu người năm 2000, 19,48 triệu người năm 2001 và khoảng 20
triệu người năm 2003, nâng tỷ lệ đô thị hoá cả nước từ 19,3% (1986) lên trên 25%
(2003).
(4) Tăng trưởng dân số đô thị Việt Nam là kết quả của quá trình tăng dân số tự nhiên
và tăng dân số cơ học dưới sự tác động của quá trình phát triển kinh tế - xã hội.
Năm 1990, tỷ lệ tăng trưởng dân số đô thị là 2,41%, năm 1995 là 3,55% và năm 2001
là 5,07%.
Mức tăng trưởng trung bình của dân số đô thị của Việt Nam trong những năm gần đây
đã đạt tốc độ tăng trưởng trung bình của các nhóm nước có thu nhập trung bình thấp
(Bảng II.1.1).
Bảng II.1.1 Tỷ lệ đô thị hóa của các nước
Tỷ lệ đô thị hoá
(%)
Tỷ lệ tăng dân số (%)
TT
1994
1999
52.748
64.376
71.111
76.328
25.509
33.498
37.689
46.331
48.5
52.0
53.0
60.7
Nguồn: Tổng cục thống kê năm 1981&1991, 1995. Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 1999
(2) Kết quả tổng điều tra dân số năm 1979, 1989 và 1990 (Tổng cục Thống kê, 1981,
1991, 2002) cho thấy trong giai đoạn 1979 - 1989 trung bình hàng năm Việt Nam có
khoảng 1,35 triệu người gia nhập nguồn nhân lực và khoảng 350.000 người về hưu và
lao động trong độ tuổi lao động tăng trung bình 1 triệu người mỗi năm. Đối với giai
đoạn 1989 - 1994, con số tương đương là 1,45 triệu người, 380.000 nghìn người và
1,07 triệu người. Trong giai đoạn 1995 - 2000 các con số trên đạt tới 1,7 triệu người,
500.000 người và 1,2 triệu người.
(3) Nguồn nhân lực trên là tiềm năng thực tế. Tại khu vực đô thị tỷ lệ thất nghiệp còn
chiếm tỷ lệ cao: Năm 1996 là 5,88%, năm 1998 là 6,84%, năm 1999 là 7,40%, năm
2000 là 6,44% và năm 2001 là 6,28%.
III. Nhu cầu và định hướng đào tạo nguồn nhân lực với tầm nhìn “Chiến lược phát
triển đô thị Việt Nam”
1. Nhu cầu lao động
(1) Lao động hay còn là dân số hoạt động kinh tế phụ thuộc rất nhiều vào tỷ lệ tham
gia lao động của dân cư ở các ngành kinh tế. Theo phương pháp dự báo dân số cổ
(2) Chiến lược phát triển đô thị Việt Nam đến năm 2020, cho thấy nhu cầu lao động
đô thị Việt Nam cần được đào tạo, được xác định trên cơ sở tăng trưởng kinh tế với tỷ
lệ dân số tích cực chiếm khoảng 50 -52% như sau (Bảng III.1.1).
Bảng III.1.1 Nhu cầu lao động
Năm Tổng dân số
(1000 người)
Dân số trong độ tuổi
lao động (1000 người)
Lao động xã hội
(1000 người)
2000
2005
2010
2020
18805,3
21000,0
30400,0
46000,0
9.967
10.920
15.200
23.000
9.469
10.480
14.440
21.850
Dân số
đô thị
đạt 10% tổng lao động xó hội.
(3) Cơ cấu nguồn nhân lực của Việt Nam cũn lạc hậu. Trong phạm vi cả nước, lao
động nông nghiệp vẫn chiếm tỷ lệ cao. Trong khu vực đô thị, tỷ lệ lao động thuộc khu
vực sản xuất vật chất thuộc Khu vực I và Khu vực II cũng vượt trội so với tỷ lệ lao
động thuộc khu vực III. (Các ngành sản xuất phi vật chất).
3. Những vấn đề chủ yếu đối với việc đào tạo phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam.
(1) Đào tạo chưa gắn với thị trường lao động: Cơ cấu nguồn nhân lực theo trình độ kỹ
thuật chuyên môn và giữa các loại kỹ thuật, chuyên môn còn mất cân đối nghiêm
trọng
(2) Chất lượng đào tạo còn bất cập, thiếu chuẩn mực về chất lượng đào phù hợp với
từng hoàn cảnh và điều kiện.
(3) Đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý chưa ngang tầm, trong đó có nguyên nhân
của việc tuyển dụng, đào tạo và bổ nhiệm.
(4) Chương trình, nội dung đào tạo còn nặng về hình thức, chưa tham gia vào quá
trình hội nhập quốc tế
.
(5) Việc xây dựng thương hiệu của các cơ sở đào tạo chưa được coi trọng
(6) Cơ chế tự chủ của các trường cũng hạn chế, đặc biệt là tự chủ tài chính, kế hoạch
đào tạo và biên chế nhân sự.
(7) Phân bố các trung tâm đào tạo còn phân tán. Cơ sở vật chất phục vụ đào tạo nguồn
nhân lực còn yếu kém nhưng Nhà nước cũng thiếu cơ chế tạo nguồn lực phát triể
n.
4. Những định hướng đào tạo nguồn nhân lực phục vụ chiến lược phát triển đô thị
(1) Cơ cấu hệ thống giáo dục Việt Nam (Hình III.4.1).
Chiến lươc Phát triển thành phố: Từ Tầm nhìn tới Tăng trưởng và Xóa ₫ói giảm nghèo
24-26 tháng 11 năm 2004/Hà Nôi, Viêt Nam
Phiên hop toàn thể IV: Tăng trưởng kinh tế và viêc làm Trần Trong Hanh- 6
Bảng III.4.1 Hệ thống giáo dục của Việt Nam
Đào tạo nghề
(1-2năm)
Trung học phổ thông
(4 năm)
Trung học dạy nghề
Tiểu học (5 năm)
Mẫu
g
iáo (3-5tuổi)
Nhà trẻ (3tuổi)
Dạy nghề
Đào tạo thường xuyên
Giáo dục đại học
18 tuổi
15 tuổi
11 tuổi
6 tuổi
3-4 tuổi
Chiến lươc Phát triển thành phố: Từ Tầm nhìn tới Tăng trưởng và Xóa ₫ói giảm nghèo
24-26 tháng 11 năm 2004/Hà Nôi, Viêt Nam
Phiên hop toàn thể IV: Tăng trưởng kinh tế và viêc làm Trần Trong Hanh- 7
Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội đang được Bộ Nội vụ giao nhiệm vụ xây
dựng chương trình khung đào tạo lĩnh vực này.
Trong đào tạo lưu ý coi trọng bồi dưỡng về kiến thức, kỹ năng và thái độ ứng
xử để cán bộ thuộc chính quyền đô thị có đủ năng lực đảm nhiệm được các
nhiệm vụ quản lý và phát triển đô thị theo công thức sau: • Bồi dưỡng kiến thức và tăng cường cung cấp thông tin cho cộng đồng, nhằm
• Đào tạo nâng cao kiến thức và tăng cường vai trò của cộng đồng, dân cư đô thị.
• Đào tạo phát triển nguồn nhân lực cho người nghèo trong khu vực đô thị.
(5) Chính phủ chỉ đạo việc xây dựng chương trình đào tạo nguồn nhân lực cho các đô
thị, quy hoạch sắp xếp lại mạng lưới Trường gắn với chiến lược phát triển đô thị quốc
gia và QHXD các đô thị, đồng thời có cơ chế, chính sách để các trường phát triển theo
hướng tự chủ.